SANH  TỬ

 

Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận
Bát nhă tâm kinh
Tâm kinh

KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT

DL 2000 - PL 2544

 

 

 

Dẫn nhập:

Kiến Tánh Thành Phật là tác phẩm của Thiền sư Chân Nguyên, soạn vào đời Hậu Lê. Phần đầu sách là lời Tiểu Dẫn và Lời Tựa, phần trong sách nói về Kiến tánh thành Phật là phần chánh, phần này nói thẳng về Thiền, v́ Thiền tông chủ trương tu là phải kiến tánh mới thành Phật. Nhưng tại sao trong sách Kiến Tánh Thành Phật dạy tu Thiền mà nói về pháp môn tu Tịnh độ? Và, ngài Chân Nguyên lập ra đài Cửu phẩm liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm, chùa Hoa Yên, chùa Linh Ứng để làm ǵ? - Trong sách có hai phần: phần một chỉ thẳng để cho người tu kiến tánh thành Phật, phần hai là phần phương tiện nhằm để thích hợp với tŕnh độ căn cơ của người b́nh dân, Ngài dạy tu niệm Phật cầu văng sanh. Đó là nói sơ lược qua nội dung quyển sách.

 

 

 

 

 

 

 

                                                    Kiến tánh thành Phật

 

 

 

 

 

 

 

 A. CHÁNH VĂN

I- LỜI TIỂU DẪN

KHẮC IN LẠI SÁCH KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT

Sách này đặt tên “Kiến Tánh Thành Phật”, nghĩa là sao? Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được lư thật của nó. Như kinh nói: “V́ muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến Phật.” Người nhận thấy lư đó th́ có thể thành Phật. C̣n mê nó th́ ta cũng không hề mất. Bởi Tự tánh sâu lắng, Bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại một ḿnh, cao vượt thoát không ǵ ngoài. Mới biết, tất cả hàm linh đều có đủ đức tánh Như Lai, do v́ chúng sanh chướng sâu tuệ cạn, nên dùng hằng ngày mà chẳng tự thấy. Vậy nên Đức Năng Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh luân hồi măi nơi khổ thú, một ḷng v́ việc cứu khổ mà dạy cho họ minh tâm kiến tánh. Cũng như nhà Nho chúng ta v́ “thành đức” dạy cho người cùng tột lư tánh, chỉ là một đạo lư thôi.

Tôi có một người bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta mang tên Tỳ-kheo, từ lâu đă kết chặt nghiệp tập huân nhiễm, tự bỏ của cải nhà ḿnh đi làm khách lang thang, chẳng hay biết châu báu trong áo, không lạ ǵ chẳng thấy tánh! Dù có mà người chẳng khéo nhận thấy Tự tánh ấy mới ngầm khiến bậc Tiên đức tŕnh thuật lại sách này. Bởi chẳng biết ḿnh có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời răn nhắc: “Khi nói đến tâm tánh th́ trừng mắt nh́n nhau?”

Bản sách này, tôi được Trưởng lăo Chính giám viện chùa Vĩnh Nghiêm tặng cho. Cuối lời tựa thấy có ghi: “Đời Lê, niên hiệu Chính Ḥa thứ 19 (1698), in tại chùa Long Động”, th́ biết khoảng cách từ đời Trần đến đời Hậu Lê ít có người nhận được tông chỉ vậy.

Tổ sư Tuệ Đăng của chúng tôi sợ rằng càng lâu càng thất truyền, nên Ngài biên soạn tập sách này, cùng lời biện biệt để chỉ bày. Hăy xem bài tựa ban đầu, lời đơn sơ mà đầy ư vị, chất phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật vừa khuyên người, lại mở bày nghĩa ẩn chứa sâu kín, nói th́ gồm cả phước hữu vi, lời th́ mang đầy hương vị kiến tánh. Đó là nghĩa tiếp nối bậc Thánh từ trước, mở mang cho người về sau.

Song, với người đồng đạo khi thưởng thức ư vị sách này, hoặc có nhận lấy được điều ǵ, th́ cũng như một phen trợ giúp cho việc đi xa, lên cao, chớ cho rằng sách này không thể học theo mà phủ nhận đi. Đời nay đă cách xa, lời nói cũng bị mai một, sách này chẳng c̣n được lưu hành, nên nương theo bản cũ kính cẩn khắc in lại để truyền rộng ra. Nhưng bản cũ nét chữ đơn giản và cẩu thả, nay có tạm sửa lại cho đúng. Pháp sự này đă hoàn thành, tạm mượn ít lời vụng về để tỏ bày duyên khởi, đâu dám nói là Lời tựa!

Chùa Pháp Vũ, cuối thu năm Đinh Dậu

Hậu học Tỳ-kheo Diệu Trạm

Kính ghi

Bản được cất giữ tại chùa Pháp Vũ, thôn Quảng Nội, xă Đồng Lại, tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Mùa an cư kiết hạ, tại am Lan-nhă Thiền Dược, bên mé Đông chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, Ḥa thượng Tuệ Đăng Chân Nguyên hiệu san.

II- TỰA

“Kiến Tánh Thành Phật” là liễu ngộ xưa nay không một vật. Nguồn linh rỗng lặng, trong sáng tṛn đồng cả thái hư. Pháp tánh bao trùm, nghiễm nhiên ánh sáng soi suốt nơi sát hải, rơ ràng lồ lộ ngay trước mắt. Bản tánh Như Lai tự như mà ứng hiện trên trời dưới đất, nên hay tùy loại, tùy h́nh, hoặc cơi này phương khác thị hiện ra đời độ thoát quần sanh. Khai quyền th́ phương tiện có muôn pháp, hiển thật th́ hội ngộ về một tâm. Trỏ Phật quả Bồ-đề vô tướng, vốn rỗng lặng tṛn đồng thái hư. Phó pháp ấn tâm tông Bát-nhă lộ bày bốn mắt nh́n nhau. Trong kinh Lăng-già, quyển hai, đức Phật Thích-ca đă chỉ bày rành rơ. Hàng hậu học ai c̣n ngờ vực xin hăy mau t́m Kinh tra cứu, tự nhiên nghi ngờ hết sạch mà được chứng thật, đốn ngộ kiến tánh thành Phật. Cần biết diệu lư của Phật pháp, chẳng dính dáng ǵ đến văn tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hí luận, bản tế trong lặng tṛn đầy, ba đời chư Phật cuối cùng đành ngậm miệng không lời, nhiều đời Tổ sư rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng. Nên đức Thế Tôn giơ cành hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha Ca-diếp khế hội mỉm cười, thầy tṛ bốn mắt nh́n nhau, tuệ nhăn chiếu sáng lẫn nhau, thầm lặng ấn tâm, phó pháp truyền y nối vị Tổ.

Tâm ấn Bát-nhă tṛn đồng cả thái hư chân không tỏ rơ, xưa nay vẫn như thế. Từ hai mươi tám vị Tổ Tây thiên truyền đến sáu vị Tổ Đông độ, chỉ thẳng nối tiếp nhau, bốn mắt nh́n nhau, im lặng nh́n trừng trừng, gượng gọi là tâm ấn mà phó chúc đó thôi.

Đến các Tổ đời sau ứng hiện ra đời, giúp nêu cao việc giáo hóa, diễn rộng pháp môn, mở rộng phương tiện. Việc ứng duyên đă xong, nguyện lực c̣n để lại, Ngữ lục chợt hưng thạnh, đều lập thành công án, khai sơn dạy chúng, gậy hét dạy đuổi, câu câu về nơi tông, cơ cơ chung một lư.

Hàng thượng căn lănh ngộ th́ được cơ đại hành đại dụng, bậc cao sĩ biết suốt th́ rơ pháp vô trụ vô vi. Song người người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền, phải xét rơ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của Tổ, muôn đuốc ngàn đèn chỉ một ngọn lửa. Nếu người căn cơ bén nhạy bậc thượng th́ hội thông muôn pháp thảy ở nguồn tâm. Nếu người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên th́ thích theo phép thức t́nh phân biệt, luống mở to cửa ngơ, t́nh c̣n hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu, trái với ư chỉ vô sanh. Bởi do chưa xét tột trí tự nơi ḿnh, nên c̣n bị người lừa dối, ch́m đắm nơi giáo nơi tông, tranh luận nhân ngă, phân biệt kia đây, nghĩ t́m kẽ hở mà công kích lẫn nhau, nhà ḿnh nhà người, đấu lư tranh lời giành hiểu biết. Ai c̣n như thế là chưa vượt khỏi pháp trần phiền năo, chưa lănh hội Chân như b́nh đẳng, ngă chấp pháp chấp chẳng quên, thức thần khư khư chấp cứng, sẽ măi măi ch́m đắm nơi tông giáo. Ai hay nơi dốc đứng buông tay, mới đáng gọi đích thật trượng phu, xưa nay một vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch. Đó là chỗ gọi: “Mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt, được mất phải quấy, thảy đều buông hết, âm thanh sắc pháp, vốn từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi vào đường tà.” Cho nên nói: “Pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng không thấy. Tánh không tức là Phật, chẳng thể nghĩ lường được.” Tông chỉ Bát-nhă vốn ngộ không chỗ được mà được. Từ xưa đến nay không có kiến chấp sai khác, nguồn chân trong lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng vô vi, thể vọng như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên liền có tên có chỗ.

Ḥa thượng Chân Nguyên là người quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, trước kia c̣n đồng tử đi xuất gia theo Phật, lên thẳng chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được ư chỉ tông ấn ḍng Trúc Lâm với Thiền sư Chân Trú hiệu Tuệ Nguyệt. Không bao lâu Thiền sư Chân Trú nghiễm nhiên trở về không (tịch). Sư lại gặp thiện tri thức chung nhóm ba huynh đệ, đồng chí hướng, đồng tu tập, đồng giới phẩm, tham học thành tài.

Sư y cứ kinh Phạm Vơng, Như Lai đă phó chúc: “Nếu trong khoảng ngàn dặm có bậc Đại tông sư, phải mau đến ân cần cầu xin thọ giới Bồ-tát.” Ví như lầu cao bốn tầng phải theo thứ lớp đi lên. Cũng vậy bốn đàn giới phẩm có thể lên tới địa vị Phật. Sư lại là người học rộng thấy trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục tổ Huệ Năng đă được ấn kư ở Hoàng Mai, rồi gặp nhiều hoạn nạn chưa kịp đăng đàn thọ giới, sau đó cũng thỉnh chư Tăng đồng đến chứng cho cạo tóc, thọ giới mới được tṛn sáng. Nếu thật là đệ tử Phật không được trái bỏ vượt qua. Như Lai đă nói, quyết phải thuận theo. Ngày trước đă có việc như trên, ngày nay đâu không việc này. Muốn được quả thù thắng, phải tuân theo điều này mà vâng làm. Sư chuẩn bị đầy đủ ca-sa, tọa cụ, pháp phục, sắm lễ vật với tâm thành, v́ pháp vượt xa xôi thẳng đến chùa Vĩnh Phúc trên núi Tôn Côn Cương, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, một lần nữa đảnh lễ Tôn sư Minh Lương, tức Ḥa thượng Măn Giác truyền pháp tông Lâm Tế, thỉnh cầu lên đàn thọ giới Bồ-tát. Trong kinh Phật nói: bởi người đắc đạo vốn do nhân duyên từ nhiều kiếp đă ngộ sâu Chân như mà cảm kích đến Phật Tổ.

Sư xúc động than rằng: “Phật xưa sớm được công quả cao siêu, do siêng tu thắng hạnh đầu-đà. Hương hoa muôn vật là ngoại tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân Phật khó đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả!” Sư bèn cung kính đối trước tượng Phật dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện: “Trước đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền đáp ân sâu của Phật Tổ, Sư trưởng.” Sau Sư đốt tiếp một ngón tay nữa: “Nguyện đem pháp cúng dường này, nương theo kinh Phạm Vơng thọ giới Bồ-tát và thẳng lên mười đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời đời tiếp nối đèn tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ. V́ tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng lên Tổ Điều Ngự. Tùy nguyện của chúng hữu t́nh, mà cảm đến trí vô lậu.”

Sư dốc chí cầu quả Phật Vô thượng Bồ-đề nên nhiếp niệm nơi núi rừng, ở yên chốn vắng vẻ, tư duy Phật pháp, mở rộng qui mô to lớn, c̣n măi với trời đất, gầy dựng nền tảng cho tông và giáo, quần sanh được lợi lạc, pháp giới đều thấm nhuần ân đức. Sư từng chọn nơi phúc địa Việt Nam, với cảnh chùa Quỳnh Lâm, Hoa Yên là hai cảnh danh lam, khiến trở thành như trên hội Linh Sơn nước Tây Thiên Trúc, là cột trời ở Việt Nam, bảo phường của Phật Tổ, nêu cao đây là Cực Lạc.

Người dân thường th́ thuế vụ đầy đủ, làm Thích tử tu hành th́ đốt hương chúc Thánh: “Mạch nước lâu dài, Thiền tông sáng rỡ, tượng pháp lưu truyền, độ người vô lượng.” Từ đó Sư hăng hái phát chí nguyện lớn, khuyến hóa mọi người khắp nơi đem tiền của kết duyên lành, góp phần công đức, rồi ra sức tạo dựng đài “Cửu Phẩm Liên Hoa”. Qua chín năm th́ hoàn thành ba đài ở ba nơi:

1. Đài Cửu phẩm ở chùa Quỳnh Lâm, núi Tiên Du.

2. Đài Cửu phẩm ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.

3. Đài Cửu phẩm ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.

Sư lại khắc in các kinh Pháp Hoa... đem hết ḷng làm Phật sự để đền đáp ân Phật. Tượng đức Di-đà nổi bật trên đài Cửu phẩm, và thêm tu sửa tượng điện, gác chuông chùa Long Động, trong ngoài được vuông tṛn, công đức viên măn, cũng không quên nguyện lực, quyết chí công phu chỉ cầu quả Phật. Núi Yên Tử vốn là chỗ tu hành, tùy thời dạo đi qua lại chùa Hoa Yên, Long Động và am Thiền Dược, được thú ở yên lặng lẽ, lại có phước duyên sanh ra gặp được Phật pháp.

Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa (1680-1705), đức Giác Hoàng Cổ Phật sanh trở lại để mở bày hiển rơ tạng Kinh. Mây từ nhuận khắp, mưa pháp thấm đều, từ hàng Thích tử cho đến muôn dân đồng được hưởng ân huệ. Vua tôi mừng tụ hội, đúng thời tiết nhân duyên, Phật pháp hiện tiền. May được chứng quả mà gánh vác Phật pháp, thay Phật tuyên dương. Đă rơ biết Pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tṛn đồng thái hư; Chân như trong lặng nhiệm mầu, vốn không một vật. Tuy trong ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày có nhiều cửa. Xét ngày xưa có thực hành, ngày nay mới có thể học theo. V́ vậy kinh Kim Cang phần ba mươi hai, hội giải câu “như như bất động”, Thiền sư Xuyên Lăo nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời bốn mắt nh́n nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân.” Đáng bảo là sông ng̣i toàn đóng băng, nước chẳng thông thoát; tột mắt đều là gai góc, không chỗ đặt chân. Đến trong ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích. Chẳng phải v́ đoạn dứt yếu tân, bởi do người biết pháp e ngại. Tuy nhiên như thế, Phật pháp chỉ như trên đây, bèn thấy trên đất bằng chết ch́m, đâu có đèn đèn mồi sáng măi. Thượng tọa Xuyên ngày nay chẳng khỏi đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt châu dưới hàm rồng dữ, mở toang cửa mầu của bậc Thánh trước, người hậu học có lối tiến thân. Buông ra một đường, lại đâu có ngại? Nói th́ toàn bày pháp thể, nín th́ riêng lộ chân thường, động th́ chiếc hạc mảnh mây, tịnh th́ an non sắp núi, tiến một bước như voi chúa xoay đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống, pháp vương pháp lệnh đang hành, liền hay tự tại đối với pháp. Chỉ như một câu rốt sau, làm sao nói? Lại nói được chăng?

Mây ở đầu non nhàn quá đỗi,
Nước chảy dưới khe rất rộn ràng.

TỤNG:

Được chỗ thảnh thơi hăy thảnh thơi,
Mây tự bay cao nước tự trôi.
Chỉ thấy mây đen nhồi sóng lớn,
Thuyền câu ch́m đắm chửa nghe rồi.

Âm:

Đắc ưu du xứ thả ưu du,
Vân tự cao phi thủy tự lưu.
Chỉ kiến hắc vân phiên đại lăng,
Vị văn trầm khước điếu ngư chu.

Xưa nay không lối nào khác, người thông suốt th́ cùng chung một đường. Chư Phật đều có để phương tiện, vốn thuật lại chí nguyện tiếp nối công phu. Tâm mong người trở thành rường cột cho Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau soi xét noi theo. Tôi theo khắp các kinh trong Đại tạng, mở bày tâm địa ra nơi từ chương (chữ nghĩa) mà soạn thành một bản luận lưu truyền, đặt tên là “Kiến Tánh Thành Phật”.

Nhằm nêu rơ nguyện lực ra đời, và giúp lo gánh vác sứ mạng Như Lai, đời đời tiếp nối ngọn đèn Phật Tổ, làm sáng rực con mắt của trời người. Đời sau ai là người có chí lớn, giữ ǵn gia phong của Phật, pḥ tŕ tượng pháp an ổn lâu dài, th́ phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Hoặc kẻ thấy đài Cửu phẩm hư đổ và các kinh bản cũ mục, th́ hăy khuyến hóa đàn-na, cùng nhau góp sức hưng công tu bổ lại, tự rất mừng vui cho ḿnh, thật đă làm được nhân duyên tốt đẹp. Nếu hay hết ḷng đền đáp ân Phật, sẽ sớm được Di-đà thọ kư.

Kệ cảnh tỉnh đàn-na:

Quyến thuộc đều bỏ đi,
Tiền của trả lại người.
Chỉ căn lành ǵn giữ,
Đường hiểm lương thực đầy.

Âm:

Quyến thuộc giai xả khứ
Tài hóa tán hoàn tha
Đản tŕ tự thiện căn
Hiểm đạo sung lương thực.

Nghĩ đến lạnh hăy lo dệt áo ấm, chớ đợi sau khi đă lạnh. Nghĩ đến khát hăy lo đào giếng, chuẩn bị trước khi chưa khát. Lo sẵn cầu đ̣, làm phước niệm Phật, in kinh tạo tượng, như gấm thêm hoa, lấy làm công án văng sanh Tây phương, cửu huyền thất tổ cùng chung được vượt lên chín phẩm hoa sen nơi thế giới Cực Lạc. Kinh nói: “Ḿnh được độ rồi độ người, tự lợi rồi lợi tha, người đă biết tỏ bày cho người chưa biết, người giác trước chỉ dạy cho người giác sau.” Như một trăng hiện thành các trăng nơi ngàn sông, trăng trăng rọi sáng rực; tợ một ngọn đèn mồi truyền cho đèn nơi muôn nhà, đèn đèn nối tiếp sáng măi. Chính quyển luận này là Tâm tông của Phật Tổ. Chính quyển luận này là Kiến tánh thành Phật. Diệu lư của luận này như tia lửa mặt trời, được chừng một mảy tơ th́ sáng rỡ không cùng tận. Xem học mà ngộ đạo th́ như uống nước cam lồ. Người lượng cao quán sâu th́ suốt tột đáy nguồn của pháp.

Hội rằng:

Bủa lưới giăng ngang sông,
Được cá một mắt lưới.
Kinh lục đầy pháp giới,
Ngộ đạo không một chữ.

Âm:

Hội vân

La vơng bố hoành giang,
Đắc ngư nhất mục vơng.
Kinh lục măn pháp giới,
Ngộ đạo vô nhất tự.

Bản tánh rỗng lặng, tṛn đồng thái hư, trong lặng nhiệm mầu và tṛn sáng, trọn không một vật. Nên biết, ngàn kinh muôn luận đều là lời nói chỉ mặt trăng, đâu ích ǵ với lư này. Tin tức ấy như thế! như thế! Rơ biết muôn pháp, tạm đồng với hoa đốm trong không. Nếu là bậc thượng cơ, ngại ǵ một tiếng cười!

Bài kệ ngộ đạo:

Phật Tổ trong ba đời,
Bốn mắt cùng nh́n nhau.
Xưa nay không hai lối,
Thành Phật sát-na thôi.

Âm:

Tam thế chư Phật Tổ,
Tứ mục cộng tương quan.
Cổ kim vô nhị đạo,
Thành Phật sát-na gian.

Đó là chân không vô tướng, là cha mẹ của trời đất muôn vật, làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay, chẳng sanh chẳng diệt. Mây tụ th́ tối mà chân không chưa từng tối. Mặt trời soi th́ sáng mà chân không chưa từng sáng. Ẩn hiển cùng  bày, sắc không chẳng hai, trời đất muôn vật, chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô vi. Chợt hiện ra mặt thật xưa nay, ĺa danh ĺa tướng, mở toang then chốt trên đảnh môn hướng thượng, đèn tâm của Phật Tổ truyền sáng măi không cùng tận. Khi hiển mà nói, th́ có tám muôn pháp môn. Với mật mà ngộ, th́ chỉ bốn mắt nh́n nhau.

Tôn kính chúc rằng:

Quốc gia có măi, ngôi báu kim luân cùng với trời đất c̣n hoài.
Phật đạo không cùng, nối Tổ truyền tông đồng với Thứu Phong chẳng mất.

Kính đề tựa.

Trường thủy, hàng hậu học truyền giữ Tổ thiền, Thích tử Trương Viết Đức tự Tính Phương giữ bản này.

Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa thứ 19 (1698), ngày lành mùa Đông năm Mậu Dần khắc in lại.

Bản khắc in lưu trữ tại chùa Long Động, núi Yên Tử, nay lại dời ra lưu trữ tại chùa Quỳnh Lâm để cho người sau hiểu rơ.

Thích tử Chân B́nh ghi chép.

III- KỆ KIẾN TÁNH

Một điểm rỗng rang thể vốn không,
Muôn điều tạo hóa ấy cơ đồng.
Bao la thế giới ngoài trời đất,
Lặng ánh hàn quang cơi cơi trong.
Ở Thánh chẳng thêm phàm chẳng bớt,
Vuông tṛn tùy món mặc dung thông.
Ngh́n sông nước lắng trăng in bóng,
Hoa nở khắp nơi rực sắc hồng.

Âm:

Nhất điểm hư vô thể bản không,
Vạn ban tạo hóa giá cơ đồng.
Bao la thế giới càn khôn ngoại,
Trạm tịch hàn quang sát hải trung.
Tại Thánh bất tăng phàm mạc giảm,
Phương viên tùy khí nhậm dung thông.
Thủy trừng nguyệt hiện thiên giang ấn,
Sắc ánh hoa khai đại địa hồng.

Hỏi: - Thế nào là Phật?

Đáp: - Phật là tiếng Phạn ở Ấn Độ, Trung Hoa dịch là Giác. Giác tức là Bản tánh linh giác. Song Bản tánh linh giác này vốn chân thật rỗng rang và trong lặng (chân không trạm tịch), tṛn đồng với thái hư, nghiễm nhiên sáng rỡ, trùm khắp cả pháp giới. Bản tánh ấy, hay ứng cơ tiếp vật, nhướng mày chớp mắt, giơ tay giở chân, chỉ một thể tṛn sáng, mà sáu căn vận dụng th́ Tánh giác này ứng hiện. V́ vậy, trong kinh Lăng-già quyển hai, Phật bảo Đại Huệ và các Bồ-tát rằng: “Pháp tánh không tịch, vốn không có ngôn thuyết. Ngôn thuyết đều do bốn thứ tướng vọng tưởng mà dấy lên.” Thế nào là bốn thứ vọng tưởng? Phật bảo Đại Huệ: Một là tướng ngôn thuyết, hai là mộng ngôn thuyết, ba là quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết, bốn là vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết.

- Tướng ngôn thuyết, nghĩa là từ chính ḿnh vọng tưởng chấp trước nơi sắc tướng mà sanh.

- Mộng ngôn thuyết, nghĩa là cảnh giới đă trải qua ở trước, rồi theo đó nhớ nghĩ lại mà sanh, từ khi thức dậy rồi, cảnh giới không tánh mà sanh.

- Quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết, nghĩa là do oán hận mà tạo nghiệp ở trước, theo đó nhớ nghĩ lại mà sanh.

- Vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết, nghĩa là từ chủng tử tập khí do lỗi chấp trước hư ngụy từ vô thủy mà sanh.

Nhân có bốn thứ tướng ngôn thuyết vọng tưởng mà sanh khua môi uốn lưỡi, rồi động đến hai mảnh da khiến phát ra lời nói. Nếu không có bốn thứ tướng vọng tưởng ngôn thuyết, tức là cội nguồn thường lạc ngă tịnh, một tánh tṛn sáng, muôn đức đầy đủ.

Lại phần Giải Kư nói: Đây là tướng ngôn thuyết vọng tưởng. Nghĩa là vọng thấy h́nh dáng nam nữ, thân thể, vẻ mặt, thanh sắc tốt xấu, và tất cả của cải, đồ đạc, mọi tướng đẹp xấu v.v... vọng khởi phân biệt mà có ngôn thuyết, gọi là tướng ngôn thuyết. Lại nhân mộng thấy cảnh giới đă trải qua ở trước, sau khi tỉnh dậy nhớ nghĩ lại, vọng chấp phân biệt việc lành dữ, tốt xấu, hơn kém... gọi là mộng ngôn thuyết. Song do nhớ nghĩ ḿnh người, oán thân, yêu ghét, lấy bỏ ở trước mà tạo thành nghiệp, rồi vọng sanh phân biệt mà có ngôn thuyết, gọi là quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết. Hoặc từ vô thủy đến nay, thức thứ tám gồm chứa tự tướng hí luận, chủng tử tập khí, kích thích mạnh mẽ nên sanh phân biệt, gọi là vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết. Tất cả ngôn thuyết chẳng ra ngoài bốn thứ này. Do vọng tưởng làm nhân cho ngôn thuyết, nên ĺa ngoài bốn thứ này th́ không có nói năng, không chỗ nói năng, tức là chân thật đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế tức là chân không vô tướng, tṛn đồng thái hư, lặng lẽ vô sanh.

Bấy giờ ngài Đại Huệ và các Bồ-tát đem nghĩa này hỏi Thế Tôn: Ngưỡng mong Thế Tôn nói thêm về cảnh giới do ngôn ngữ vọng tưởng hiện ra. Thế nào là chỗ nhân duyên chúng sanh vọng tưởng mà có ngôn thuyết sanh?

Phật bảo ngài Đại Huệ và các Bồ-tát: Nghĩa là từ tám chỗ: đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, lợi, răng ḥa hợp mà phát ra tướng âm thanh ngôn thuyết.

Lại phần Giải Kư nói: Đây là chỉ bày tướng ngôn ngữ âm thanh. Nghĩa là ngôn ngữ của chúng sanh phát ra, do bốn thứ vọng tưởng trước làm nhân và tám thứ đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, lợi, răng ở sau làm duyên, nên có ngôn thuyết.

Nhưng theo Lăo Tử th́ nói: “Trong khoảng trời đất, giống như ống bễ ḷ rèn, rỗng mà chẳng cong, động th́ càng phát ra.” Đây là nghĩa vọng tưởng duyên khí, gió thức thổi động, vô cớ mà phát ra. Hiện thấy ở thế gian, trong việc ứng dụng hằng  ngày, một niệm vọng khởi th́ ba nghiệp khắp dấy lên, mười điều ác hăng làm th́ tám gió thổi bay, nói năng kia đây trùng trùng điệp điệp.

Xét theo đó th́ biết, tướng ngôn ngữ ở trong cơi chúng sanh là từ bốn thứ vọng tưởng mà sanh, rồi kia đây sân si cũng từ ngôn thuyết như thế.

Đến như thần thông của Phật, th́ lời nói tợ âm thanh tiếng trống trời, ngay thẳng từ bi, vi diệu ḥa nhă. Ngài diễn nói pháp có sáu mươi bốn thứ tiếng Phạm âm, vang xa khắp cả mười phương, mọi chúng sanh đều vui thích, nghe tiếng ngộ đạo, đồng được giải thoát, tức chẳng phải lời nói từ bốn thứ vọng tưởng.

Phật bảo ngài Đại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn thuyết, nghĩa là như lông rùa sừng thỏ..., thế gian hiện thành ngôn thuyết. Đại Huệ! Chẳng phải tánh, chẳng phải phi tánh, chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, ngôn thuyết có tánh, có tất cả tánh, luận ông ắt hoại.

Phần Kư nói: “Đây là nói các pháp tuy không, mà chẳng ngại ngôn thuyết.”

Đời Đường lại dịch là: “Tuy không các pháp, mà cũng có ngôn thuyết. Đâu chẳng hiện thấy lông rùa, sừng thỏ, con của người thạch nữ v.v..., ở trong đó người đời đều khởi ra ngôn thuyết. Nó chẳng phải có chẳng phải không, mà chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, v́ có ngôn thuyết nên có các pháp, nếu không có các pháp th́ không có ngôn thuyết. Hiện nay sừng thỏ... tuy không có mà chẳng ngại có lời nói. Xét theo đó th́ nghĩa của ông chẳng thành.” V́ vậy nói luận của ông ắt hoại, tỏ ngộ các pháp vốn không, do duyên tụ hội mà sanh. Đă do duyên hội mà sanh, th́ sanh vốn không, dù nói nhân nơi duyên kia sanh, cũng là giả danh. Đây là Pháp tánh vô sanh, ngôn từ cùng lặng, năng sở đều quên, trong lặng thường trụ, không có lời nói.

Thế nên đức Thích-ca Thế Tôn lên pháp ṭa, tự tại không lời, im lặng giây lâu, chính là yếu chỉ trên đây. Đại sư Đạt-ma chín năm ngó vách, ngồi nghiêm trang không nói, cũng đúng như lư này. Người trí quán sâu liền chứng nơi chân thật không tịch. Do đó, thế ngàn non đến đỉnh th́ dừng, muôn sự tiêu về thể th́ b́nh.

Thế Tôn lại bảo ngài Đại Huệ và các Bồ-tát: “Chẳng phải tất cả cơi nước đều có dùng ngôn thuyết. Ngôn thuyết là Như Lai tùy theo chúng sanh ở cơi Ta-bà. Bởi giáo thể ở phương này dùng âm thanh và nghe, nên giả tạm làm ra văn tự, chương cú, ngôn từ th́ kinh giáo mới được an lập. Ngoài ra những thế giới của chư Phật khác, th́ diệu lư của Phật pháp chẳng liên quan đến văn tự, chẳng dùng ngôn thuyết. Hoặc có cơi Phật dùng mắt nh́n xem mà hiển bày tỏ ngộ Pháp tánh. Hoặc có cơi làm ra tướng, hoặc có cơi nhướng mày, hoặc có cơi chớp mắt, hoặc có cơi mỉm cười, hoặc có cơi hơi há miệng, hoặc cơi cười nói, hoặc cơi nhớ nghĩ cơi nước, hoặc cơi lay động... dùng những pháp như thế mà bày cơ lộ tánh, thảy đều là Phật sự, tiếp hóa chúng sanh.”

Đời Đường lại dịch: “Hoặc có cơi Phật trừng mắt nh́n mà hiển bày pháp, hoặc cơi hiện tướng khác, hoặc nhướng mày hoặc chớp mắt, hoặc hiện mỉm cười, hoặc hơi há miệng, cười nói nhớ nghĩ, lay động... dùng những việc như thế mà hiển bày pháp, khiến mọi quần sanh tỏ ngộ Bản tánh.”

Phật lại bảo Bồ-tát Đại Huệ: “Hăy xem thế giới này những loài chúng sanh như ruồi, muỗi, trùng, kiến v.v... không có ngôn thuyết mà đều làm xong việc, đâu đợi có ngôn thuyết mới hiển bày pháp ư?”

Điều đó chứng tỏ, chẳng những các pháp không tánh, hơn nữa ngôn ngữ cũng tánh không. Nghĩa là tướng các pháp vốn tịch diệt, chẳng thể dùng lời nói tỏ bày. Phật Tổ từ trước đến chỗ cùng cực, chỉ bốn mắt nh́n nhau, im lặng ấn chứng. Đạo vô ngôn được truyền ra, bắt nguồn từ chỗ thấy như trên. V́ vậy, ngài Lâm Tế, Đức Sơn gậy hét truyền dạy. Ngưỡng Sơn tướng tṛn, Thạch Củng giương cung, Đạo Ngô múa hốt... Các vị Tổ sư đều cùng chung chứng đến chỗ sâu xa. Đây là chánh định ĺa lời nói. Nghĩa là núi sông quả đất chung chuyển pháp luân căn bản, loài vảy, mai, lông, cánh khắp hiện sắc thân tam-muội. Thế nên trong chỗ thường dùng hằng ngày của chúng sanh, th́ cửa sáu căn đều là chỗ nhập lư ngộ đạo, đâu hoàn toàn phải đợi ngôn thuyết! Nên đức Thế Tôn đưa cành hoa chỉ cho chúng, ngài Ca-diếp khế hội tâm Phật mỉm cười. Phật trước Phật sau chỉ dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.

Hỏi: - Nếu chẳng lập văn tự, lấy ǵ làm tâm?

Đáp: - Ông hỏi tôi tức đó là tâm ông. Tôi đáp ông, tức là tâm tôi. Nếu ông không tâm, nhân đâu biết hỏi tôi? Nếu tôi không tâm, nhân đâu biết đáp ông? Chính ngay khi ông hỏi tôi, tức là tâm ông. Tâm này từ vô thủy kiếp cho đến hiện giờ, mọi hành động, tạo tác, ở trong tất cả thời cũng như ngay đây, đối diện hiện dùng, tùy cơ thu buông, đối đăi thưa hỏi, chẳng phải tánh là ǵ? Cái ǵ thưa hỏi đây? Nói năng đó là cái ǵ? Cái ǵ hay biết hỏi? Đây chính là tánh linh giác căn bản nơi chính ḿnh của mọi người. Tánh tức là tâm, tâm tức là Phật, Phật tức là đạo, đạo tức là Thiền. Thiền nghĩa là kiến tánh. V́ vậy đưa cành hoa mỉm cười, hội được tông yếu đó là Thiền. Bốn mắt nh́n nhau, lănh nhận ư chỉ, đó là Thiền. Thiền là lặng lẽ, lặng lẽ nhưng thường soi sáng, soi sáng nhưng thường lặng lẽ, thanh tịnh trong lặng nhiệm mầu, tṛn đồng thái hư, trọn không một vật, ứng dụng tự tại; thể tự không tịch, gọi đó là Thiền, gọi đó là Giác.

Do tâm thường giác nên gọi Đại Giác Thế Tôn, cũng gọi Giác Vương Như Lai hay gọi là chủ hư không. Tức tâm là Phật, trọn không có Phật khác. Tức Phật là tánh, trọn không có tánh khác. Như nắm tay làm thành do bàn tay, tợ nước thành sóng. Sóng tức là nước, bàn tay tức là nắm tay. Nên kinh Hoa Nghiêm nói:

Nếu người muốn rơ biết,
Ba đời tất cả Phật.
Nên quán tánh pháp giới,
Tất cả chỉ tâm tạo.

Âm:

Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật.
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.

Lại nói: Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ này đều không sai khác. Tất cả Phật pháp, Tự tâm sẵn có, thôi đem tâm t́m kiếm bên ngoài, bỏ cha chạy đi lang thang. Tiếng Phạn gượng gọi Phật, Trung Hoa nói là Tánh giác. Tánh này chẳng ĺa thân ta, nếu người đốn ngộ được cội gốc, người này sẽ chóng được thành Phật.

Thế nào là cội gốc?

Chỉ dạy rằng: - Cội gốc chính là tâm tánh linh giác của mọi người. Tâm này là cội nguồn của chư Phật, là đất tánh của chúng sanh. Đất th́ sản sanh muôn vật, ngàn muôn cây cối, cành lá hoa quả, mỗi mỗi đều nhân nơi đất mà sanh. Tâm bao gồm muôn pháp, trăm khéo ngàn hay, huyền cơ diệu lư, mỗi mỗi đều từ tâm dựng lập. Tâm là biển của muôn pháp, từ nơi thật tế mà ứng hóa ra. Tánh là gốc của muôn hạnh, tùy nơi một tâm mà biến dùng. Tuệ giải tṛn thông, linh minh đầy đủ, gồm trọn muôn pháp chỉ một lư, xuyên suốt muôn thuở chỉ một tâm. Buông ra th́ lấy một làm nhiều, thu lại th́ lấy nhiều làm một. Nên lập một tâm làm tông, mở ra th́ có nhiều cửa vô tận. Mới nói: “Ba cơi chỉ là tâm, muôn pháp chỉ là thức, một niệm chẳng sanh, các duyên chóng dứt.” Ngộ diệu lư nơi Bản tâm th́ tội phước đều không, mê viên minh của Tự tánh th́ thiện ác đều ngại. Ngàn ḍng sông riêng khác mà đồng nguồn, muôn xe sai biệt mà đồng lối ṃn; tất cả muôn pháp đều về một tâm, tâm sanh th́ mọi thứ pháp sanh, tâm diệt th́ mọi thứ pháp diệt. Do đó các ngôi sao đều chầu về hướng Bắc, muôn ḍng sông trọn chảy về Đông, hà sa diệu pháp thảy ở nguồn tâm, đạo pháp hiện tiền, một tâm đầy đủ. Nên biết, ngàn pháp muôn pháp, Phật Phật, Tổ Tổ từ trước chỉ lấy tâm truyền tâm, chữ “bát” mở toang; lấy tâm ấn tâm, bốn mắt nh́n nhau, hơn năm ngàn tám trăm quyển, tám mươi bốn ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện, đều từ một chữ tâm ấy lưu xuất, dựng lập. Dù đem tre bằng núi Tu-di làm bút, lấy nước bốn biển cả làm mực, viết một chữ tâm này vẫn chẳng hết. Kinh nói: “Diễn nói một chữ mà cả biển mực khó chép hết.” Vô lượng thu lại làm một, một buông ra thành vô lượng. Song thái hư dù rộng mà chẳng thể bao gồm thể kia; mặt trời, mặt trăng tuy sáng mà chẳng thể sánh với ánh sáng kia. Tâm ấy rộng bao cả thái hư; tánh ấy, lượng trùm khắp pháp giới, tṛn lặng sáng rực, không có Đông, Tây, Nam, Bắc, không có bốn phía, trên dưới, không vật có thể sánh, gượng gọi là tâm. Buông ra th́ lớn không ǵ ngoài, thu lại th́ nhỏ không ǵ trong. Bởi tâm vương ẩn hiện, gồm chứa tất cả người vật, trước trời đất, suốt xưa nay, một ḿnh tồn tại, một ḿnh chiếu soi, không h́nh không tướng, không xanh, vàng, đỏ, trắng, không vuông tṛn, dài ngắn, không đầu đuôi trước sau, không kiếp số, bờ mé, giống như hư không, không có mặt mày có thể nói phải quấy. Tuy không xanh, vàng, đỏ, trắng, vuông tṛn, dài ngắn, nhưng hay hiện ra xanh vàng đỏ trắng, vuông tṛn dài ngắn.

Cho nên Thiền sư Xuyên Lăo nói:

Ma-ha Đại pháp vương,
Không ngắn cũng không dài.
Xưa nay không đen trắng,
Tùy chỗ hiện xanh vàng.

Âm:

Ma-ha Đại pháp vương,
Vô đoản diệc vô trường.
Bản lai vô táo bạch,
Tùy xứ hiện thanh hoàng.

Pháp tánh vốn tùy duyên, sắc không đều chẳng ngại. Vào sông th́ tùy khúc uốn quanh; nước th́ thuận theo vật vuông tṛn. Như hạt châu ma-ni, ánh hiện ra năm màu, tùy loại đều hiện, trọn chẳng biến đổi. Dù không h́nh tướng mà hay hiện thành tất cả tướng, chân không mà diệu hữu, bất biến mà tùy duyên. Chân không là ban đầu của tánh, diệu hữu là ban đầu của khí. Nên biết, núi sông, quả đất, sum la vạn tượng, t́nh với vô t́nh, cho đến niệm thô, niệm tế, pháp nhiễm, pháp tịnh, không một vật, một trần nào ra ngoài tâm vương. Đây là diệu hữu.

Lại nói: - Chẳng phải không, chẳng phải sắc, ứng hóa thành muôn thứ mà chẳng ĺa một chân thật. Tâm vương là thể như như, trong lặng thường trụ; vốn tự viên thành, dường như hư không; ứng vật hiện h́nh, như trăng trong nước. Nghĩa là tâm vương hay ứng hiện vào trong các loài, nên nói là thức ḥa hợp. Bản tánh tâm vương như gương tṛn lớn hiện các thứ h́nh sắc. Tâm vương vốn không h́nh tướng, tuy không h́nh tướng mà hay hiện thành tất cả các tướng, nhưng lại chẳng nhiễm tất cả các tướng. Tướng đến th́ hiện, tướng đi th́ mất, tướng tụ th́ có, tướng tan th́ không; tướng tuy có đến đi, tụ tan mà tâm vương vốn tự trong trẻo thường lặng lẽ. Như gương tṛn lớn hay hiện tất cả vật, tuy hay hiện tất cả vật mà chẳng nhiễm tất cả vật; vật đến th́ hiện, vật đi th́ mất, vật có đến đi hiện mất, nhưng gương vốn tự sẵn vậy chẳng động. V́ vậy đem gương tṛn dụ tâm vương. Song tâm vương chẳng nhiễm các vật, xưa nay thanh tịnh, trong lặng thường trụ, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, không một vật, không thể nắm bắt. Nên nói Pháp thân thanh tịnh tức là tánh của mọi người, Báo thân viên măn tức là trí của mọi người, Hóa thân ngàn trăm ức tức là hạnh của mọi người.

Pháp thân thanh tịnh là sẵn thanh tịnh như vậy, là chí tôn từ bao thuở, thấy biết rất nhiệm mầu, không ǵ sánh ngang, trong lặng chân thật thanh tịnh, không h́nh không tướng, gọi đó là Pháp thân thanh tịnh. Pháp thân tuy không h́nh không tướng mà hay hiện tất cả h́nh tướng. Đă thành các h́nh tướng th́ gọi đó là Ứng thân. Ứng thân th́ có thiện ác, tốt xấu, tùy theo nghiệp báo mà thọ lấy thân. Nghiệp báo thiện tức có tướng tốt, nghiệp báo ác tức có tướng xấu. Tùy nơi nghiệp báo mà thọ lấy thân, gọi là Báo thân. Báo thân, nghĩa là thân nghiệp báo một đời. C̣n Ứng thân tức là thân ứng hiện ra. Sao gọi là thân ứng hiện ra? Tức nhân nghiệp báo cảm thành mà ứng hiện ra có thân, gọi đó là thân báo ứng. Nghĩa là Pháp thân hay ứng vào Sắc thân, ứng nơi mắt thấy sắc, ứng nơi tai nghe tiếng, ứng nơi mũi ngửi mùi, ứng nơi lưỡi đàm luận, ứng nơi thân cảm xúc, ứng nơi ư biết pháp, cho đến giơ tay động chân đều là Ứng thân.

Hội rằng:

Vốn là một tinh minh. Chia thành sáu ḥa hợp. Thu sáu ḥa hợp lại, vốn là một tinh minh.

Lại nói: Sao gọi là Hóa thân? Đă vào Ứng thân, đi đứng nằm ngồi, thấy nghe hiểu biết, làm mọi thứ việc lành, cho đến trăm ngàn pháp môn, phương tiện diệu hạnh, tùy cơ biến hóa, ứng dụng không cùng, gọi đó là Hóa thân. Tuy riêng có ứng và hóa, cũng  đều từ Pháp thân lưu xuất nên nói: Ba thân vốn chính là một thân. Kinh nói: “Hàng thượng căn rơ được một, th́ muôn việc đều xong.” Nếu như c̣n ngờ vực, hăy nghiệm xét cho tường tận nơi lư.

Bởi Chân Phật th́ không h́nh, Chân kinh th́ không quyển, bao la pháp giới, tṛn đồng thái hư, chẳng thêm chẳng bớt, không thiếu không dư, người người sẵn đủ, kẻ kẻ viên thành, Bản tánh Di-đà, Chân kinh Bát-nhă, kho báu nhà ḿnh, nguyên là vật tự có. Song tánh đạo không khác, sắc và không nhất như, viên dung cả pháp giới, đối diện ở trước mắt, ứng vật hiện h́nh như trăng trong nước.

Kệ nói:

Chẳng biết báu trong áo,
Vô minh say tự tỉnh.
Trăm hài đều ră tan,
Một vật vững sáng măi.

Âm:

Bất thức y trung bảo,
Vô minh túy tự tỉnh.
Bách hài câu hội tán,
Nhất vật trấn trường linh.

Áo là Sắc thân, báu là Tự tánh. Trước kia Lục tổ Huệ Năng đốn ngộ Tự tánh, tâm châu linh bảo, bèn đáp với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn rằng: “Tất cả muôn pháp chẳng ĺa Tự tánh!”

Đâu ngờ Tự tánh vốn tự thanh tịnh!
Đâu ngờ Tự tánh vốn chẳng tự sanh diệt!
Đâu ngờ Tự tánh vốn tự đầy đủ!
Đâu ngờ Tự tánh hay sanh muôn pháp!

Hội rằng:

Tánh đủ mọi lư mà ứng với muôn sự.

Hỏi đáp đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Tham học đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Tụng kinh đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Niệm Phật đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Nói năng đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Gậy hét đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Cơ duyên đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Thế Tôn giơ cành hoa đó là ǵ? - Chỉ là Tự  tánh.

Ngài Ca-diếp mỉm cười đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Lâm Tế hét, Đức Sơn đánh, Ngưỡng Sơn tướng tṛn, Thạch Củng giương cung, Đạo Ngô múa hốt, cơ duyên của chư Tổ đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Bốn mắt nh́n nhau đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Trưởng lăo Câu Chi đưa ngón tay, giơ nắm tay đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Lâm Tế phủi tay áo liền đi đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Khai hoa kết ấn đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Đi đứng ngồi nằm đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Thấy nghe hiểu biết đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Ăn cơm ăn cháo đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Uống nước uống trà đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Đắp y ôm bát đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Nói năng hỏi đáp đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Tạo tác, làm việc đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Im im xét tư duy, nói nói động miệng đó là ǵ? - Chỉ là Tự tánh.

Mật thu lại th́ không dấu vết, hiển buông ra th́ không cùng tận. Bởi lược bày các cơ chỉ dạy, song đối với diệu lư khó đem nói hết. Cần biết mặc áo ăn cơm, nói năng đối đáp, sáu căn vận dụng, gậy đánh miệng hét, quát mắng khảy tay, đánh phách thổi sáo, tiếng tăm cười nói, cho đến gánh nước bửa củi, nơi nơi toàn bày lư diệu; vo gạo thổi lửa, chỗ chỗ thảy hiện chân cơ. Trăm khéo ngàn hay, cơ huyền lư diệu, tất cả hành động trọn là Tự tánh của mọi người hiển hiện ứng dụng.

Tỏ rơ rằng:

Trước kia đă có việc như trên, ngày nay đâu không việc này! Xưa nay thấy tánh thành Phật, chung ngộ Tâm tông Bát-nhă. Tướng mộc tuổi tác chẳng đồng, tánh hỏa trước sau như thế. Ai biết ví dụ này, trí tuệ thật rộng sâu. Pháp tánh hằng không, vốn không số kiếp. Trước sau chỉ một lư, người thông suốt đồng một đường. Cần biết, một tánh linh chân, trong lặng như thái hư; Sắc thân năm uẩn thật như mộng huyễn. Quả là trên đảnh môn đủ mắt, liền biết trên hư không không có hoa. Phật ở Tự tâm, chớ t́m kiếm nơi người được. Nên trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo, Tổ Điều Ngự nói:

Rơ Chân như, tin Bát-nhă, chớ c̣n t́m Phật Tổ tây đông.

Chứng thật tướng, đạt vô vi, đâu nhọc hỏi kinh thiền nam bắc.

Khiến người người phản bản hoàn nguyên, cho kẻ kẻ hồi quang tự ngộ. Chỉ chín chắn quán xét sâu xa, rơ được tột người người là Phật, ngộ Tâm tông Phật Phật là người. Xin hăy đều thẳng đó thừa đương, chớ chạy đuổi bên ngoài t́m kiếm!

Kệ rằng:

I-

Ngàn kinh muôn luận trỏ tâm tông,
Bốn mắt trừng nhau mắt tuệ thông.
Ba thuở Như Lai truyền pháp ấn,
Một tâm là Phật sẵn vậy đồng.

Âm:

Thiên kinh vạn luận chỉ tâm tông,
Tứ mục trừng giao tuệ nhăn thông.
Tam thế Như Lai truyền pháp ấn,
Nhất tâm thị Phật bản nhiên đồng.

II-

Ngộ tâm thành Phật không thừa pháp,
Mê tánh bôn ba kiếm ngoài tâm.
Một niệm rỗng thênh siêu bản tế,
Giống hệt rửa chân lên mũi thuyền.

Âm:

Ngộ tâm thành Phật vô dư pháp,
Mê tánh bôn ba tâm ngoại cầu.
Nhất niệm khuếch nhiên siêu bản tế,
Hoàn như tẩy cước thướng thuyền đầu.

III-

Che trời che đất đây tâm báu,
Không cổ không kim Tự tánh châu.
Giá trị càn khôn chưa dễ trả,
Sáng ngời pháp giới vẫn hằng như.

Âm:

Cái thiên cái địa ngô tâm bảo,
Vô cổ vô kim Tự tánh châu.
Giá trọng càn khôn thù vị đắc,
Linh quang pháp giới nghiễm nhiên như.

IV-     

Tâm ta, tâm Phật vốn không hai,
Nhiều kiếp nổi ch́m chỉ tại mê.
Nay đă tỏ tường ḿnh tự nhận,
Linh quang lặng chiếu ấy Bồ-đề.

Âm:

Ngă tâm bản dữ Phật tâm tề,
Lịch kiếp phiêu trầm chỉ vị mê.
Kim nhật phân minh tương tự nhận,
Linh quang tịch chiếu thị Bồ-đề.

V-

Gượng gọi là Phật, gượng nói tâm,
Pháp tánh sáng tṛn suốt cổ kim.
Thượng trí siêu quần xoay tự ngộ,
Như vầy mới hiểu đạo cao thâm.

Âm:

Cưỡng danh vi Phật cưỡng xưng tâm,
Pháp tánh viên minh tuyên cổ kim.
Thượng trí siêu quần hồi tự ngộ,
Năng như thị giải đạo cao thâm.

VI-

Đạt-ma Tây đến một chữ không,
Toàn y tâm địa để dụng công.
Chín năm ngó vách không lời nói,
Một sớm truyền tâm Huệ Khả thông.

Âm:

Đạt-ma Tây lai nhất tự vô,
Toàn bằng tâm địa dụng công phu.
Cửu niên diện bích vô ngôn thuyết,
Nhất đán truyền tâm Huệ Khả sư.

VII-

Một điểm đèn tâm đuốc tuệ sanh,
Truyền nhau bốn mắt đă phân rành.
Nối hương tiếp lửa luôn sáng măi,
Soi khắp đất trời độ hữu t́nh.

Âm:

Nhất điểm tâm đăng tuệ cự sanh,
Tương truyền tứ mục thái phân minh.
Liên phương tục diệm quang vô tận,
Phổ chiếu càn khôn độ hữu t́nh.

VIII-

Chân Phật, chân kinh thảy ở tâm,
Kho báu nhà ḿnh chớ chạy tầm.
Có ai thử hỏi đâu là Phật?
Ngay khi hỏi đáp tại mắt, âm (lời).

Âm:

Chân Phật chân kinh tổng tại tâm,
Tự gia bảo tạng mạc tha tầm.
Hữu nhân thí vấn Phật hà tại,
Ứng đối đương thời tại nhăn âm.

IX-

Chân kinh chẳng đổi vốn như thường,
Chưa từng mở miệng hiện tỏ tường.
Nghĩ toan nắm bắt lầm qua mất,
Một chữ vô sanh thẳng thừa đương.

Âm:

Chân kinh bất dịch bản như thường,
Vị tằng khai khẩu hiển đường đường.
Bất khả nghĩ tŕ sai thác quá,
Vô sanh nhất cú trực thừa đương.

X-

Không văn không chữ đấy chân kinh,
Một quyển trường không quá phân minh.
Miệng nói c̣n xa ba ngàn dặm,
Tai nghe thêm tiến chục vạn tŕnh.

Âm:

Vô văn vô tự thị chân kinh,
Trường không nhất quyển thái phân minh.
Khẩu tuyên thượng cách tam thiên lư,
Nhĩ thính tăng dao thập vạn tŕnh.

XI-

Chân Phật chân kinh vốn một đồng,
Tịch quang tṛn lặng suốt hư không.
Thật tế nhất như gồm mọi lư,
Tạm bày muôn pháp độ quần mông.

Âm:

Chân Phật chân kinh bản nhất đồng,
Tịch quang viên trạm đẳng hư không.
Thật tế nhất như bao chúng lư,
Quyền khai vạn pháp độ quần mông.

XII-

Lư mầu Phật pháp không văn tự,
Cơ huyền đạo Tổ chẳng ngữ ngôn.
Rộng tiếp người sau thông một tuyến,
Thượng căn mắt thấy đạo tâm c̣n.

Âm:

Phật pháp diệu lư vô văn tự,
Tổ đạo huyền cơ mạc ngữ ngôn.
Hoằng tiếp hậu lai thông nhất tuyến,
Thượng căn mục kích đạo tâm tồn.

XIII-

Tâm tông Bát-nhă ai lănh ngộ,
Rơ ràng Tự tánh tức Như Lai.
Kẻ kẻ viên thành đồng chứng Phật,
Người người đầy đủ chẳng cầu ai.

Âm:

Bát-nhă tâm tông thùy lănh ngộ,
Liễu minh Tự tánh tức Như Lai.
Cá cá viên thành đồng chứng Phật,
Nhân nhân cụ túc bất cầu ai (tha).

XIV-  

Kinh, lục trùng trùng phương tiện biển,
Cơ duyên Phật Tổ lưới giáo bao.
Một tông vô trụ tâm ấn Phật,
Muôn pháp hữu vi bọt nước xao.

Âm:

Kinh, lục trùng trùng phương tiện hải,
Phật Tổ cơ duyên giáo vơng bao.
Vô trụ nhất tông Phật tâm ấn,
Hữu vi vạn pháp thủy phù bào.

XV-

Ba thuở Như Lai truyền diệu chỉ,
Hai người bốn mắt đối nh́n nhau.
Nguồn linh nước pháp sa giới chảy,
Đuốc tuệ sáng thông cơi cơi nào.

Âm:

Tam thế Như Lai truyền diệu chỉ,
Nhị nhân tứ mục nhăn tương giao.
Linh nguyên pháp thủy lưu sa giới,
Tuệ chúc quang thông sát hải dao.

Cho nên Tổ sư Đại Huệ nói: “Học đạo vốn không nhiều pháp, chỉ lấy tin ngộ Tự tánh làm khuôn phép. Đời nay nếu chẳng lănh ngộ cũng gieo được trí Bát-nhă trên đất tánh, đời đời chẳng rơi vào đường ác, kiếp kiếp chẳng mất thân người, chẳng sanh vào nhà tà kiến, chẳng vào loài quân ma, mầm linh giống trí, đồng tử đi xuất gia, theo Phật tu hành, một nghe ngàn ngộ.” Giả sử tham học như trên mà chưa triệt, vẫn kết chủng duyên Phật; tu mà chưa thành, c̣n hơn quả trời người. Chúng sanh phải gắng sức tự độ, Phật chẳng thể độ. Nếu chẳng thật tâm tu hành, bền giữ trai giới, mà ngưỡng trông Phật đến cứu độ, không có lẽ ấy. Nếu tự ḿnh chẳng đoạn trừ nghiệp ác, cứ đợi Phật khác đến cứu độ, th́ chư Phật quá khứ đă thành đạo, ứng hiện nơi đời số như vi trần, sao chẳng độ hết tất cả chúng sanh? V́ sao chúng ta c̣n trôi nổi nơi biển khổ sanh tử đến nay, chẳng thể thành Phật? Phải biết tự tu, tự độ, Phật chẳng thể độ. Nên biết, phân nửa ở Phật, phân nửa ở ta, xét cho tường tận lư này. Hăy gắng sức tự tu chớ ỷ lại vào tha lực.

Xưa đức Phật Bổn sư Thích-ca Thế Tôn đinh ninh dặn ḍ: Phật c̣n tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật vào Niết-bàn lấy Giới làm thầy. Phật tức là tâm, tâm tức là Phật. Tự tánh xưa nay rỗng lặng tṛn sáng, trong lặng nhiệm mầu, như như đó là chân Phật của ta, dẫu Phật ở đời cũng không có lư khác. Nên biết người có trí phải lập chí, phước tuệ song tu, Chân như riêng chứng. Niệm niệm từ bi, cửa cửa lợi ích, thường nói diệu pháp Bát-nhă, phương tiện tiếp dẫn người sau. Người chưa ngộ th́ chỉ bày cho tỏ ngộ, nếu chưa thành mong khiến cho chóng thành. Kinh nói: Tài thí như ngọn đèn chỉ soi sáng một căn pḥng, pháp thí như mặt trời sáng đầy khắp mười phương. Tự tánh nếu mê, phước làm sao cứu? Thân người khó được, Phật pháp khó gặp, Thánh tăng khó thấy, chánh pháp khó nghe, ḷng tin khó sanh, bạn lành khó hội ngộ. Phước duyên kim cải, mừng đă hợp nhau. May thay như rùa mù gặp được bộng cây. Chúng ta bỏ sự nghiệp đi xuất gia nên cầu việc ǵ? Chớ tham đắm danh lợi, phải chọn bạn t́m thầy, v́ pháp quên ḿnh, lội nước trèo non, kính lễ thưa hỏi.

Hỏi: Thế gian không việc khó, thế gian có hai việc khó. Thế nào là hai việc khó?

Dạy rằng: Sanh từ đâu đến? Chết rồi đi đâu? Đây là hai việc thật rất khó. Song này các người, do hai việc này mà bỏ sự nghiệp đi xuất gia, lội suối trèo non, tham t́m minh sư, bạn tốt, cúi đầu lễ bái thưa hỏi: Kính mong Đại đức từ bi, mở rộng phương tiện chỉ bày cho sáng tỏ lư này, sớm được ngộ đạo.

Hỏi: Trước khi trời đất và cha mẹ chưa sanh, cái thân người này sanh từ đâu đến?

Đáp: Vốn từ vô vi đến.

Lại hỏi: Người sanh ra ở đời, đến khi số hết, chết đi về đâu?

Đáp: Lại từ vô vi đi.

Gượng nói đến đi, mà thật không có đến đi. Thế nào là thật không có đến đi? - Chỉ kinh Bát-nhă làm chứng, nói: “Tướng không của các pháp đó, chẳng sanh chẳng diệt.” Sanh diệt đă không, th́ đến đi đâu có. Đây là khí âm dương biến hóa, ngưng tụ thành h́nh mà người sanh ra. Sắc thân bốn đại dụ như ḥn bọt nổi, có sanh có diệt. C̣n Pháp thân tṛn sáng th́ rỗng rang, rộng lớn, đích thật là biển tánh Tỳ-lô, không có lay động, vốn không từ đâu đến, cũng không đi về đâu, tánh đồng với hư không, biết khắp mọi nơi. V́ vậy gọi là xưa nay vô vi, vẫn hằng thường trụ, chân không lồ lộ, Thật tướng rành rành, tṛn đồng thái hư, không thiếu không dư, sáng thông bát ngát, trong lặng như như, đối diện ngay trước mắt, tại sao chẳng hội? Kinh nói: “Chân Phật pháp thân giống như hư không.” Đây thật là Pháp thân tức hư không, hư không tức Pháp thân. Hư không cùng với Pháp thân không có tướng khác, chư Phật cùng với chúng sanh không có tánh khác. Chẳng ngộ Tự tánh tức gọi chúng sanh, giác biết Tự tánh nên gọi chư Phật. Đó là chân Phật vốn không h́nh tướng, đầy khắp cả hư không, thế giới, đâu có đến đi? Song Pháp thân viên dung rỗng thênh, trong lặng vô vi, trọn không một vật, chẳng rơi vào các số. Tuy vô vi, chẳng rơi vào các số, mà cũng hay ứng vật hiện h́nh, ẩn hiện cùng bày, sắc và không chẳng hai, đầy đủ mọi lư, làm ra muôn việc. Đó chính là mọi người trong mười hai giờ đi đứng nằm ngồi, thấy nghe hiểu biết, nhướng mày chớp mắt, ứng cơ tiếp vật, giơ tay động chân, một thể tṛn sáng, sáu căn vận dụng, ứng với tiếng với âm, hay thấy hay nghe, biết nói biết bàn, biện rơ phải quấy. Nói năng đó là ǵ? Cái ǵ biết hỏi đáp? Đây chính là Pháp thân của mọi người, là Tự tánh chân không, hay ứng ra âm thanh, miệng lưỡi mà hỏi đáp. Đấy là tánh chân không người người sẵn đủ, kẻ kẻ viên thành, ở Thánh chẳng thêm, ở phàm chẳng bớt, không đổi khác, không cũ mới, không quá khứ hiện tại vị lai, rỗng rang b́nh đẳng, trong lặng tṛn sáng, từ vô lượng kiếp đến nay đặc biệt hiện tiền, gió thổi chẳng động, mưa rưới chẳng ướt, lửa đốt chẳng cháy, mặt trời rọi nóng chẳng khô, chùy nhọn dùi chẳng phủng, đao cắt chẳng đứt, thuốc nhuộm chẳng đen, đá mài chẳng ṃn, sương rét chẳng lạnh, nước tưới chẳng thấm, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, không một vật, không thể nắm bắt, lồ lộ trước mắt, rơ ràng soi khắp. Đây là Pháp thân thanh tịnh chân không, không h́nh không tướng, tṛn đồng thái hư, nghiễm nhiên thường trụ. Song hư không rộng lớn, bao trùm cả trời đất, xuyên suốt núi sông, tột cả xưa nay, vững măi như vậy. Nên biết, núi sông, quả đất trọn là hoa đốm trong hư không, sắc thân bốn đại là âm dương huyễn hóa, “phàm cái ǵ có tướng đều là hư vọng”. Chân không th́ không tướng, muôn kiếp c̣n măi, đó là thân vô vi, là thân Chân Phật. Bởi Thật tướng của Chân Phật vốn là chân không diệu hữu, Thật tướng của chân không là Thật tướng vô tướng. Không tướng chẳng tướng, đó gọi là Thật tướng. Thật tướng của Pháp thân ấy, trong lặng tṛn sáng, rỗng rang rộng lớn, bao gồm một thể, tṛn đồng thái hư trùm cả mười phương đủ khắp muôn vật.

Song từ thuở ban sơ chưa có trời đất, chưa có cha mẹ, một thể chân không, thái hư b́nh đẳng, lặng lẽ sáng rỡ như vậy, tự tại viên dung. Trạng thái đó, không h́nh không tướng, không đầu không đuôi, không trong không ngoài, không nhỏ không lớn, không một không khác, không sáng không tối, không thô không tế, chẳng phải không chẳng phải có, chẳng phải mở chẳng phải đóng, chẳng phải tụ chẳng phải tan, chẳng phải thành chẳng phải hoại, chẳng phải động chẳng phải tịnh, chẳng phải lại chẳng phải qua, chẳng phải sâu chẳng phải cạn, chẳng phải ngu chẳng phải trí, chẳng phải trái chẳng phải thuận, chẳng phải thông chẳng phải bít, chẳng phải giàu chẳng phải nghèo, chẳng phải mới chẳng phải cũ, chẳng phải tốt chẳng phải xấu, chẳng phải cứng chẳng phải mềm, không sanh không diệt, không qua không lại, không đi không đứng, không ngồi không nằm, không già không trẻ, không cao không thấp, không tên không hiệu, không mặt không mày, không nam không nữ, không sắc không thanh, không gan không phổi, không thịt không máu, không xương không tủy, không tóc không da, không xanh không vàng, không đen không trắng, không xuân không hạ, không thu không đông, không thời không tiết, không số không kiếp, không đầu không cuối, không trước không sau, không trên không dưới, không giữa không bên, không trong không ngoài, không kia không đây, không sanh không tử, không động không lay, không dài không ngắn, không vuông không tṛn, không tội không phước, vô lậu vô vi, không tâm không tánh, không lẻ không đôi, không được không mất, bởi lược bày tướng đối đăi mà tạm nói, đâu thể nói tột hết ư nghĩa kia. Ĺa tất cả tướng rơ một chẳng một, gọi là “một vật” lại chẳng trúng lư. Rơ vô trụ chẳng phải một, nhận pháp môn chẳng hai. Pháp thân chân thật vốn không h́nh tướng, tṛn sáng rộng lớn, trong lặng như thái hư, rộng th́ pháp giới chẳng thể chứa, hẹp th́ một mảy lông không chỗ lập. Nếu y cứ nơi thật tế th́ vốn không có Sắc thân, người ngộ được th́ hư không chẳng sanh hoa. Người rơ suốt th́ hoàn toàn không một điểm che mờ. Vô vị chân nhân rành rành đối trước mắt, chớ chấp vào Sắc thân, thân như điện chớp; chớ tham đắm phước báo, phước tợ mây nổi, sanh tử toàn không, đâu có ǵ đến đi, giả gọi là chúng sanh thôi. Bỏ sự nghiệp đi xuất gia, ẩn náu nơi núi rừng giác ngộ gọi là tu hành. Tự giác, giác tha, và giác hạnh được viên măn gọi là Phật.

Lại nói: Thân ta hiện nay đây, là do bốn đại ḥa hợp, dụ như bốn con rắn độc đồng nhốt chung một cái rương; hai con rắn đất và nước tánh nó nặng ch́m xuống, hai con rắn gió và lửa th́ tánh nhẹ bay lên, đến lúc tan hoại th́ mỗi thứ trở về chỗ của nó. Nghĩa là tóc, lông, răng, móng, da thịt, gân xương, tủy năo, cáu bẩn... đều trở về đất; nước mắt nước mũi, máu mủ, mồ hôi, nước miếng đàm dăi, tinh khí, đại tiện, tiểu tiện... đều trở về nước; hơi ấm trở về lửa; động chuyển trở về gió, bốn đại mỗi thứ ră tan, th́ thân huyễn hiện nay sẽ ở chỗ nào? Rơ biết Sắc thân bốn đại, năm ấm nhóm họp rỗng mà nó hiện có ra; như đá nháng, điện xẹt, khởi diệt chẳng ĺa ngay đây mà trở về không. Sóng to nước lặng, vốn tự như, đâu có đến đi. Sắc thân ngoại vật không thật, như mộng huyễn, không hoa; trong cơi chân tịnh th́ Pháp thân như vậy, lặng sáng chiếu khắp, thường trụ ở trước mắt.

Vốn từ vô vi đến,
Lại từ vô vi đi.
Nay ngộ thân vô vi,
Thường trụ chỗ vô vi.

Âm:

Bản tùng vô vi lai,
Hoàn tùng vô vi khứ.
Kim ngộ vô vi thân,
Thường trụ vô vi xứ.

*

Có vật trước trời đất,
Không h́nh vốn lặng yên.
Hay làm chủ muôn vật,
Chẳng theo bốn mùa dời.

Âm:

Hữu vật tiên thiên địa,
Vô h́nh bản tịch liêu.
Năng vi vạn vật chủ,
Bất trục tứ thời diêu.

Phó Đại Sĩ

*

Có h́nh, giả chóng mất,
Không tướng, thật lâu bền.
Trời đất mặc tạo hóa,
Pháp thân thường trụ luôn.

Âm:

Hữu h́nh giả tốc vong,
Vô tướng thật cửu trường.
Càn khôn nhậm tạo hóa,
Pháp thân nguyên trụ thường.

*

Trước trời đất, mẹ cha chưa sanh,
Tịch quang tṛn lặng ấy nguồn linh.
Rộng lớn vô vi trùm pháp giới,
Có duyên đáng độ ứng theo h́nh.

Âm:

Thiên địa phụ mẫu vị sanh tiền,
Tịch quang viên trạm thị linh nguyên.
Quảng đại vô vi chu pháp giới,
Ứng vật tùy h́nh độ hữu duyên.

*

Sáng siêu nhật nguyệt vững như như,
Soi suốt càn khôn rực thái hư.
Phật với chúng sanh đều một tánh,
Tṛn đồng không thiếu cũng không dư.

Âm:

Minh siêu nhật nguyệt trấn như như,
Chiếu triệt càn khôn thước thái hư.
Phật dữ chúng sanh giai nhất tánh,
Viên đồng vô khiếm diệc vô dư.

*

Sáng ngời một kẻ chủ nhân ông,
Lặng yên chẳng động ở Linh cung.
Trong đây nếu được không ngăn ngại,
Bản thể thiên nhiên tự rỗng không.

Âm:

Hoàng hoàng nhất cá chủ nhân ông,
Tịch nhiên bất động tại Linh cung.
Đản đắc thử trung vô quái ngại,
Thiên nhiên bản thể tự hư không.

*

Di-đà Tự tánh vốn như như,
Rỗng lặng sáng tṛn rực thái hư.
Cha mẹ chưa sanh, mày mặt thật,
Trở về đâu chẳng gặp y ư?

Âm:

Di-đà Tự tánh bản như như,
Không tịch viên quang thước thái hư.
Phụ mẫu vị sanh chân diện mục,
Đông tây qui khứ tất phùng cừ.

*

Quang minh lặng chiếu khắp hà sa,
Phàm Thánh đồng về chung một nhà.
Pháp tánh viên dung trùm sát hải,
Lặng trong thường trụ tát-bà-ha.

Âm:

Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm Thánh đồng qui cộng nhất gia.
Pháp tánh viên dung chu sát hải,
Trạm nhiên thường trụ tát-bà-ha.

*

Một cái xưa nay, một cái không,
Trong không ẩn hiện thể lại đồng.
Không đầu không cuối không bờ mé,
Thường lặng sáng luôn thường biến thông.

Âm:

Nhất cá tùng lai nhất cá không,
Không trung ẩn hiện thể hoàn đồng.
Vô đầu vô vĩ vô biên tế,
Thường tịch thường quang thường biến thông.

*

Trong ánh tịch quang viên măn giác,
Trên đảnh Tỳ-lô mặc tung hoành.
Hiện tại Như Lai luôn đối diện,
Tùy cơ cảm đến cứu quần sanh.

Âm:

Thường tịch quang trung viên măn giác,
Tỳ-lô đảnh thượng nhậm tung hoành.
Đương xứ Như Lai hằng đối diện,
Tùy cơ phó cảm cứu quần sanh.

*

Tịnh độ rành rành ngay trước mắt,
Chẳng nhọc khảy tay đến Tây thiên.
Pháp thân trang trọng siêu ba cơi,
Hóa hiện Di-đà ngồi chín sen.

Âm:

Tịnh độ phân minh tại mục tiền,
Bất lao đàn chỉ đáo Tây thiên.
Pháp thân nghiễm hỉ siêu tam giới,
Hóa hiện Di-đà tọa cửu liên.

Hỏi: Ở trong ba cơi, trên trời dưới đất, cơi này phương khác, sáu đường bốn châu, quần sanh muôn loài, tất cả đều học Phật, chẳng biết thuở xưa Phật trước học ai mà chứng Bồ-đề, đời tôn là Phật?

Đáp: Phật vốn không học, do tỏ ngộ Trí tự nhiên vô sư, Pháp thân rộng lớn, tṛn đồng thái hư, chân không trong lặng nhiệm mầu, lặng sáng không ǵ trên, cao vượt khỏi ba cơi, ngang khắp mười phương, suốt cả xưa nay, nghiễm nhiên thường trụ, vô vi vô tướng, chánh giác Bồ-đề, chẳng sanh chẳng diệt, ứng hiện c̣n măi, tuyệt không ǵ sánh bằng, đời tôn là Phật. Lại nói: Phật là Tánh giác, chúng sanh là t́nh mê. Phật giác ngộ Pháp tánh tṛn sáng, lóng trong, nhất như không tịch; chúng sanh th́ mê t́nh vọng khởi măi măi thọ thân trong ba cơi. Nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Thanh tịnh sẵn vậy, tại sao chợt sanh núi sông, quả đất?”

Dạy rằng:

Chân tánh lóng trong, vốn không có mờ tối. Vọng từ không dấy lên mà cảm đến gió thức. Song do gió thức thổi cho tâm động, nhân tâm lay động mà kích phát thêm gió cảnh. Nhân gió cảnh nổi dậy mănh liệt nên khởi vọng niệm. Do một niệm vọng sanh mà ba cơi bắt đầu thành lập. Ba cơi bên trong là Sắc thân của ta; ba cơi bên ngoài tức là trời đất, thế giới, núi sông, quả đất, hết thảy muôn vật.

Giải rằng:

Thanh tịnh đến tột cùng th́ sáng thông, đạt tịch và chiếu th́ bao gồm cả hư không, rồi nh́n trở lại thế gian, giống như việc trong mộng. Pháp thân trong trẻo và lặng lẽ vốn không có nhơ sạch riêng khác, Chân tánh lắng trong, đâu có Thánh phàm sai biệt. Đều bởi có mê ngộ, đến nỗi khiến thành chẳng đồng. Kinh nói: Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải có. Từ không mà khởi vọng, rồi vọng sanh mọi thứ sắc. Đă trái với lẽ không sanh không hóa, lại hằng có hóa, có sanh. Trọn là buông tâm phóng chạy, hoàn toàn không giác tánh hồi quang, lấy huyễn làm chân, trái không theo sắc. Bản tánh Chân như từ ban sơ, vốn tṛn sáng, rỗng lặng vô vi, từ khi huyễn có Sắc thân, vọng thức, mà kết nhân kết quả, vọng sự vọng lư, vọng tạo vọng làm, vọng nghiệp vọng duyên, vọng năng vọng sở, vọng tưởng vọng chấp, thấm thêm vào sự mê hoặc mà thành thân, đi đi lại lại, theo nghiệp thọ báo. Thức thần đă theo nghiệp, rồi theo nghiệp thọ thân, ra nơi này vào nơi kia, bỏ kia sanh đây, lên xuống trong sáu đường, qua lại nơi ba cơi lành dữ chẳng đồng, muôn loài sai khác, giàu sang nghèo hèn, tùy hạnh nghiệp mà sanh, chẳng phải không nhân mà mong được quả. Thế gian mộng huyễn, há được dài lâu? Muốn chứng chân thường, hăy xuất gia theo Phật, học đạo vô thượng, vượt cao lên quả thù thắng. Đạo vô thượng, tức là Pháp tánh Chân như. Nếu ngộ Pháp tánh Chân như, trong trẻo tṛn đầy, rỗng rang vắng lặng, th́ vọng t́nh dần dần dứt sạch, chánh giác trong sáng tṛn thành, không xưa không nay, vượt cao lên ba cơi, chẳng sanh chẳng diệt, ngang khắp mười phương, tṛn đồng thái hư, b́nh đẳng như vậy, hằng chứng Bồ-đề.

Thân Phật siêu ba cơi,
Tịch quang đầy thái hư.
Hiện h́nh trăng trong nước,
Măi làm thầy trời người.

Âm:

Phật thân siêu tam giới,
Tịch quang măn thái hư.
Hiện h́nh thủy trung nguyệt,
Vĩnh tác thiên nhân sư.             

Hỏi: Hai ngôi Phật và pháp, ngôi nào trước, ngôi nào sau? Nếu nói Phật có trước, Phật này nương theo pháp nào mà được thành đạo nên gọi là Phật? Nếu bảo pháp có trước, pháp này do Phật nào nói nên gọi là pháp?

Lại hỏi: Thế nào là Phật pháp trước sau?

Đáp: Phật vốn có trước pháp, cũng có sau pháp.

Hỏi: Thế nào là Phật pháp trước sau?

Đáp: Nếu y cứ Chân như thật tế, th́ chân Phật không h́nh, tṛn đồng thái hư, đối diện ở trước mắt, lặng sáng không ǵ trên, đây là Phật thật không h́nh tướng, Phật có trước.      

Lại nói:

Ta có một thân Phật,
Người đời ít kẻ biết.
Không một giọt tro bùn,
Không một điểm màu sắc.
Vàng ṛng khó đúc thành,
Gỗ đá khó chạm khắc.
Thợ trời tạo chẳng nên,
Trộm đất trộm chẳng được.
Nước lửa chẳng can chi,
Nghiễm nhiên gió chẳng khác.
Lặng sáng đầy thái hư,
Đoan nghiêm rất kỳ đặc.
Tṛn sáng có một thân,
Hóa thân ngàn trăm ức.

Âm:

Ngô hữu nhất khu Phật,
Thế nhân thiểu giả thức.
Vô nhất trích hôi nê,
Vô nhất điểm thái sắc.
Hoàn kim nan đào dung,
Mộc thạch nan tạc khắc.
Thiên công tạo bất thành,
Địa đạo thâu bất đắc.
Thủy hỏa bất thường can,
Nghiễm nhiên phong bất thắc.
Tịch quang măn thái hư,
Đoan nghiêm thậm kỳ đặc.
Viên minh hữu nhất khu,
Hóa thân thiên bá ức.

Nên Thiền sư Xuyên Lăo nói: “Phật vàng chẳng độ ḷ đúc, Phật gỗ chẳng độ lửa, Phật đất chẳng độ nước.”

Ba Phật h́nh nghi chẳng phải chân,
Con ngươi trong mắt trước mặt xem.
Nếu hay biết được trong nhà báu,
Hoa núi chim kêu một dáng xuân.
Ứng Phật, Hóa Phật, đều không thật,
Bóng h́nh muôn thứ thảy là quyền.
Cái ǵ có tướng đều hư vọng,
Chân Phật không h́nh vốn tự nhiên.

Âm:

Tam Phật h́nh nghi tổng bất chân,
Nhăn trung đồng tử tiền diện nhân.
Nhược năng thức đắc gia trung bảo,
Đề điểu sơn hoa nhất vạn xuân.
Ứng Phật, Hóa Phật giai vô thật,
Ảnh tượng thiên bang tổng thị quyền.
Phàm sở hữu tướng giai hư vọng,
Chân Phật vô h́nh bản tự nhiên.

Hỏi: Thế nào pháp có trước?

Đáp: Nếu y cứ Pháp tánh tịch diệt, th́ chân kinh không quyển, rỗng trơn bặt dấu vết, nghĩa ấy như sao trời sáng rực, lặng lẽ quên lời, biển chân giáo sóng bủa mênh mông, bao la pháp giới, lặng lẽ sáng soi tự tại, suốt tột xưa nay, dọc ngang khắp trời đất, đây là chân kinh không quyển, pháp có trước. Nếu y cứ pháp tịch diệt, đó là pháp trước Phật sau.

Kinh nói:

Các pháp từ xưa nay,
Tướng thường tự vắng lặng.
Phật tử hành đạo rồi,
Đời sau được làm Phật.

Âm:

Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Phật tử hành đạo dĩ,
Lai thế đắc tác Phật.

Tất cả chư Phật đều nhân nơi Pháp tánh tịch diệt mà được thành Phật. Nên kinh Lăng-già nói: “Ĺa tướng văn tự, ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng tâm duyên, dứt mọi hí luận, mới có thể chứng Phật.” Nên biết, Pháp tánh tịch diệt là thầy chư Phật, đây là pháp trước Phật sau. V́ vậy kinh nói: “Có Phật không Phật, Pháp tánh vẫn thường trụ. Có kinh không kinh, Pháp thân vẫn hằng như vậy.” Một pháp mà có ngàn tên, ứng với duyên mà lập hiệu, chân Phật, chân kinh, Pháp tánh Pháp thân vốn đồng một thể, không có tướng khác. Nếu có người tuệ lớn, trí bậc thượng, chóng ngộ chân không, Pháp tánh như vậy, chân Phật không h́nh, chân kinh không quyển, chân đạo không lư, chân pháp không lời, sẽ sớm được viên chứng quả Bồ-đề.

Pháp thân thanh tịnh Phật vô tướng,
Tịch quang tṛn lặng đồng hư không.
H́nh nghi chẳng mượn dùng tiếng cầu,
Dung mạo dính ǵ với sắc pháp.
Muôn pháp đồng về biển tánh chân,
Một trần chẳng nhiễm vốn nguồn linh.
Rành rành hiển hiện chân thân Phật,
Lồ lộ Như Lai đối mặt luôn.

Âm:

Thanh tịnh Pháp thân vô tướng Phật,
Tịch quang viên trạm đẳng hư không.
H́nh nghi phi giả dĩ thanh cầu,
Dung mạo khởi quan ư sắc pháp.
Vạn tượng đồng qui chân tánh hải,
Nhất trần bất nhiễm bản linh nguyên.
Đường đường hiển hiện Phật chân thân,
Lộ lộ Như Lai thường đối diện.

Nếu luận về pháp văn tự đó là Phật trước, pháp sau. V́ sao? Bởi chư Phật lúc tột ban đầu tu hành, là tự chứng Căn bản trí tuệ, Pháp tánh tịch diệt mà được thành Phật. Đến khi thành Phật xong, mới nương nơi Hóa thân trăm ức ở cơi biến hóa, vận dụng thần thông, thị hiện mọi thứ, sau đó nói rộng các thứ ngôn từ, các thứ thí dụ, các thứ cơ quan, các thứ nghĩa lư, sắn b́m lá bối, kết tập văn tự, nương sự mà đặt tên, kinh này luận nọ, sắp xếp thứ tự rồi gom lại làm từng quyển, thành tạng kinh mười hai bộ, rồi để lại lời dặn ḍ, lưu truyền ở đời, mở rộng phương tiện chỉ đường, chỉ lối mà tiếp hóa chúng sanh. Chúng sanh ban đầu nương theo kinh giáo mà xuất gia học đạo, minh tâm kiến tánh, thành công chứng quả, đây là Phật trước pháp sau. Nếu người lượng cao, đủ đại trí tuệ, liền chóng ngộ trí tự nhiên, không Phật, không kinh, không thầy, Pháp thân vốn rỗng lặng, cùng Phật b́nh đẳng, quán Thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Bởi, quán Thật tướng của thân, tức là Pháp thân rỗng rang diệu hữu, Phật và ta đều vô tướng, trong lặng nhiệm mầu, nhất như, tṛn đồng thái hư, chân không b́nh đẳng. Dù học ngàn kinh muôn luận, rốt ráo cũng không vượt ngoài lư này, cuối cùng là viên chứng Phật pháp thân.

Pháp giới bao trùm Cực Lạc đường,
Đến cùng biển giác sáng tṛn chung.
Như như diệu trạm không thừa thiếu,
B́nh đẳng Di-đà chiếu mười phương.

Âm:

Pháp giới hàm dung Cực Lạc đường,
Đáo đầu giác hải cộng viên quang.
Như như diệu trạm vô dư khiếm,
B́nh đẳng Di-đà chiếu thập phương
.

Kinh nói: “Phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng.” Ứng Phật, Hóa Phật, ba mươi hai tướng, trăm ức hóa thân, cho đến các duyên cảnh giới trang nghiêm, tất cả Như Lai thần thông thị hiện, quyền bày phương tiện tiếp dẫn chúng sanh, đều chẳng phải lư thật. Bởi lư rốt ráo chân thật tức là hư không, hư không tức là Như Lai, Như lai tức là không tịch, không tịch tức là Pháp thân, Pháp thân tức là Phật thân. Đây chính là thân Phật, người người sẵn đủ, kẻ kẻ viên thành.

Ứng, Hóa chư tôn chưa ra đời,
Pháp thân rỗng lặng sẵn vậy thôi.
Tự giác giác tha gọi là Phật,
Từ bi thuyết pháp lợi trời người.
Suốt tột xưa nay vốn như như,
Trong ánh tịch quang rực thái hư.
Trang trọng vượt lên danh tướng pháp,
Chân không đó Phật tự an cư.

Âm:

Ứng, Hóa chư tôn vị xuất tiền,
Pháp thân không tịch bản như nhiên.
Tự giác giác tha danh viết Phật,
Từ bi thuyết pháp lợi nhân thiên.
Cùng kim tuyên cổ bản như như,
Thường tịch quang trung thước thái hư.
Nghiễm hĩ việt siêu danh tướng pháp,
Chân không thị Phật tự an cư.

V́ vậy trong Chứng Đạo Ca của Đại sư Vô Tướng ở Vĩnh Gia nói:

Rành rành thấy không một vật,
Cũng không người, cũng không Phật.
Cơi cơi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.

Âm:

Liễu liễu kiến vô nhất vật,
Dă vô nhân dă vô Phật.
Đại thiên sa giới hải trung âu,
Nhất thiết Thánh Hiền như điện phất.

Chư Phật hiện ra đời là ứng hóa chẳng phải thật, chúng sanh huyễn khởi có danh tướng đều hư dối, phổ thỉnh đạo tràng thủy nguyệt, tỏ ngộ Phật sự không hoa. Thế nào là Phật sự không hoa? Dạy rằng: Tướng không là Thật tướng, thân không tức Pháp thân, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, không một vật, không thể nắm bắt, nếu gọi là một vật, lại chẳng trúng lư.

Có nói đều thành báng,
Không lời cũng chẳng dung.
V́ anh thông một lối,
Trời mọc núi đông hồng.

Âm:

Hữu thuyết giai thành báng,
Vô ngôn diệc bất dung.
Vị bỉ thông nhất tuyến,
Nhật xuất lănh đông hồng.

Chư Phật giáo hóa chúng sanh, ví như bà dạy cháu, tùy cơ mà ẩn hiện. Phương tiện có nhiều thứ. Cho nên nuôi cơm là thương con trẻ, nước uống là ngừa nó khát. Gượng gọi tên là Phật, là Tổ, là Thiền tông, là chỉ thú, là hư không Pháp thân, là Thật tướng vô tướng. Thật tướng vô tướng, là vượt lên tên gọi và h́nh tượng, thể vốn vô sanh, nhưng v́ gượng nêu tên để chỉ bày cho người sau. V́ vậy nói: Pháp thân lồ lộ, Thật tướng rành rành, tṛn đồng thái hư, không thiếu không dư, bao gồm cả trời đất, suốt thấu cả núi sông, đối diện ngay trước mặt, chân thật rỗng rang mênh mông, viên dung cả pháp giới, trong lặng như như, không tướng không tên, không lời không nói, chẳng sanh chẳng diệt, không đến không đi, ứng vật hiện h́nh như trăng trong nước. Tùy duyên ứng ra h́nh chất, th́ mượn sắc mà thành h́nh; nương theo loại mà hóa thân, th́ quán âm thanh nói rộng giáo pháp. Nói năng bày tỏ nơi lá bối, là chân ngôn mà chẳng phải chân ngôn; tướng hiển hiện nơi hoa sen, nếu có tướng th́ đâu từng có tướng. Xưng Phật xưng Tổ, trị kẻ dưới mà tạm mượn tên; rất diệu rất huyền, tối thượng vô tướng; thường lạc ngă tịnh, tột lư mà chứng biết; Pháp thân vô vi, vượt lên trên Phật Tổ; tên Phật hiệu Tổ cũng là giả danh; Pháp tánh chân không, trọn không một vật. Người học tham Thiền thấu đến tột cùng, nên nói đă thấu đến chỗ ruộng đất cố hương, đă được chỗ an thân lập mạng, chỗ thường lạc ngă tịnh, chỗ sanh tử chẳng dính dáng. Ruộng đất cố hương, là chỗ rỗng thênh bát ngát, đến ruộng đất ấy, th́ một chữ Phật cũng là vật ở bên ngoài căn trần. Như vậy, Phật c̣n không đắm trước, huống nữa là Chân như Phật tánh, Bồ-đề Niết-bàn, chỗ nào có được? Thấu tột, thấu tột rành rành không một vật, th́ không phàm Thánh, không thứ lớp, không danh tướng, không thềm bực, không số kiếp, không giờ khắc, không tôn ti, không xưa không nay, không được không mất, không một không hai, không phải không quấy, không tịnh không loạn, không sanh không tử, không Phật không chúng sanh, không bờ mé không làm ra, không tu không chứng; không thường không trụ và chẳng không thường trụ, vốn không Niết-bàn, chẳng phải chẳng không Niết-bàn, vốn không thành Phật và chẳng không thành Phật; cũng không tỏ rơ trong cái tỏ rơ, cũng không trong lặng trong cái trong lặng, cũng không cái thể trong lặng, cũng không cái dụng trong lặng; cũng không thế ấy nói cái trong lặng, cũng không thế ấy thọ cái trong lặng; ba cái không đều không, chỉ một cái trong lặng tṛn đầy, mà một cũng chẳng một, nguồn trở lại nguồn.

Nên biết trong không vốn chẳng hoa,
V́ kẻ mê, quyền hiện Thích-ca.
Đem sắc thanh cầu trọn chẳng thấy,
Xưa nay chân thật tự nơi ta.

Âm:

Tu tri không lư bản vô hoa,
Quyền vị mê lưu hiện Thích-ca.
Dĩ sắc thanh cầu chung bất kiến,
Nguyên lai chân Phật bản phi tha.

*

Vốn tự nhiên thành chẳng tạc điêu,
Chống trời chỏi đất mặc tiêu diêu.
Xưa nay Chánh giác không một vật,
Toàn thân chẳng dính mảy tơ hào.

Âm:

Bản tự viên thành bất giả điêu,
Trú thiên trú địa nhậm tiêu diêu.
Chánh giác bản lai vô nhất vật,
Thông thân bất quải nhất ty hào.

*

Giơ hoa niêm cú gạt người thôi,
Muôn pháp không hoa chẳng kéo lôi.
Tông, giáo cùng quên đều chẳng đắm,
Nguồn linh tự tại mặc thảnh thơi.

Âm:

Niêm hoa niêm cú cộng tha man,
Vạn pháp không hoa tổng bất can.
Tông, giáo lưỡng vong câu bất nịch,
Linh nguyên tự tại nhậm thanh nhàn.

*

Theo rỗng tiếp vang đều chẳng thật,
Không hoa mắt bệnh tùy vọng sanh.
Cội nguồn diệu thể không chỗ trụ,
Chân như tự tại mặc tung hoành.

Âm:

Thừa hư tiếp hưởng giai phi thật,
Bệnh nhăn không hoa trục vọng sanh.
Diệu thể bản nguyên vô sở trụ,
Chân như tự tại nhậm tung hoành.

*

Trên đảnh Tỳ-lô vui quá chừ,
Trong ánh tịch quang không vật dư.
Tức sắc tức không thật rành rơ,
Chẳng tâm chẳng Phật tự như như.

Âm:

Tỳ-lô đảnh thượng lạc vô dư,
Thường tịch quang trung nhất vật vô.
Tức sắc tức không chân liễu liễu,
Phi tâm phi Phật tự như như.

*

Chư Tôn ứng hóa thảy vọng duyên,
Pháp thân thanh tịnh rộng vô biên.
Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt,
Muôn dặm không mây muôn dặm thiên.

Âm:

Ứng hóa chư Tôn đẳng vọng duyên,
Pháp thân thanh tịnh quảng vô biên.
Thiên giang hữu thủy, thiên giang nguyệt,
Vạn lư vô vân vạn lư thiên.

Pháp kệ: Xem phá sắc tướng của Tam giáo

Chẳng Nho chẳng Phật cũng chẳng Tiên,
Ṿ lại một viên rỗng lặng tṛn.
Chùy nhọn thân hùng thông một điểm,
Kiếm sắc huơi rơi rơ tam huyền. (Phật, Nho, Tiên)
Trong mơ ḥn bọt chia ranh giới,
Giữa luồng điện chớp bày Thánh Hiền.
Muôn pháp ngàn tông đều là huyễn,
Một thoi nát sạch Tổ sư Thiền.
Thân đồng cơi hư không,
Bày pháp bằng hư không.
Khi chứng được hư không,
Không pháp không phi pháp.

Pháp kệ: Lăm phá Tam giáo sắc tướng

Phi Nho phi Phật diệc phi Tiên,
Niết tựu nhất đoàn không tịch viên.
Chùy dĩnh hùng thân thông nhất điểm,
Kiếm mang huy lạc liễu tam huyền.
Phù âu mộng lư phân cương giới,
Thiểm điển quang trung liệt Thánh Hiền.
Vạn pháp thiên tông đô thị huyễn,
Nhất ḱnh phá tận Tổ sư Thiền.
Thân đồng hư không giới,
Thị đẳng hư không pháp.
Chứng đắc hư không thời,
Vô thị vô phi pháp.

Hỏi: Thế nào là trên trời dưới đất, trong cơi nhân gian, quần sanh muôn loài, hết ḷng cung kính, tôn xưng chư Phật, gọi là Giác Hoàng?

Đáp: Phật là bậc thầy trong ba cơi, cha lành nơi bốn loài, đức to ṿi vọi, hùng tôn bát ngát, quả chứng ba vô số kiếp, ân thấm cả chín loài, ba thân tṛn hiển, mười hiệu cùng bày, đến Thánh th́ làm vua trong muôn Thánh, làm Phật th́ sáu thông tự tại, chín loài tối tăm đều được thấm nhuần, ba cơi đều tôn quí, đại bi đại nguyện, đại lực đại hạnh, khắp tiếp cả trời người, sang hèn đều dẫn dắt, ứng hóa trên trời, cơi người, cứu độ cơi này phương khác, quần sanh đều lợi lạc, tất cả đều nương về, v́ vậy tôn Phật là “Giác Hoàng”.

Bởi v́ sao? V́ nhân tu rộng lớn nên trăm ngàn công đức đă trang nghiêm, quả chứng chí tôn th́ ở trên cả trăm ức hóa thân. Đại nguyện của chư Phật, khi ra đời thường thị hiện làm vua. Làm Phật th́ ba cơi đều tôn kính, làm vua th́ muôn nước đều qui phục, là thảy do công phu tu hành từ nhiều kiếp, và nhân duyên phước tuệ, lo cứu giúp cho mọi người.

Lại hội lư rằng:

Giác là rất to, rất rộng, Pháp tánh tṛn sáng, chánh giác Bồ-đề. Hoàng là rất tôn, rất quí, ngôi vị độc tôn hết mức, là bậc đế vương trang trọng. Trong các kinh vẫn thấy Phật Phật hiện làm vua, việc xưa cũng truyền nghe vua vua thành Phật. Nên biết, chư Phật số cát sông Hằng, mỗi vị cũng thường thị hiện làm thân đế vương. Và nên biết, ở cung vua mà ứng ra đời trong cửa Phật, th́ nước Việt lại thấy triều Lê, niên hiệu Chính Ḥa, Đức Giác Hoàng trí Phật thiên nhiên, biển tuệ tṛn sáng, trang trọng ngự giữa đài hoa mà hiển dương Phật pháp. Cây bồ-đề lớn cao, bóng che mát cả mười phương, hoa ưu-bát nở ra, sáng rực đến muôn đời. Quần sanh đều được độ, khắp nơi thấm ơn sâu, đời tôn xưng là chân Phật Hoàng.

Rỗng toang Phật tánh tợ hư không,
Thị hiện thân vua thể cũng đồng.
Quyền thật sáng ngời gồm mọi lư,
Mở mang Phật pháp độ quần mông.

Âm:

Hoát nhiên Phật tánh đẳng hư không,
Thị hiện vương thân thể diệc đồng.
Quyền thật tinh quang bao chúng lư,
Hiển khai Phật pháp độ quần mông.

Trước kia, vua Đường Thuận Tông hỏi Đại sư Phật Quang:

Phật từ phương nào đến?
Diệt trở về nơi đâu?
Đă nói thường trụ thế,
Nay Phật ở chỗ nào?

Âm:

Phật ṭng hà phương lai?
Diệt hướng hà phương khứ?
Kư ngôn thường trụ thế,
Phật kim tại hà xứ?

Đại sư Phật Quang đáp:

Phật từ vô vi đến,
Diệt trở về vô vi.
Pháp thân đồng hư không,
Thường ở chỗ không tâm.
Có niệm về vô niệm,
Có trụ về vô trụ.
Đến v́ chúng sanh đến,
Đi v́ chúng sanh đi.
Biển Chân như thanh tịnh,
Tṛn lặng thể thường trụ.
Người trí khéo tư duy,
Lại chớ sanh nghi ngờ.

Âm:

Phật ṭng vô vi lai,
Diệt hướng vô vi khứ.
Phật thân đẳng hư không,
Thường tại vô tâm xứ.
Hữu niệm qui vô niệm,
Hữu trụ qui vô trụ.
Lai vị chúng sanh lai,
Khứ vị chúng sanh khứ.
Thanh tịnh Chân như hải,
Trạm viên thể thường trụ.
Trí giả thiện tư duy,
Cánh vật sanh nghi ngại.

Vua lại hỏi:

Phật từ vương cung sanh,
Diệt về Song lâm diệt.
Trụ thế bốn chín năm,
Lại bảo không pháp nói?
Núi sông và biển cả,
Trời đất với nhật nguyệt,
Thời đến đều tiêu tan.
Ai rằng không sanh diệt?
Nghi t́nh c̣n như trên,
Người trí khéo phân biệt.

Âm:

Phật tùng vương cung sanh,
Diệt hướng Song lâm diệt.
Trụ thế tứ thập cửu,
Hựu ngôn vô pháp thuyết.
Sơn hà cập đại hải,
Thiên địa cập nhật nguyệt.
Thời chí giai qui tận,
Thùy vân bất sanh diệt?
Nghi t́nh du nhược tư,
Trí giả thiện phân biệt.

Đại sư Phật Quang đáp:

Thể Phật vốn vô vi,
T́nh mê vọng phân biệt.
Pháp thân đồng hư không,
Chưa từng có sanh diệt.
Có duyên Phật ra đời,
Hết duyên Phật nhập diệt.
Nơi nơi độ chúng sanh,
Giống như trăng trong nước.
Chẳng thường cũng chẳng đoạn,
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Sanh cũng chưa từng sanh,
Diệt cũng chưa từng diệt.
Tỏ ngộ chỗ không tâm,
Tự nhiên không pháp nói
.

Âm:

Phật thể bản vô vi,
t́nh vọng phân biệt.
Pháp thân đẳng hư không,
Vị tằng hữu sanh diệt.
Hữu duyên Phật xuất thế,
Vô duyên Phật nhập diệt.
Xứ xứ hóa chúng sanh,
Du như thủy trung nguyệt.
Phi thường diệc phi đoạn,
Phi sanh diệc phi diệt.
Sanh diệc vị tằng sanh,
Diệt diệc vị tằng diệt.
Liễu ngộ vô tâm xứ,
Tự nhiên vô pháp thuyết.

Vua nghe Sư giảng hoát nhiên ngộ đạo, tôn trọng Thiền tông.

Kinh nói: “Tâm ta như nước, Di-đà như trăng, nước trong th́ trăng hiện, chẳng cần người khác nói.” Trăng dụ Pháp thân, bóng dụ Hóa thân, trong và đục dụ nhiễm và tịnh. Nước trong trăng hiện, trăng cũng chẳng đến. Nước đục trăng ẩn, trăng cũng chẳng đi. Chỉ do nước có trong đục, chẳng phải bảo trăng có đến đi. Trong pháp cũng như vậy, tâm sạch th́ thấy Phật, chẳng phải là Phật đến, tâm nhơ th́ chẳng thấy, chẳng phải là Phật đi. Bởi do chúng sanh có nhơ sạch, chẳng phải bảo chư Phật có ẩn hiện. Lư rốt ráo tột cùng, cực tắc tuyệt diệu th́ Pháp thân vốn rỗng lặng, tṛn đồng thái hư, không đi không đến, không nơi không chốn, tùy cơ mà cảm đến, ứng hiện tự tại, nên gượng gọi là Như Lai.

Chánh giác không nơi đến,
Đi cũng không chỗ nào.
Thân thanh tịnh diệu sắc,
Do thần lực hiển hiện.
Phật thân rỗng lặng trùm pháp giới,
Rơ ràng trước mắt quần sanh loại.
Tùy cơ cảm đến khắp mọi nơi,
Tự do ứng hiện đều vô ngại.

Âm:

Chánh giác vô lai xứ,
Khứ diệc vô sở tùng.
Thanh tịnh diệu sắc thân,
Thần lực cố hiển hiện.
Phật thân không tịch biến pháp giới,
Đường đường đối nhăn quần sanh loại.
Tùy cơ phó cảm mỵ bất chu,
Tự như ứng hiện lực vô ngại.

Kinh nói: “Thân pháp giới thanh tịnh vốn không có ra vào, sức bản nguyện đại bi thị hiện như hoa trong không.” Bởi thị hiện có ra vào là ở cơ duyên, cơ duyên ứng th́ hiện ra trong cung vua Tịnh Phạn, cơ duyên hết th́ ở dưới gốc sa-la(1) vào Niết-bàn. Do v́ nước trong sạch vô tâm mà không h́nh tượng nào chẳng hiện. H́nh tượng chẳng phải là ta vốn có, đây là hoa đốm trong không thuộc vật bên ngoài. Tướng chẳng phải là thân Phật, há Như Lai có ra vào?

Đó gọi là thân Phật vô vi, đầy khắp cả pháp giới, thanh tịnh tṛn sáng, trong lặng thường trụ. Chân Phật th́ vô tướng, vốn không có lư Niết-bàn. Quyền Phật th́ giả hiện, huyễn có việc ứng hóa. Nghĩa Niết-bàn tức là Pháp tánh của chư Phật, chẳng sanh chẳng diệt, nên nói Niết-bàn không đi không đến, gọi là Pháp thân Như Lai thường trụ, trong suốt rỗng lặng, không dấu vết, không tạo tác, không uống ăn, không tóc da. Thân Như Lai tức là Pháp thân, rỗng lặng, linh thông, chân không tự tại, chẳng phải từ máu thịt, xương tủy làm thành. Nên biết, Phật tánh tṛn đồng thái hư, không thiếu không dư, chân không diệu hữu, không sanh không diệt, không đi không đến, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, ba đời đều b́nh đẳng, một thể rỗng rang, suốt tột xưa nay, vẫn hằng như vậy. V́ thế gọi đó là thường trụ chẳng đổi. Chân thân của Như Lai vốn không sắc tướng, tùy thuận chúng sanh mà thị hiện sắc tướng. Pháp thân Như Lai vốn không có Niết-bàn, tùy thuận chúng sanh mà thị hiện Niết-bàn. Việc ứng duyên đă xong th́ bỏ thân hoa đốm trong không, như con ve lột xác, như con rắn lột da, quay về căn mệnh, trở lại cội nguồn, lặng lẽ không tiếng tăm, mé chân thật trong trẻo tṛn đầy, rành rành soi khắp, đối ngay trước mắt, ẩn hiện cùng bày, sắc không chẳng hai. Do v́ quần sanh ở mười phương thế giới, trên trời dưới đất, h́nh loại đều khác, ngôn ngữ chẳng đồng mà Như Lai đại bi dùng thần lực hóa thân, tùy loại thị hiện, tùy h́nh tướng, tùy ngôn ngữ, tùy âm thanh của chúng, mở rộng phương tiện để thuyết pháp giáo hóa, khiến cho họ sáng tỏ Bản tánh, mỗi loài đều được giải thoát. Thật là thân Như Lai th́ trong suốt rỗng lặng. Nên nói, chẳng thấy có không tức thấy chân thân Phật. Đối với chân thân Phật th́ trọn chẳng thể được. Chỉ cái tin tức ấy, ba đời chư Phật nói chẳng kịp, nhiều đời Tổ sư truyền chẳng đến. Đă nói chẳng kịp, lại truyền chẳng đến, th́ Thích-ca, Di-lặc cũng là tên suông. Thích-ca, Di-lặc đă là tên suông, gọi cái ǵ là chủ? Gọi cái ǵ là khách? Gọi cái ǵ là tông? Gọi cái ǵ là chỉ? Gọi cái ǵ là sanh tử? Gọi cái ǵ là Niết-bàn? Gọi cái ǵ là xưa? Gọi cái ǵ là nay? Đă không sanh lại không diệt, trước không xưa, sau không nay, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, trong trẻo rỗng lặng, tṛn đồng với thái hư, thân vốn là Phật, vẫn hằng như vậy. Thân Phật như vậy, thân ta cũng như vậy, ngay khi độ chúng sanh mà dứt trừ tưởng độ, xoay lại tâm vô vi hướng đến đường Niết-bàn, bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải có, một tánh tṛn sáng, c̣n măi với trời đất, Bản tánh trong lặng, ngang bằng với Phật, rốt ráo viên dung, đồng vào một thể.

Pháp tánh Như Lai không một vật,
Ứng độ quần sanh việc cả trăm.
Nếu ngộ chân không, luôn đối mặt,
Như Lai thường trụ ở Linh Sơn.

Âm:

Pháp tánh Như Lai vô nhất vật,
Ứng độ quần sanh hữu bách ban.
Nhược ngộ chân không hằng địch diện,
Như lai thường trụ tại Linh Sơn.

Khiến người người xuất gia theo Phật, lư nên chọn bạn t́m thầy, nếu không thầy bạn, lấy ǵ tiếp dẫn? Xem kinh mà mê mờ lư th́ luống tự nhọc nhằn, đếm chữ t́m hàng th́ chẳng rơ tông chỉ. Chẳng rơ tông chỉ th́ chẳng cùng tột văn lư, chẳng cùng tột văn lư th́ đâu thể giải thoát!

Học đạo không tông chỉ,
Thấy nhiều chẳng bằng mù.
T́m sáng chẳng biết báu,
Luống nhọc tṛng mắt ḿnh.

Âm:

Học đạo vô tông chỉ,
Đa kiến bất như manh.
Tầm quang bất thức bảo,
Đồ lao tự nhăn t́nh.

*

Cửa không chẳng chịu ra,
Quá ngu chui cửa sổ.
Giấy cũ trăm năm dùi,
Bao giờ được ra khỏi.

Âm:

Không môn bất khẳng xuất,
Đầu song dă thái si.
Bách niên tán cổ chỉ,
Hà nhật xuất đầu th́?

*

Người nay học đạo chẳng rơ chân,
Chỉ bởi từ lâu nhận thức thần.
Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử,
Kẻ si gọi đó bản lai nhân.

Âm:

Học đạo chi nhân bất thức chân,
Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử chủng,
Si nhân hoán tác bản lai nhân.

*

Có pháp có tâm c̣n vọng thức,
Không cầu không được chứng Chân như.
Chân vọng hai đầu đều phá sạch,
Một luồng sáng lạnh rực thái hư.

Âm:

Hữu pháp hữu tâm tồn vọng thức,
Vô cầu vô đắc chứng Chân như.
Chân vọng lưỡng đầu câu đả phá,
Nhất đạo hàn quang thước thái hư.

Cho nên kinh Bát-nhă nói: “Không trí cũng không đắc; do v́ không chỗ được.” Nếu trí vô phân biệt th́ làm hại cái thấy có thấy không. Trí vô phân biệt th́ trọn chẳng thể được. Tại sao không thể dùng trí đoạn trí? Chẳng thể dùng kiếm lại chặt kiếm.

Hội rằng:

Kiếm tự hại kiếm, kiếm kiếm hại nhau, tức kiếm cũng chẳng thể được. Trí tự hại trí, trí trí hại nhau, tức trí cũng chẳng thể được. Mẹ con đều mất, cũng lại như thế.

Đây là chỗ nói rằng chỉ thẳng rốt ráo, chân như thật tế, hướng thượng vô niệm, thành Phật làm Tổ, chỉ ngại kẹt nơi tên nhơ. Sao vậy? V́ chẳng ĺa tâm có. Nếu t́nh phàm Thánh hết, năng sở đều lặng, một niệm chẳng sanh, thẳng đến địa vị Như Lai trong lặng nhiệm mầu, biển giác lặng lẽ, là đất Cực Lạc vậy.

Nên Cổ đức nói: Trên chẳng thấy có chư Phật, dưới chẳng thấy có chúng sanh, ngoài chẳng thấy có núi sông, đất đai, trong chẳng thấy có cái thấy nghe hiểu biết tốt xấu, dài ngắn, nhồi thành một mảnh, mỗi mỗi đưa ra, trọn không cái thấy khác. Lư ấy vi diệu, sâu xa không ǵ trên, học giả tri âm th́ có thể thông suốt. Chỉ Phật với Phật mới hay xét tột, Thật tướng các pháp đến chỗ rốt ráo, th́ văn tự cũng chẳng thể được, ngôn ngữ cũng chẳng thể được, thức pháp cũng chẳng thể được, đối đăi cũng chẳng thể được, bặt đường cơ quan nguy hiểm, cùng tột trí phân biệt bén nhạy, Bát-nhă cũng chẳng thể được, tịch chiếu cũng chẳng thể được, bèn chẳng phải vô sự sanh sự, liền là có cành vin cành. Đến như ba đời chư Phật, chánh pháp lưu hành, lần lượt truyền trao cho nhau: chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, chẳng lập văn tự.

Nay lập văn tự là mở thông một lối để tiếp dẫn cho người hậu học. Niết-bàn không có hai lối, phương tiện th́ có nhiều cửa. Do đó Phật nói Tiểu thừa, Đại thừa, kinh có đốn giáo, tiệm giáo. Nên biết, ngàn kinh muôn kinh chỉ là một kinh, ngàn pháp muôn pháp chỉ là một pháp, ngàn lời muôn lời chỉ là một lời, ngàn câu muôn câu chỉ là một câu, ngàn thể muôn thể chỉ là một thể, ngàn tông muôn tông chỉ là một tông, ngàn phái muôn phái chỉ là một phái, ngàn nguồn muôn nguồn chỉ là một nguồn. Nếu thông suốt nguồn linh, th́ rơ một chẳng phải một; thấu suốt chánh pháp th́ gọi là đắc pháp. Huyền chỉ của Bát-nhă, lấy không chỗ được mà tự được, tạm v́ giáo hóa chúng sanh mà nêu bày tên “đắc pháp” và để lời dặn ḍ: - Bậc tông sư đời sau hăy ngầm xem hàng môn đồ, lựa chọn trong các đệ tử, ai là người có đức hạnh, giống trí mầm linh, thật tâm xuất gia, kính nhận và vâng theo lời dạy, ngộ sâu lư tánh, hiếu thuận chân tu, được người như thế, có thể trao tâm ấn.

Thấy cùng thầy bằng,
Gần thầy bảy phần.
Được người như thế,
Mới đáng truyền trao.

Âm:

Kiến dữ sư tề,
Á sư thất phần.
Đắc như thị nhân,
Năi khả truyền thọ.

Xét tâm ấn của chư Phật hẳn chẳng lừa nhau, Pháp thân rỗng lặng tṛn đồng thái hư, không thiếu không dư, không được không mất, không thêm không bớt, không trao không truyền, v́ đối ngoại duyên mà giả lập tên “ấn” đó thôi. V́ vậy trong kinh Pháp Bảo Đàn, Tỳ-kheo Pháp Hải thưa hỏi Lục Tổ rằng: “Chư Phật ứng ra đời số được bao nhiêu?” Lục tổ Huệ Năng chỉ dạy Tỳ-kheo Pháp Hải: “Chư Phật ứng ra đời số như cát sông Hằng, danh tướng không cùng, khó thể tính  kể. Nay đem bảy đức Phật Tông sư làm thủy tổ chúng ta.” Do đó, ba đời chư Phật, pháp ấn như thế, đến cuối cùng nơi hải ấn th́ thầm trao đèn tâm, bốn mắt nh́n nhau, im lặng ấn chứng. Do được như thế mà nhiều đời Tổ sư bốn mắt nh́n nhau, im lặng ấn chứng. Do được như thế nên Truyền Đăng Ngữ Lục ghi: Đại sư Đạt-ma ngầm nói lời dặn ḍ Tổ Huệ Khả rằng:

- Xưa đức Thích-ca Như Lai đem chánh pháp nhăn tạng, Niết-bàn diệu tâm phó chúc cho Tổ Ca-diếp, lưu truyền mấy mươi đời, đến Tôn giả Bát-nhă-đa-la truyền trao cho ta. Nguyên ta đă được pháp ấn ở Tây thiên, vâng theo bậc trên đến truyền bá Tâm tông nơi Đông độ, nên đạp cành lau qua biển đến đây. Thấy ngươi một ḷng tinh thành, có khí tượng Đại thừa nên truyền tâm ấn cho ngươi. Ngươi hăy nối chí thuật lại việc này, thể nhận tâm ta mà bền vững hộ tŕ chớ để cho đoạn dứt. Lại trao cho ngươi một chiếc ca-sa pháp phục, với bốn quyển kinh Lăng-già để làm pháp tín, che chở cho Thiền tông phát triển. Trong th́ truyền pháp ấn để khế hợp tâm chứng, ngoài trao ca-sa để định tông chỉ, tránh cho người đời sau khắt khe, sanh nhiều nghi ngờ, bảo rằng: - Ta vốn là người phương Tây, ngươi là kẻ ở phương Nam, từ đâu mà được pháp? Lấy ǵ làm bằng chứng truyền trao tâm ấn cho ngươi? Chính y bát, kinh pháp dùng để tiêu biểu mở mang giáo pháp, rộng độ chúng sanh. Sau khi ta diệt độ, khoảng hai trăm năm, y nên dừng chẳng truyền nữa. Lúc này pháp đă khắp giáp mọi nơi, người hiểu đạo th́ nhiều, người hành th́ ít, người nói lư th́ nhiều, người thông lư th́ ít, ngầm hợp thầm chứng có hơn ngàn muôn người, ngươi hăy xiển dương chớ khinh người chưa ngộ, một niệm hồi cơ liền đồng với sẵn được.

Nghe ta nói kệ:

Ta vốn đến xứ này,
Truyền pháp cứu mê t́nh.
Một hoa nở năm cánh,
Kết quả tự nhiên thành.

Âm:

Ngô bản lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê t́nh.
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.

Kệ chứng cớ xưa:

Ca-diếp ban sơ y bát truyền,
Bao đời Bát-nhă nhận ḍng Thiền.
Đa-la trao đèn truyền ta đó,
Ta gởi sáng thừa con tiếp duyên.

Âm:

Trưng cổ kệ

Ca-diếp sơ ưng y bát truyền,
Nguyên lưu Bát-nhă kỷ kinh niên.
Đa-la phục bả đăng truyền ngă,
Ngă yết dư quang thác tử duyên.

Kệ truyền kinh:

Bốn quyển Lăng-già trao lại con,
Như Lai tâm địa pháp măi thơm.
Chúng sanh dùng đó v́ khai thị,
Khiến họ chóng liền tỏ ngộ sâu.

Âm:

Truyền kinh kệ

Thọ tử Lăng-già tứ quyển kinh,
Như Lai tâm địa pháp môn liêm.
Chúng sanh dụng thử vi khai thị,
Linh bỉ xâm xâm diệu ngộ thâm.

Song thường trụ ở thế gian, Thể tánh như như, Viên giác rỗng lặng, gọi đó là Phật. Sáng tỏ Tâm tông của Phật, hiểu và làm ứng hợp với nhau gọi đó là Tổ. Phật Tổ chỉ một lư không sai khác.

Lại nói:

Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông tâm Phật chừ khó lường.
Chẳng cùng phàm Thánh chung nhà(1),
Vượt lên gọi đó là Tổ.

Âm:

Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tầm hề xuất độ.
Bất dữ phàm Thánh đồng miên,
Siêu nhiên danh vi viết Tổ.

Tôi (Chân Nguyên) xem trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục tổ Huệ Năng thuật: “Phật Phật chỉ truyền Pháp tánh, Sư Sư thầm trao Bản tâm, y bát thuộc vật bên ngoài, là đầu mối cho sự tranh giành, hăy dừng việc ấy chớ truyền nhau nữa.” Lại thấy cơ thần ư mật, ca-sa chia làm ba: một tấm thường mặc theo ḿnh, một tấm đắp cho ảnh tượng, một tấm cất chứa kỹ trong chùa. Theo nguyện lớn lại nói lời sấm kư rằng: “Đời sau này ai được tấm y, th́ đây là đạo của ta trở lại nơi đời.” Có vị Tăng Duy Tiên ở trong chùa, sửa sang xây dựng lại điện vũ, t́nh cờ phát hiện được tấm ca-sa, pháp phục vẫn được rực rỡ như ban đầu.

Nên biết, trí lực của Phật Tổ rất rộng sâu, vận dụng cơ thần ẩn hiện khó lường, thường tự đối diện trước mắt, không sắc viên dung, ra đời độ sanh, ứng khắp mọi nơi, diệt và chẳng diệt thảy là phương tiện, tượng giáo hiển dương, Phật Phật đều như vậy.

Từ trước, Phật Phật Tổ Tổ, đời đời tiếp nối nhau đều cùng chung bốn mắt nh́n nhau, thầm trao tâm ấn, như thế mà được, ta cũng như thế mà được, chư huynh đệ thiện tri thức cũng như thế mà được, cho đến hữu t́nh, vô t́nh thảy đều cũng như thế mà được. Tỏ ngộ Pháp tánh vốn rỗng lặng, chỉ trí chứng biết, nói năng chẳng kịp, tâm ấn như như, xưa nay một lư, người thấu suốt đồng như vậy. Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên, ngàn muôn Tổ sư đều dùng bốn mắt nh́n nhau, thầm trao tâm ấn mà truyền y thừa tiếp làm Tổ, mồi đèn tiếp lửa, nối Tổ truyền tông. Chính kinh Lăng-già là tâm ấn của Như Lai hiển lộ ở quyển hai. Bốn mắt nh́n nhau, Sơ tổ Đạt-ma vượt biển đem đến. Người học về sau có nghi ngờ, hăy quán rơ thật chứng.

Chân Nguyên kính vâng theo, mở mang Tâm tông của Phật. Kinh nói: “Chẳng phải bậc Đại Thánh vô cớ mà mở ra giáo pháp, bởi có duyên từ xưa mới có thể tỏ ngộ tông chỉ. Ai là người hội được Tâm tông, thật chính là con Phật, mồi đèn nối pháp, tiếp độ quần sanh, diệu tâm Niết-bàn, đại ấn vô tướng.”


 

B. GIẢNG GIẢI

I- LỜI TIỂU DẪN

KHẮC IN LẠI SÁCH KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT

Sách này đặt tên “Kiến Tánh Thành Phật”, nghĩa là sao? Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được lư thật của nó. Như kinh nói: “V́ muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến Phật.” Người nhận thấy lư đó th́ có thể thành Phật. C̣n mê nó th́ ta cũng không hề mất. Bởi Tự tánh sâu lắng, Bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại một ḿnh, cao vượt thoát không ǵ ngoài. Mới biết, tất cả hàm linh đều có đủ đức tánh Như Lai, do v́ chúng sanh chướng sâu tuệ cạn, nên dùng hằng ngày mà chẳng tự thấy. Vậy nên Đức Năng Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh luân hồi măi nơi khổ thú, một ḷng v́ việc cứu khổ mà dạy cho họ minh tâm kiến tánh. Cũng như nhà Nho chúng ta v́ “thành đức” dạy cho người cùng tột lư tánh, chỉ là một đạo lư thôi.

*

Sách này đặt tên “Kiến Tánh Thành Phật” nghĩa là sao? Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được lư thật của nó.

Hỏi tại sao sách này đặt tên là Kiến Tánh Thành Phật, th́ được giải thích v́ muốn cho người ngưỡng mộ tên này và cần nhận được lư thật của nó. Nghe nói Kiến Tánh Thành Phật ai cũng mong muốn được Kiến tánh thành Phật. Đây là cách gây ấn tượng mạnh cho mọi người thích thú muốn tu.

Kế tiếp là dẫn câu “v́ muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập Tri kiến Phật” trong kinh Pháp Hoa để làm chứng. Nhập Tri kiến Phật hay thành Phật không khác. Chúng ta học Kiến tánh thành Phật sẽ thấy một lối đi, nhận ra Bản tánh của ḿnh là được thành Phật, đó là cái căn bản của quyển sách. Thế nên đây mới nói “người nhận thấy lư đó th́ có thể thành Phật”. Lư đó tức là lư Kiến tánh th́ có thể thành Phật.

C̣n mê nó th́ ta cũng không hề mất.

Bản tánh ḿnh vốn có sẵn, nếu nhận ra nó th́ ḿnh thành Phật, nếu ḿnh quên nó th́ nó cũng không mất. Tại sao vậy?

Bởi Tự tánh sâu lắng, Bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại một ḿnh, vượt thoát không ǵ ngoài.

Đây giải thích tại sao Bản tánh không mất. V́ Bản tánh sâu lắng, hằng trong sáng lặng lẽ, cao vút, c̣n măi, chỉ có một ḿnh, không có ǵ ở ngoài nó được. Như vậy Bản tánh có sẵn nơi mọi người không bao giờ mất, nhưng nó quá yên lặng hằng trong sáng, nhận ra nó là cái nhân thành Phật, nếu quên nó th́ nó cũng hằng hữu không bao giờ mất.

Mới biết, tất cả hàm linh đều có đủ đức tánh Như Lai, do v́ chúng sanh chướng sâu tuệ cạn, nên dùng hằng ngày mà chẳng tự thấy.

Đây nói rơ tánh Phật có sẵn trong tất cả hàm linh (chúng sanh), cho nên nói tất cả hàm linh đều có đức tánh Như Lai. Do v́ chúng sanh chướng sâu tuệ cạn tức là phước duyên thô thiển. Tất cả quí vị ở đây có thấy ḿnh chướng sâu tuệ cạn không? Chắc ai cũng biết ḿnh chướng th́ sâu mà tuệ th́ cạn, nên có tánh Phật sẵn mà không nhận ra. Chúng sanh cũng vậy, v́ chướng làm che ngăn trở ngại, trí tuệ th́ cạn mỏng nên không phá thủng được cái chướng sâu dày, do đó không thấy được tánh Phật của ḿnh.

Vậy nên Đức Năng Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh luân hồi măi nơi khổ thú, một ḷng v́ việc cứu khổ dạy cho họ minh tâm kiến tánh.

Đức Năng Nhân là chỉ cho Phật. Ngài thương chúng sanh đang măi chịu luân hồi trong sáu nẻo, đem tấm ḷng chân thành ra lo việc cứu khổ chúng sanh, bằng cách dạy cho họ được minh tâm, phá thủng cái màng chướng sâu để nhận ra Bản tánh của ḿnh.

Cũng như nhà Nho chúng ta v́ “thành đức” dạy cho người cùng tột lư tánh, chỉ là một đạo lư thôi.

Thời nhà Lê là thời trọng Nho khinh Phật, bấy giờ vua Lê Hy Tông vừa tỉnh ngộ theo Phật, nên ngài Chân Nguyên hay các vị học Phật thời đó muốn nói giáo lư đạo Phật cho quần chúng nghe, thường dẫn Nho làm chứng để cho họ tin, do đó mà có câu này.

Tôi có một người bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta mang tên Tỳ-kheo, từ lâu đă kết chặt nghiệp tập huân nhiễm, tự bỏ của cải nhà ḿnh đi làm khách lang thang, chẳng hay biết châu báu trong áo, không lạ ǵ chẳng thấy tánh! Dù có mà người chẳng khéo nhận thấy Tự tánh ấy mới ngầm khiến bậc Tiên đức tŕnh thuật lại sách này. Bởi chẳng biết ḿnh có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời răn nhắc:“Khi nói đến tâm tánh th́ trừng mắt nh́n nhau?”

Trong lời Tiểu dẫn ngài Diệu Trạm nói:

Tôi có một người bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta mang tên Tỳ-kheo, từ lâu đă kết chặt nghiệp tập huân nhiễm, tự bỏ của cải nhà ḿnh đi làm khách lang thang, chẳng hay biết châu báu trong áo, không lạ ǵ chẳng thấy tánh.

Qua câu nói của ngài Diệu Trạm chúng ta cảm thấy đau thống thiết, v́ ḿnh đă xuất gia làm Tỳ-kheo mà lâu nay cứ kết chặt nghiệp, huân nhiễm theo tập tục thế gian rồi tự bỏ của cải nhà ḿnh làm khách đi lang thang cầu thực, trong áo có sẵn hạt châu vô giá mà không biết. Có châu mà không biết th́ chuyện không thấy tánh không có ǵ là lạ, nhất định là phải như vậy. Lời nói của ngài Diệu Trạm và bạn Ngài ở thời nhà Lê, chúng ta thấy xót xa, xét lại tu sĩ chúng ta ngày nay có giống các Ngài không? Đây là một câu hỏi để ḿnh tự nghiệm.

Dù có mà người chẳng khéo nhận thấy Tự tánh ấy mới ngầm khiến bậc Tiên đức tŕnh thuật lại sách này.

Mặc dù chúng ta có sẵn tánh Phật là của báu mà không nhận thấy, thế nên khiến cho các bậc Tiên đức (Tiên đức chỉ cho ngài Chân Nguyên) mới viết ra sách này để nhắc cho chúng ta nhớ.

Bởi chẳng biết ḿnh có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời răn nhắc: “Khi nói đến tâm tánh th́ trừng mắt nh́n nhau?”

Khi hỏi thế nào là Chân tâm thế nào là Phật tánh th́ trừng mắt mà nh́n chớ không thể trả lời được, như câm như điếc. Đó là đoạn văn, trước hết ngài Diệu Trạm tŕnh bày lư do tại sao cuốn sách này tên là Kiến Tánh Thành Phật. Kế tiếp Ngài nêu lên lư do tại sao Thiền sư Chân Nguyên phải viết cuốn sách này.

Bản sách này, tôi được trưởng lăo Chính Giám viện chùa Vĩnh Nghiêm tặng cho. Cuối lời tựa thấy có ghi: “Đời Lê, niên hiệu Chính Ḥa thứ 19 (1698), in tại chùa Long Động”, th́ biết khoảng cách từ đời Trần đến đời Hậu Lê ít có người nhận được tông chỉ vậy.

Khoảng ba trăm năm sau từ cuối đời Trần đến cuối đời Lê, tông chỉ Thiền ít người nhận được nên Thiền sư Chân Nguyên mới cố gắng viết ra quyển Kiến Tánh Thành Phật này.

Tổ sư Tuệ Đăng của chúng tôi sợ rằng càng lâu càng thất truyền, nên Ngài biên soạn tập sách này, cùng lời biện biệt để chỉ bày. Hăy xem bài tựa ban đầu, lời đơn sơ mà đầy ư vị, chất phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật vừa khuyên người, lại mở bày nghĩa ẩn chứa sâu kín, nói th́ gồm cả phước hữu vi, lời th́ mang đầy hương vị kiến tánh. Đó là nghĩa tiếp nối bậc Thánh từ trước, mở mang cho người về sau.

Thiền sư Chân Nguyên có hai hiệu, một hiệu Chân Nguyên và một hiệu Tuệ Đăng. Ngài sợ Thiền tông lâu ngày bị thất truyền, tức là từ đời Trần trở về sau xa dần dần, người đời không c̣n nhận được Bản tâm, không thấy được Bản tánh nên Ngài mới biên soạn quyển Kiến Tánh Thành Phật cùng những lời biện biệt để chỉ bày. Ngài Diệu Trạm tán thán Thiền sư Chân Nguyên rằng, Ngài sợ Thiền tông đời Trần bị thất truyền nên Ngài mới viết cuốn sách này để giảng dạy, biện biệt cho mọi người biết được ư nghĩa. Muốn biết chỗ này chúng ta hăy xem Lời tựa ở sau. Ngài Diệu Trạm nói Lời tựa tuy đơn sơ mà đầy ư vị, tuy chất phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật của Ngài vừa khuyên người, lại mở bày ư nghĩa ẩn chứa sâu kín. Như ở trước tôi nói, trong đây v́ để thích hợp với người b́nh dân nên Ngài nói về phước hữu vi là lập đài Cửu phẩm liên hoa, niệm Phật cầu văng sanh hay in kinh sách. Tuy nói về pháp hữu vi nhưng chứa đầy ư nghĩa kiến tánh. Ngài làm như vậy là Ngài tiếp nối tinh thần của những bậc Thánh trước và cũng để mở mang cho người sau đồng nhớ hiểu để tu hành.

Song, với người đồng đạo khi thưởng thức ư vị sách này, hoặc có nhận lấy được điều ǵ, th́ cũng như một phen trợ giúp cho việc đi xa, lên cao, chớ cho rằng sách này không thể học theo mà phủ nhận đi. Đời nay đă cách xa, lời nói cũng bị mai một, sách này chẳng c̣n được lưu hành, nên nương theo bản cũ kính cẩn khắc in lại để truyền rộng ra. Nhưng bản cũ nét chữ đơn giản và cẩu thả, nay có tạm sửa lại cho đúng. Pháp sự này đă hoàn thành, tạm mượn ít lời vụng về để tỏ bày duyên khởi, đâu dám nói là Lời tựa!

Chùa Pháp Vũ, cuối thu năm Đinh Dậu

Hậu học Tỳ-kheo Diệu Trạm

Kính ghi

Bản được cất giữ tại chùa Pháp Vũ, thôn Quảng Nội, xă Đồng Lại, tổng Đông Cao, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Mùa an cư kiết hạ, tại am Lan-nhă Thiền Dược, bên mé Đông chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, Ḥa thượng Tuệ Đăng Chân Nguyên hiệu san.

Qua hai ḍng trên của Lời tựa chúng ta biết thêm am Thiền Dược nằm bên mé Đông chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử chớ không phải ở dưới chùa Long Động.

Đoạn này ngài Diệu Trạm nói lên lư do mà Ngài in lại quyển Kiến Tánh Thành Phật này và viết Lời tiểu dẫn. Ngài nói rằng với người đồng đạo khi thưởng thức ư vị sách này, hoặc nhận hiểu được điều ǵ th́ cũng như đi xa hay lên cao mà có được sự trợ giúp, đó là cái tốt. Vậy chớ cho rằng sách này không thể học theo mà phủ nhận nó. Chúng ta phải biết sách này giúp cho chúng ta phần nào trong việc đi xa là tu tiến đến Phật quả và việc lên cao là giải thoát sanh tử, đừng nghĩ rằng quyển sách này không có lợi ích, bỏ đi th́ rất uổng. Bởi v́ “đời nay đă cách xa, lời nói cũng bị mai một, sách này chẳng c̣n được lưu hành”. Từ đời Lê tới đời Nguyễn sau này, quyển Kiến Tánh Thành Phật càng ngày càng không được người biết tới, nên bị mai một, v́ vậy mà ngài Diệu Trạm cho in tái bản để cho mọi người đọc. Đó là lần tái bản ngài Diệu Trạm ghi Lời tiểu dẫn.

II- TỰA

“Kiến Tánh Thành Phật” là liễu ngộ xưa nay không một vật. Nguồn linh rỗng lặng, trong sáng tṛn đồng cả thái hư. Pháp tánh bao trùm, nghiễm nhiên ánh sáng soi suốt nơi sát hải, rơ ràng lồ lộ ngay trước mắt. Bản tánh Như Lai tự như mà ứng hiện trên trời dưới đất, nên hay tùy loại, tùy h́nh, hoặc cơi này phương khác thị hiện ra đời độ thoát quần sanh. Khai quyền th́ phương tiện có muôn pháp, hiển thật th́ hội ngộ về một tâm. Trỏ Phật quả Bồ-đề vô tướng, vốn rỗng lặng tṛn đồng thái hư. Phó pháp ấn Tâm tông Bát-nhă lộ bày bốn mắt nh́n nhau. Trong kinh Lăng-già, quyển hai, đức Phật Thích-ca đă chỉ bày rành rơ. Hàng hậu học ai c̣n ngờ vực xin hăy mau t́m Kinh tra cứu, tự nhiên nghi ngờ hết sạch mà được chứng thật, đốn ngộ kiến tánh thành Phật. Cần biết diệu lư của Phật pháp, chẳng dính dáng ǵ đến văn tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hí luận, bản tế trong lặng tṛn đầy, ba đời chư Phật cuối cùng đành ngậm miệng không lời, nhiều đời Tổ sư rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng. Nên đức Thế Tôn giơ cành hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha Ca-diếp khế hội mỉm cười, thầy tṛ bốn mắt nh́n nhau, tuệ nhăn chiếu sáng lẫn nhau, thầm lặng ấn tâm, phó pháp truyền y nối vị Tổ.

*

Kiến tánh thành Phật là liễu ngộ xưa nay không một vật.

Mở đầu Ngài nói về lư do Kiến tánh thành Phật. Kiến tánh thành Phật là ǵ? Là liễu ngộ xưa nay không một vật. Người nào liễu ngộ xưa nay không một vật th́ gọi người đó kiến tánh. Quí vị có nhớ ai liễu ngộ lư này không? Lư hành giả sau khi ngộ lư này, Ngài làm bài kệ tŕnh Ngũ Tổ, câu thứ ba nói rất rơ lư này: “bản lai vô nhất vật” nghĩa là “xưa nay không một vật”. Đó là Ngài liễu ngộ hay kiến tánh. Tại sao thấy “xưa nay không một vật” mà gọi là kiến tánh? V́ cái ǵ chúng ta thấy được, sờ mó được đều là vật, như cái nhà, cái cây, cái bàn, cái ghế... Vậy, cái ǵ mắt thấy được tay sờ mó được đều là vật. Nếu là vật th́ có h́nh tướng, v́ có h́nh tướng nên sanh diệt vô thường, sanh diệt vô thường th́ tạm bợ hư giả. Bản tánh th́ không sanh diệt không bị vô thường chi phối, v́ nó không phải là một vật. Nếu là một vật th́ nó sanh diệt vô thường. Nhưng nó không phải một vật sao nói là tánh?

Trong đời này có những cái không phải là vật mà vẫn có. Nhà cửa núi sông... có h́nh tướng được gọi là vật, c̣n hư không có phải là vật không? Có ai thấy và sờ mó được hư không không? Hư không không h́nh tướng, chúng ta không thấy không sờ mó được, nhưng vẫn có hư không. Nhà cửa núi sông... có h́nh tướng nên bị vô thường chi phối. C̣n hư không không h́nh tướng song lúc nào cũng có, mà không bị vô thường chi phối. Nhưng nói hư không quí vị sẽ hiểu lầm hư không là cái rỗng tuếch không có ǵ hết và Bản tánh chân thật không h́nh không tướng không có một vật cũng rỗng tuếch th́ sai. Bản tánh hay Tánh giác của mỗi người tuy không có một vật, không h́nh không tướng, nhưng có cái biết chớ không rỗng tuếch. Bây giờ tôi nói chuyện gần nhất cho quí vị tự nghiệm. Khi chúng ta nghĩ về một vật hay một người, th́ chúng ta biết về vật về người. Nhưng khi chúng ta không nghĩ ǵ hết chúng ta vẫn có biết, đâu đợi có vật có người mới có biết.

Ví dụ, tôi ngồi chơi không nghĩ ǵ hết, gió thổi tôi cũng cảm giác mát, tiếng ở xa vang lại tôi vẫn nghe tiếng, người đi trước mặt tôi vẫn thấy người. Vậy thấy người, nghe tiếng, cảm giác mát có suy nghĩ không? - Không suy nghĩ mà vẫn biết. Vậy cái biết h́nh tướng ra sao? Khi suy nghĩ, tâm có niệm dấy động bám với h́nh tướng của pháp trần, hai cái này hợp lại thành tướng sanh diệt. Lúc không suy nghĩ th́ nội tâm vắng lặng, cảnh vật bên ngoài đến liền có cảm giác biết cảnh vật mà không động; biết mà không động, không có tướng sanh diệt, không h́nh tướng mà thường biết. Cái đó gọi là Tánh giác, có sẵn nơi ḿnh mà ḿnh quên không nhớ. Nếu ḿnh nhớ nó th́ chắc cả ngày đi đứng nằm ngồi không nghĩ suy tính toán ǵ cả, giống như người khờ dại. Hiện tại th́ chúng ta khôn quá thấy người th́ phân biệt người đẹp xấu, cao thấp, trắng đen... Nghe tiếng th́ phân biệt tiếng trầm bổng, êm dịu, cộc cằn, tiếng người, tiếng vật, nghĩ đủ thứ thành ra Tánh giác bị khuất lấp bị quên. Ai cũng có Tánh giác không động không tướng mạo mà hằng giác, nhưng không nhớ, chỉ nhớ chạy theo tướng sanh diệt duyên theo sáu trần cho đó là thật, là điều cần yếu để phân biệt. Do đó mà quên mất Tánh giác chân thật của ḿnh, nên Phật Tổ thương xót nhắc nhở.

Nguồn linh rỗng lặng, trong sáng tṛn đồng cả thái hư.

Nguồn linh là Tánh giác không có tướng mạo, không có một vật, nhưng sáng suốt thênh thang thanh tịnh tṛn đồng như thái hư. Nói tṛn là một lối nói, thái hư th́ thênh thang không ngằn , nói tṛn nói vuông ǵ cũng được. Từ xưa chúng ta có thói quen nói trời tṛn, nói tṛn là nói theo thói quen, chớ thái hư th́ không tṛn không vuông. Ví dụ hiện giờ chúng ta đang ngồi trong nhà giảng này, khoảng trống trong nhà giảng gọi là khoảng hư không. Khoảng hư không trong nhà giảng được giới hạn bởi bốn bức tường, chúng ta có thể đo chiều ngang, chiều dài, chiều cao th́ tính được hư không trong nhà giảng này được bao nhiêu khối. Nhưng nếu phá vỡ bốn bức tường th́ hư không không giới hạn không ngằn mé, v́ nó không có tướng mạo nên ḥa đồng với hư không trong bầu trời. Tâm thể của mỗi người cũng vậy, v́ nó không có tướng mạo nên không có giới hạn. Vậy quí vị tưởng tượng coi tâm ḿnh bao lớn? Có người nào ngoài tâm ḿnh không? V́ tâm ḿnh không giới hạn nên trùm khắp, tất cả muôn vật muôn người không ngoài tâm ḿnh, mà ḿnh cũng không ngoài tâm của muôn người muôn vật. Như vậy th́ không có cái cách biệt, do chúng ta căn cứ vào thân tướng nhỏ nhoi ích kỷ này, mới phân chia nhân ngă bỉ thử, từ cái phân chia đó mà có muôn sự sai biệt rồi hơn thua với nhau.

Pháp tánh bao trùm, nghiễm nhiên ánh sáng soi suốt nơi sát hải, rơ ràng lồ lộ ngay trước mắt.

Pháp tánh có chỗ gọi là nguồn linh, có chỗ gọi là Bản tánh; đó chỉ là tiếng gọi khác, nhưng thể th́ không khác. Pháp tánh trùm khắp, ánh sáng soi suốt nơi sát hải; sát là cơi, hải là biển, sát hải là cơi nước nhiều như biển cả. Nó thênh thang trùm khắp, lúc nào cũng lồ lộ ở trước mắt mỗi người, không ở đâu xa, khỏi cần t́m kiếm.

Bản tánh Như Lai tự như mà ứng hiện trên trời dưới đất, nên hay tùy loại, tùy h́nh, hoặc cơi này phương khác thị hiện ra đời độ thoát quần sanh.

Đứng về Bản tánh Như Lai th́ Bản tánh đó như như, từ cái như như đó mà tùy duyên ứng hiện. Hoặc ứng hiện lên cơi trời, hoặc ứng hiện dưới nhân gian, tùy theo h́nh tướng của mỗi loài ở mỗi cơi mà dùng phương tiện giáo hóa độ cho được giải thoát. Nói cách khác Bản tánh Như Lai hay Phật pháp thân th́ trùm khắp, nhưng tùy duyên tùy loài mà ứng thân để giáo hóa.

Khai quyền th́ phương tiện có muôn pháp, hiển thật th́ hội ngộ về một tâm.

Khai quyền là tạm thời khai mở phương tiện. Khi giáo hóa Phật tùy căn cơ chúng sanh mở bày phương tiện nói đến tám muôn bốn ngàn pháp môn. Hiển thật là chỉ cho cái chân thật, Phật phương tiện nói tám muôn bốn ngàn pháp môn, được kết tập lại thành Tam tạng Thánh điển rất là nhiều, nhưng tất cả đều để phá dẹp vô minh phiền năo tham, sân, si v.v... Khi phiền năo hết, vô minh sạch th́ trở về một Bản tâm, không có cái ǵ khác.

Trỏ Phật quả Bồ-đề vô tướng, vốn rỗng lặng tṛn đồng thái hư.

Phật chỉ cho mọi người thấy quả Bồ-đề vốn không có h́nh tướng, nó rỗng rang thanh tịnh tṛn đồng như thái hư.

Phó pháp ấn Tâm tông Bát-nhă lộ bày bốn mắt nh́n nhau.

Phó pháp là trao cho hay ấn chứng. Phó pháp hay ấn chứng Tâm tông đều ở chỗ bốn mắt nh́n nhau. Ngài Chân Nguyên ngộ từ bốn mắt nh́n; thầy Ngài là Thiền sư Minh Lương nh́n Ngài, Ngài nh́n lại, liền cảm ngộ rồi lấy cái đó làm chuẩn. Xưa đức Phật Thích-ca và ngài Ma-ha Ca-diếp cũng từ bốn mắt nh́n nhau mà làm chuẩn. Tại sao trong nhà Thiền hay dùng giai thoại “bốn mắt nh́n”? V́ mắt là cái hay thấy, mà thấy tức là biết. Người đời thường nói suy nghĩ mới biết. Bây giờ chúng ta nh́n người nh́n vật, mà không khởi niệm suy nghĩ phân biệt, lúc đó thấy người thấy vật mà có biết không? Cái ǵ biết? Đó là chỗ mà trong đây chỉ rất rơ ràng không giấu giếm. Ở hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa sen lên, mắt Ngài nh́n đại chúng, Ma-ha Ca-diếp nh́n lại Ngài, hai thầy tṛ cảm thông liền. Vậy Phật và Ma-ha Ca-diếp cảm thông cái ǵ? - Phật thấy Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-diếp thấy Phật, hai thầy tṛ không khởi niệm nghĩ suy ngay đó là truyền pháp. Ngày nay chúng ta vừa thấy là khởi niệm, do đó cái thấy ban đầu bị ẩn mất, nên đây dẫn kinh:

Trong kinh Lăng-già, quyển hai, đức Phật Thích-ca đă chỉ bày rành rơ. Hàng hậu học ai c̣n ngờ vực xin hăy mau t́m Kinh tra cứu, tự nhiên nghi ngờ hết sạch mà được chứng thật, đốn ngộ kiến tánh thành Phật.

Trong kinh Lăng-già có đoạn nói, không phải dùng ngôn ngữ mới là nói pháp, mà một cái nh́n, một cái thấy là đă nói pháp rồi.

Cần biết diệu lư của Phật pháp, chẳng dính dáng ǵ đến văn tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hí luận, bản tế trong lặng tṛn đầy, ba đời chư Phật cuối cùng đành ngậm miệng không lời, nhiều đời Tổ sư rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng.

Diệu lư của Phật pháp th́ chẳng có dính dáng ǵ đến văn tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hí luận. Muốn biết nó không thể dùng văn tự ngôn ngữ, hay hí luận mà có thể biết được. Văn tự ngôn ngữ hay hí luận chỉ là tṛ đùa bàn luận cho vui, chớ không có lẽ thật. V́ bản tế của diệu lư vốn tṛn đầy thanh tịnh sáng suốt, Phật c̣n không nói được, đành phải ngậm miệng không lời, chư Tổ cũng không nói được, nên Thiền tăng hỏi “thế nào là diệu lư của Phật pháp” các ngài chỉ hét hoặc đánh cho một gậy, chớ không nói, v́ nói cái ǵ cũng trật hết. Phật ngậm miệng không lời, sao Phật giảng đến bốn mươi chín năm, kết tập thành Tam tạng giáo điển? - Những lời thuyết giảng của Phật chỉ là phương tiện, không đến được chỗ cứu kính đó. V́ là phương tiện nên kinh nói giáo lư Phật dạy là ngón tay chỉ mặt trăng. Người muốn thấy mặt trăng phải khéo nương ngón tay mới thấy mặt trăng. Ngón tay không phải là mặt trăng và ngón tay không thể chỉ đến tận mặt trăng, nó chỉ là một phương tiện nhỏ thôi. Ngôn ngữ trong Tam tạng giáo điển cũng vậy. Người tu nếu lấy kinh điển làm cứu kính, học thuộc, tụng nhiều cho là ngộ đạo th́ chưa phải. Đó chỉ là phương tiện, bám vào phương tiện mà cho là cứu kính th́ sai, phải biết nương phương tiện để tu tiến đến cứu kính, mới là người hiểu và ứng dụng được lời Phật Tổ dạy.

Nên đức Thế Tôn giơ cành hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha Ca-diếp khế hội mỉm cười, thầy tṛ bốn mắt nh́n nhau, tuệ nhăn chiếu sáng lẫn nhau, thầm lặng ấn tâm, phó pháp truyền y nối vị Tổ.

Phật đưa cành hoa lên, nh́n khắp đại chúng mà không nói một lời. Ngài Ma-ha Ca-diếp thấy Phật nh́n tới ḿnh, Ngài nh́n lại mỉm cười. Thầy tṛ thông cảm rồi phó pháp truyền y, dễ như trở bàn tay không khó khăn ǵ cả. Theo quan niệm thông thường th́ nói mới dễ hiểu, không nói mà hiểu th́ đâu có dễ! Nhưng, chỉ nh́n mà được ấn tâm phó pháp truyền y kế thừa Tổ vị, không cực khổ nhọc nhằn không dễ là ǵ? Thật ra, khó th́ cũng khó tột đỉnh, dễ th́ cũng dễ quá tưởng tượng của con người. Chỗ phó pháp truyền y của Phật cho ngài Ma-ha Ca-diếp là hiện tượng bốn mắt nh́n nhau. Bởi v́ mắt nh́n nhau mới cảm thông được, tai th́ không nh́n nhau được. Lẽ ra tai cũng có quyền nhận ra diệu lư, nhưng làm sao truyền cảm bằng mắt? Chỉ có tiếng nói tai mới nghe. C̣n mắt th́ cảm được, cho nên ngay nơi mắt thấy liền nhận ra.

Tâm ấn Bát-nhă tṛn đồng cả thái hư chân không tỏ rơ, xưa nay vẫn như thế. Từ hai mươi tám vị Tổ Tây thiên truyền đến sáu vị Tổ Đông độ, chỉ thẳng nối tiếp nhau, bốn mắt nh́n nhau, im lặng nh́n trừng trừng, gượng gọi là tâm ấn mà phó chúc đó thôi.

Từ xưa đến nay Phật truyền tâm ấn cho Tổ, hoặc Tổ Tổ truyền nhau chỉ truyền cái chân thật sẵn có của ḿnh, qua hiện tượng bốn mắt nh́n nhau, im lặng nh́n trừng trừng.

Đến các Tổ đời sau ứng hiện ra đời, giúp nêu cao việc giáo hóa, diễn rộng pháp môn, mở rộng phương tiện. Việc ứng duyên đă xong, nguyện lực c̣n để lại, Ngữ lục chợt hưng thạnh, đều lập thành công án, khai sơn dạy chúng, gậy hét dạy đuổi, câu câu về nơi tông, cơ cơ chung một lư.

Đoạn này nói đến chư Tổ đời sau theo nguyện lực ứng hiện ra đời nêu cao việc giáo hóa. Các ngài dùng nhiều phương tiện hướng dẫn người sau, bằng cách tùy theo căn cơ mà nói ra những lời chỉ dạy để đánh thức. Những lời nói đó của chư Tổ được ghi chép để lại gọi là Ngữ lục. Khi Ngữ lục thạnh hành th́ những câu nói khó hiểu đều được lập thành công án. Khai sơn nghĩa là mở núi, chỉ cho các Thiền sư lên núi đốn cây phá rừng, để cất cốc tu hoặc cất chùa giáo hóa môn đồ. Thế nên người đầu tiên lên núi phá rừng cất chùa giáo hóa gọi là Tổ khai sơn. Danh từ này quen dùng, nên về sau vị thầy đầu tiên đào đất đắp nền xây dựng chùa, giáo hóa ở đất bằng cũng gọi là Tổ khai sơn. Chư Tổ giáo hóa c̣n dùng gậy đánh, hoặc hét. Thiền tăng đến tham vấn, vừa hỏi một câu là bị ăn gậy hoặc nghe hét điếc tai. Các ngài không trả lời chỉ đánh hoặc hét. Có một Thiền tăng đến hỏi Tổ Hoàng Bá “thế nào là đại ư Phật pháp”, Ngài không nói mà đánh cho một gậy. Tổ Lâm Tế cũng vậy, Thiền tăng đến hỏi “thế nào là đại ư Phật pháp”, Ngài không nói liền hét một tiếng. Chư Tổ chẳng những đánh hoặc hét, mà c̣n nói những câu dường như vô nghĩa lư, nhưng tất cả đều tùy theo căn cơ của người thưa hỏi, mà chỉ chỗ tột cùng để cho họ xoay lại Thể chân thật của ḿnh.

Hàng thượng căn lănh ngộ th́ được cơ đại hành đại dụng, bậc cao sĩ biết suốt th́ rơ pháp vô trụ vô vi. Song người người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền, phải xét rơ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của Tổ, muôn đuốc ngàn đèn chỉ một ngọn lửa. Nếu người căn cơ bén nhạy bậc thượng th́ hội thông muôn pháp thảy ở nguồn tâm. Nếu người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên th́ thích theo phép thức t́nh phân biệt, luống mở to cửa ngơ, t́nh c̣n hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu, trái với ư chỉ vô sanh.

Người căn cơ bậc thượng hoặc nghe một câu, hoặc nghe tiếng hét, hoặc bị đánh một gậy liền ngộ th́ được đại hành đại dụng. Tại sao chỉ nghe hét hoặc bị đánh lại được đại hành đại dụng? Ngài Nghĩa Huyền nếu không bị Tổ Hoàng Bá đánh ba lần th́ không được đại hành đại dụng. Ngài hỏi “thế nào là đại ư Phật pháp” liền bị Tổ Hoàng Bá đánh cho một gậy, ba lần hỏi ba lần bị đánh. V́ Thể chân thật nếu Tổ có cố gắng dùng ngôn ngữ giải thích cho Ngài lóe thấy chút chút, th́ không nhớ, giống như tia chớp xẹt qua rồi mất, không có ấn tượng mạnh nên dễ quên. Nhưng Tổ đặc biệt không nói, mà dùng hành động coi như tàn bạo, để cho Ngài dồn hết tâm lực vào chỗ mà Ngài muốn biết, đến khi Thiền sư Đại Ngu khơi lên một chút, Ngài liền bật ngộ, th́ muôn đời không quên. Đó là đại hành đại dụng. Đại hành của người trước quá đặc biệt thù thắng, nên người sau nhớ đời không quên. V́ vậy mà Thiền của Tổ Lâm Tế truyền từ trước tới nay hơn một ngàn năm vẫn c̣n. Chúng ta ngày nay nghe giảng th́ lóe hiểu, nhưng một lúc lại quên hết. Đó là tại cơ nhỏ nên hành cũng nhỏ, dụng cũng nhỏ. Thế nên chúng ta có lóe sáng một chút th́ phải tiếp tục dụng công, cái thấy mới sâu, ḷng tin mới vững. Chớ c̣n lóe sáng chút chút mà tự măn, thấy đă đủ rồi th́ từ từ nó mất đi, ban đầu th́ nói đạo lư, dần dần sẽ nói chuyện thế tục, không c̣n ǵ là Phật pháp nữa. Nghe mà nhận được đă hay rồi, nhưng nhận được phải hằng sống mới là viên măn. C̣n nhận được mà chưa sống được th́ chưa phải là viên măn. Đó là chỗ hết sức quan trọng. Ngài Lâm Tế khi nhận được Thể chân thật rồi, từ đó về sau không c̣n b́nh dị phàm tục nữa, mà phong cách Ngài rất kỳ đặc khác thường. V́ cơ duyên ngộ đạo của Ngài quá đặc biệt nên Ngài sống cũng quá đặc biệt. Ngày nay chúng ta nhờ nghe giảng rồi nhận ra, dễ quá nên không có ǵ đặc biệt lắm. Thế nên phải đại hành mới đại dụng. Và khi các ngài thấu suốt rồi th́ rơ được pháp vô trụ vô vi.

Song người người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền, phải xét rơ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của Tổ, muôn đuốc ngàn đèn chỉ một ngọn lửa.

Chúng ta ngày nay tu học phải hiểu rơ kinh Phật, thấu suốt lời dạy của Tổ. Kinh Phật nói hay Ngữ lục Tổ nói, chỉ có một mục đích là giải khổ cho chúng sanh, giống như muôn đuốc ngàn đèn chỉ là lửa, chớ không có ǵ khác. Phải thấy rơ hiểu suốt như vậy, đừng nói kinh này khác với kinh kia, ngữ lục của Tổ này khác với ngữ lục của Tổ kia, rồi đem ra tranh căi chống đối với nhau. Làm như thế là chưa thấu triệt được lời dạy của Phật Tổ.

Nếu người căn cơ bén nhạy bậc thượng th́ hội thông muôn pháp thảy ở nguồn tâm.

Nếu là người căn cơ bén nhạy th́ thấy tất cả pháp đều gốc ở nguồn tâm. Như tất cả lời Phật nói kết tập thành Tạng kinh, đều dạy lóng lặng vọng tưởng, để trở về Bản tâm chân thật của chính ḿnh. Rồi bao nhiêu Ngữ lục của chư Tổ cũng dạy dừng vọng tưởng trở về Tâm chân thật của ḿnh, chớ không dạy cái ǵ khác. Như vậy mới thấy người thấu suốt lư đạo, không cố chấp văn tự ngôn ngữ khác biệt, mà một bề quay về Chân tâm của ḿnh thôi.

Nếu người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên th́ thích theo phép thức t́nh phân biệt, luống mở to cửa ngơ, t́nh c̣n hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu, trái với ư chỉ vô sanh.

Người căn cơ thấp kém th́ chấp nghiêng lệch hoặc bên này hoặc bên kia, theo thức t́nh phân biệt rồi cho cái này hơn cái kia kém. Suy gẫm chất chứa kẹt trong tâm hữu lậu, v́ vậy mà trái với ư chỉ vô sanh. Thế nên người học Phật mà lư luận nhiều tranh chấp nhiều, rốt cuộc chỉ là người mê chấp chớ tu chưa đến đâu.

Bởi do chưa xét tột trí tự nơi ḿnh, nên c̣n bị người lừa dối, ch́m đắm nơi giáo nơi tông, tranh luận nhân ngă, phân biệt kia đây, nghĩ t́m kẽ hở mà công kích lẫn nhau, nhà ḿnh nhà người, đấu lư tranh lời giành hiểu biết. Ai c̣n như thế là chưa vượt khỏi pháp trần phiền năo, chưa lănh hội Chân như b́nh đẳng, ngă chấp pháp chấp chẳng quên, thức thần khư khư chấp cứng, sẽ măi măi ch́m đắm nơi tông giáo. Ai hay nơi dốc đứng buông tay, mới đáng gọi đích thật trượng phu, xưa nay một vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch. Đó là chỗ gọi: “Mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt, được mất phải quấy, thảy đều buông hết, âm thanh sắc pháp, vốn từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi vào đường tà.” Cho nên nói: “Pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng không thấy. Tánh không tức là Phật, chẳng thể nghĩ lường được.” Tông chỉ Bát-nhă vốn ngộ không chỗ được mà được. Từ xưa đến nay không có kiến chấp sai khác, nguồn chân trong lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng vô vi, thể vọng như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên liền có tên có chỗ.

*

Bởi do chưa xét tột trí tự nơi ḿnh, nên c̣n bị người lừa dối, ch́m đắm nơi giáo nơi tông, tranh luận nhân ngă, phân biệt kia đây, nghĩ t́m kẽ hở mà công kích lẫn nhau, nhà ḿnh nhà người, đấu lư tranh lời giành hiểu biết.

Đây là cái bệnh mà ngày nay nhiều người vấp phải. Người vấp phải bệnh này là v́ họ chưa được Trí vô sư nên c̣n bị người lừa gạt, ch́m đắm nơi giáo (Kinh) nơi tông (Thiền) rồi tranh luận nhân ngă. Cái ǵ của tông ḿnh th́ hơn, của tông người th́ kém, t́m kiếm kẽ hở của tông người để công kích bài bác, đấu lư tranh giành phần thắng.

Ai c̣n như thế là chưa vượt khỏi pháp trần phiền năo, chưa lănh hội Chân như b́nh đẳng, ngă chấp pháp chấp chẳng quên, thức thần khư khư chấp cứng, sẽ măi măi ch́m đắm nơi tông giáo.

Câu này chỉ cho người c̣n tâm nhân ngă. C̣n nhân ngă tranh luận hơn thua là người chưa vượt khỏi pháp trần phiền năo. Sở dĩ chúng ta có phiền năo với nhau là v́ ư thức phân biệt duyên với pháp trần. Ví dụ như nghe người chê ta xấu, tiếng chê qua mất rồi, nhưng ư thức ta duyên theo bóng dáng của tiếng chê là pháp trần, khởi phân biệt nhân ngă rồi sanh ra bực bội. Đó là pháp trần phiền năo. Hoặc thấy người làm điều trái ư ta, việc làm của người đó đă qua rồi, nhưng ư thức ta duyên theo bóng dáng của người đó rồi khởi phân biệt mà sanh phiền giận. Đó là pháp trần phiền năo. V́ chưa nhận ra Chân như b́nh đẳng, nên tâm chấp ngă chấp pháp c̣n nguyên, thức thần khư khư chấp cứng. Người như thế sẽ măi măi ch́m đắm nơi Thiền nơi Kinh, nơi chữ nghĩa, không có giác ngộ.

Ai hay nơi dốc đứng buông tay mới đáng gọi đích thật trượng phu.

Người đối với pháp tu, đối với đạo nhắm thẳng một đường mà tiến, không nghiêng bên này không ngả bên kia, giống như người đi trên bờ dốc đứng, không nương gậy, không vịn bờ thơng tay đi một cách tự nhiên, đó mới là bậc trượng phu. Thiền tông c̣n gọi là Tâm tông, tức là tông chỉ thẳng Chân tâm. Người nào khi được chỉ thẳng Chân tâm mà nhận ra, đó là người đi trên dốc đứng buông tay, là hàng trượng phu. Nếu chỉ thẳng Chân tâm mà không nhận ra, c̣n phải nương kinh nương giáo là c̣n nương phương tiện, chưa buông tay đi trên dốc đứng.

Xưa nay một vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch.

Nhận thẳng Bản tâm th́ không có một vật, nên nói “bản lai vô nhất vật”. V́ vậy lưới giáo là phương tiện phải buông sạch. Giáo lư giống như cái nơm để bắt cá, cái bẫy để bắt chim. Cái nơm là phương tiện để bắt cá, khi bắt được cá rồi th́ phải bỏ cái nơm, v́ trọng tâm là bắt cá, nên nói được cá quên nơm. Ở thế gian ai ăn ở bạc bẽo vô ơn vô nghĩa th́ bị chê là được cá quên nơm. Nhưng ở đây th́ dạy khác, dạy con người phải biết cái ǵ là phương tiện, cái ǵ là cứu kính; được cứu kính phải bỏ phương tiện, nếu bám vào phương tiện th́ không được cứu kính. Cái bẫy dùng để bắt chim, khi được chim rồi th́ phải bỏ cái bẫy, v́ trọng tâm là bắt chim. Như vậy được cá được chim th́ phải bỏ nơm bỏ bẫy, v́ trọng tâm là bắt được cá bắt được chim, nơm bẫy chỉ là phương tiện, cá chim là cứu kính. Cũng vậy giáo lư giống như nơm bẫy, là phương tiện để chúng ta đạt được cứu kính là thành Phật, thành Tổ. Khi thành Phật thành Tổ là đạt được cứu kính th́ giáo lư cũng phải quên. Thế nên nói lưới giáo nơm bẫy buông sạch.

Đó là chỗ gọi “mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt, được mất phải quấy thảy đều buông hết”.

Cái ǵ có h́nh tướng có ngôn ngữ đều không thật, giống như mộng như huyễn, như hoa đốm trong hư không. Nó vốn là không thật mà nhọc công nắm bắt để làm ǵ? Thế nên được mất, phải quấy thảy đều buông hết. Khi buông hết những cái không thật th́ trở về cái chân thật. Được mất, phải quấy, là cái tạm bợ giả dối mà bám giữ th́ không bao giờ nhận ra cái thật. Thế nên người biết tu đối với chuyện được mất, phải quấy buông hết th́ gần với đạo, c̣n nắm giữ những cái đó th́ cách đạo muôn trùng. Vậy mà ngồi lại ai cũng bàn chuyện phải quấy, hơn thua đủ thứ. Đó là hướng xa đạo mà không biết!

Âm thanh sắc pháp, vốn từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi vào đường tà.

Đối với âm thanh sắc tướng mà tâm khởi phân biệt là rơi vào đường tà. Tà đây không phải đối với chánh, mà là nghiêng một bên. Tâm vừa khởi niệm phân biệt th́ có phải quấy; phải quấy là hai bên, thấy hai bên là lệch rồi.

Cho nên nói: “Pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng không thấy. Tánh không tức là Phật chẳng thể nghĩ lường được.”

Pháp tánh c̣n gọi là Pháp thân hay Chân tâm, nó vốn rỗng rang lặng lẽ nên không thể thấy, cũng không thể sờ mó nắm bắt được, v́ nó không có h́nh tướng, không bị sanh diệt vô thường chi phối nên gọi là tánh Phật. Và, v́ nó rỗng lặng không h́nh không tướng, nên không thể dùng ư niệm nghĩ lường được, càng suy lường về tánh Phật th́ càng sai càng xa.

Tông chỉ Bát-nhă vốn ngộ không chỗ được mà được.

Câu này sao mâu thuẫn quá! Không chỗ được mà được là sao? Trong Bát-nhă Tâm Kinh chúng ta tụng hằng đêm có câu: “V́ không có chỗ được nên Bồ-tát y theo Bát-nhă ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại. V́ không ngăn ngại, nên không sợ hăi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu kính Niết-bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhă ba-la-mật-đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Để hiểu chỗ này tôi đưa ra vài ví dụ cho quí vị hiểu từ cạn tới sâu. Ví dụ một cái bàn ở trước mắt chúng ta, được trưng bày nào ṿng, xoa, xuyến... đầy bàn. Nhưng tất cả những món nữ trang đó là thau mạ vàng, không phải vàng thật. V́ chúng ta không biết, thấy nó vàng đẹp liền mua vài món để làm của. Vậy những món nữ trang chúng ta mua có phải là vàng thật không? Chắc chắn là không thật. Cũng vậy, tất cả pháp thế gian là hư ảo không thật, mà chúng ta bám vào đó th́ làm ǵ có được cái chân thật? Đó là ví dụ nhỏ. C̣n việc lớn hơn là chúng ta tu là t́m cái chân thật có sẵn nơi ḿnh. Thân năm uẩn này vốn không thật mà chúng ta thấy nó là thật, nên không thấy được cái chân thật có sẵn nơi ḿnh. V́ vậy, Phật dạy chúng ta phải dùng trí Bát-nhă quán chiếu thấy ngay nơi thân năm uẩn không thật có cái chân thật. Như vậy, trước phải thấy cái giả rồi, sau mới nhận ra cái thật. Nếu ngay thân năm uẩn này mà thấy là thật, rồi cho là ḿnh th́ không bao giờ nhận ra cái chân thật, cho nên ở đây nói chỗ không được mà được. Nghĩa là chiếu soi thấy năm uẩn đều không, mới qua khỏi tất cả khổ ách. Hoặc thấy tất cả pháp đều không, không có chỗ được mới được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người tu c̣n bám vào cái hư ảo cho là thật, th́ đừng mong nhận được cái chân thật, mà phải thấy rơ các pháp không thật không có chỗ được, mới nhận ra cái chân thật hay Phật tánh, đây gọi là kiến tánh. Đó là ư nghĩa “tông chỉ Bát-nhă vốn ngộ không chỗ được mà được”.

Từ xưa đến nay không có kiến chấp sai khác, nguồn chân trong lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng vô vi, thể vọng như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên liền có tên có chỗ.

Nếu từ xưa đến nay chúng ta không có kiến chấp sai khác, th́ nguồn chân nơi chúng ta nó trong trẻo yên lặng, nhiệm mầu, sáng suốt, vô tướng, vô vi. Tất cả tướng hiện ra là cái hư vọng, giống như hoa đốm trong không, tạm khởi lên rồi có tên có chỗ, nhưng sau đó nó mất. V́ chúng ta cứ chạy theo tướng hư dối quên đi cái chân thật, nên chúng ta không nhận ra được.

Ḥa thượng Chân Nguyên là người quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, trước kia c̣n đồng tử đi xuất gia theo Phật, lên thẳng chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được ư chỉ tông ấn ḍng Trúc Lâm với Thiền sư Chân Trú hiệu Tuệ Nguyệt. Không bao lâu Thiền sư Chân Trú nghiễm nhiên trở về không (tịch). Sư lại gặp thiện tri thức chung nhóm ba huynh đệ, đồng chí hướng, đồng tu tập, đồng giới phẩm, tham học thành tài.

Thiền sư Chân Nguyên người tỉnh Hải Dương, lúc c̣n bé Ngài đi thẳng lên chùa Hoa Yên núi Yên Tử, xuất gia với Thiền sư Chân Trú. Ngài xuất gia không bao lâu Thiền sư Chân Trú tịch, Ngài mới t́m thiện hữu tri thức để học đạo. Duyên lành gặp được ba người bạn đồng chí hướng, đồng giới phẩm, cùng tham học cùng tu tập, được thành tài.

Sư y cứ kinh Phạm Vơng, Như Lai đă phó chúc: “Nếu trong khoảng ngàn dặm có bậc Đại tông sư, phải mau đến ân cần cầu xin thọ giới Bồ-tát.” Ví như lầu cao bốn tầng phải theo thứ lớp đi lên. Cũng vậy bốn đàn giới phẩm có thể lên tới địa vị Phật. Sư lại là người học rộng thấy trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục tổ Huệ Năng đă được ấn kư ở Hoàng Mai, rồi gặp nhiều hoạn nạn chưa kịp đăng đàn thọ giới, sau đó cũng thỉnh chư Tăng đồng đến chứng cho cạo tóc, thọ giới mới được tṛn sáng. Nếu thật là đệ tử Phật không được trái bỏ vượt qua. Như Lai đă nói, quyết phải thuận theo. Ngày trước đă có việc như trên, ngày nay đâu không việc này. Muốn được quả thù thắng, phải tuân theo điều này mà vâng làm. Sư chuẩn bị đầy đủ ca-sa, tọa cụ, pháp phục, sắm lễ vật với tâm thành, v́ pháp vượt xa xôi thẳng đến chùa Vĩnh Phúc trên núi Tôn Côn Cương, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, một lần nữa đảnh lễ Tôn sư Minh Lương, tức Ḥa thượng Măn Giác truyền pháp tông Lâm Tế, thỉnh cầu lên đàn thọ giới Bồ-tát. Trong Kinh Phật nói: bởi người đắc đạo vốn do nhân duyên từ nhiều kiếp đă ngộ sâu Chân như mà cảm kích đến Phật Tổ.

Sau khi Ḥa thượng Chân Trú tịch, th́ ngài Chân Nguyên cùng với ba người bạn đồng tu mới đi học đạo. Lúc đi học đạo các ngài y cứ nơi kinh Phạm Vơng. Trong kinh có dạy “nếu trong khoảng ngàn dặm có bậc Đại tông sư phải mau đến ân cần xin thọ giới Bồ-tát”. Thọ giới để tu giống như cái lầu cao bốn tầng phải theo thứ lớp đi lên. Trước hết là bước lên tầng thứ nhất, rồi lên tầng thứ hai, rồi lên tầng thứ ba, tầng thứ tư... Giới luật cũng vậy, tầng thứ nhất là mười giới Sa-di, tầng thứ hai là hai trăm năm mươi giới Tỳ-kheo, tầng thứ ba là năm mươi tám giới Bồ-tát, bên Tăng chỉ có ba tầng. Bên Ni có đủ bốn tầng là Sa-di-ni, Thức-xoa, Tỳ-kheo ni và Bồ-tát giới. Người theo bốn đàn giới phẩm này tu hành có thể tiến đến quả vị Phật.

Thiền sư Chân Nguyên là người học rộng, xem kinh Pháp Bảo Đàn, thấy kể lại việc Lục tổ Huệ Năng được Ngũ Tổ ấn chứng cho, sau đó gặp nạn trốn trong rừng, nhưng sau khi hết nạn ra giáo hóa, Ngài cũng cạo tóc thọ giới. Nếu là đệ tử Phật th́ đối với giới luật không được trái bỏ vượt qua, dù đă ngộ đạo và được ấn chứng. V́ đó là lời dạy của Như Lai, quyết phải làm theo, ngày xưa đă như vậy th́ ngày nay cũng phải như vậy. Thế nên ngài Chân Nguyên mới chuẩn bị đầy đủ ca-sa, tọa cụ và lễ vật, vượt đường xa thẳng đến chùa Vĩnh Phúc trên núi Côn Cương, ở phủ Từ Sơn, Kinh Bắc (Bắc Ninh). Ngài đảnh lễ Thiền sư Minh Lương một lần nữa để tham học, sau Ngài ngộ đạo và được truyền pháp của tông Lâm Tế. Từ đây, Ngài đă đầy đủ giới đức và là người ngộ đạo, nên nói người có chủng duyên lành nhiều đời nhiều kiếp, nên khi đi tu có sự cảm kích đến Phật Tổ, khiến gặp được những bậc Cao tăng thạc đức, chỉ dạy cho đạo lư chân chánh. Ngược lại nếu không có duyên phước ở nhiều đời th́ không có cơ hội tốt đó.

Sư xúc động than rằng: “Phật xưa sớm được công quả cao siêu, do siêng tu thắng hạnh đầu-đà. Hương hoa muôn vật là ngoại tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân Phật khó đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả!” Sư bèn cung kính đối trước tượng Phật dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện: “Trước đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền đáp ân sâu của Phật Tổ, Sư trưởng.” Sau Sư đốt tiếp một ngón tay nữa: “Nguyện đem pháp cúng dường này, nương theo kinh Phạm Vơng thọ giới Bồ-tát và thẳng lên mười đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời đời tiếp nối đèn tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ. V́ tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng lên Tổ Điều Ngự. Tùy nguyện của chúng hữu t́nh, mà cảm đến Trí vô lậu.”

Ngài Chân Nguyên khi đă nhận được yếu chỉ Thiền tông Ngài xúc động than rằng:

Phật xưa sớm được công quả cao siêu, do siêng tu thắng hạnh đầu-đà. Hương hoa muôn vật là ngoại tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân Phật khó đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả!

Ngài nhớ đến công ơn của đức Phật trải qua nhiều năm tu hành khó khổ mới thành Phật. Ngài nghĩ ngày nay ḿnh ngộ được đạo, thấu được lư Thiền, ḿnh phải làm sao? Lấy cái ǵ cúng dường Phật để tỏ ḷng biết ơn? Ngài nói rằng hương hoa muôn vật... là ngoại tài là cái ở bên ngoài, c̣n cánh tay hay ngón tay là nội tài, Ngài đem hết tâm thần và sanh mạng để cúng dường Phật Tổ, mới mong đền đáp được phần nào cái ơn khó đền của Phật Tổ. Ngài cung kính đối trước tượng Phật, dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện:

Trước đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền đáp ân sâu của Phật Tổ, Sư trưởng.

Quí vị thử tưởng tượng, ở trước tượng Phật đưa ngón tay vào lửa cho nó cháy từ từ, cháy cho đến hết ngón tay, thật là can đảm. Chúng ta ngày nay lúc thọ giới Bồ-tát, chỉ đốt một chút trên đầu mà c̣n thấy đau điếng, huống là để ngón tay trong lửa, cho nó cháy lụn từ từ đến cụt ngón tay! Đó là ư chí siêu phàm, v́ Phật Tổ mà không tiếc thân mạng của Ngài. Sau đó Ngài lại đốt tiếp một ngón tay nữa với lời phát nguyện:

Nguyện đem pháp cúng dường này, nương theo kinh Phạm Vơng, thọ giới Bồ-tát và thẳng lên mười đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời đời tiếp nối đèn tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ. V́ tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng lên Tổ Điều Ngự. Tùy nguyện của chúng hữu t́nh mà cảm đến Trí vô lậu.

Khi Ngài thọ giới Bồ-tát, trong kinh Phạm Vơng có nói cúng dường nội tài bằng cách thiêu thân, hoặc thiêu ngón tay hoặc thiêu ngón chân v.v... Thế nên Ngài đốt ngón tay thứ hai là v́ tông (Thiền) giáo (Kinh) mong đời đời tiếp nối trí tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ. Ngài dâng lên cho Tổ Điều Ngự Giác Hoàng chứng giám và tùy theo tâm niệm của chúng hữu t́nh mà Trí vô lậu của Ngài được tỏ sáng để hướng dẫn d́u dắt chúng sanh.

Tóm lại, ngài Chân Nguyên v́ cái ơn cao dày của Phật, Tổ, Sư trưởng nên Ngài hi sinh thân mạng để đền đáp, đó là Ngài đốt ngón tay thứ nhất. Ngài đốt ngón tay thứ hai Ngài nguyện đời đời kiếp kiếp luôn luôn tiếp nối đèn trí tuệ của Phật, và kế thừa y bát của Tổ để làm lợi ích cho chúng sanh. Đốt hai ngón tay với hai ư nguyện rất cao sâu.

Sư dốc chí cầu quả Phật Vô thượng Bồ-đề nên nhiếp niệm nơi núi rừng, ở yên chốn vắng vẻ, tư duy Phật pháp, mở rộng qui mô to lớn, c̣n măi với trời đất, gầy dựng nền tảng cho tông và giáo, quần sanh được lợi lạc, pháp giới đều thấm nhuần ân đức.

Sau khi ngộ đạo và đốt tay cúng dường phát nguyện, Ngài luôn ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, để suy gẫm về Phật pháp và mở bày phương tiện hướng dẫn cho người sau tu, mong Phật pháp c̣n măi với trời đất. V́ vậy mà Ngài gầy dựng nền tảng cho tông và giáo để cho quần sanh được lợi lạc, pháp giới được thấm nhuần ân đức của Phật. Đó là nguyện lớn v́ lợi ích chúng sanh mà Ngài muốn cho Phật pháp được bền lâu.

Sư từng chọn nơi phúc địa Việt Nam, với cảnh chùa Quỳnh Lâm, Hoa Yên là hai cảnh danh lam, khiến trở thành như trên hội Linh Sơn nước Tây Thiên Trúc, là cột trời ở Việt Nam, bảo phường của Phật Tổ, nêu cao đây là Cực Lạc.

Ngài Chân Nguyên chọn nơi để giáo hóa cho mọi người. Dưới đất bằng Ngài chọn chùa Quỳnh Lâm, trên núi Ngài chọn chùa Hoa Yên là hai chỗ được coi là danh lam phúc địa, để gầy dựng cho có cơ mở mang sáng suốt. Giống như trên hội Linh Sơn ngày xưa Phật giảng kinh ở Ấn Độ và cũng tương tợ như cơi Cực Lạc vậy.

Người dân thường th́ thuế vụ đầy đủ, làm Thích tử tu hành th́ đốt hương chúc Thánh: “Mạch nước lâu dài, Thiền tông sáng rỡ, tượng pháp lưu truyền, độ người vô lượng.”

Là công dân sống trong đất nước, thường phải có bổn phận đóng thuế, làm tất cả nhiệm vụ đối với quốc gia cho đầy đủ. C̣n người tu th́ phải đốt hương chúc Thánh. Tức là đốt hương để cầu nguyện cho đất nước được thái b́nh bền vững lâu dài và Thiền tông th́ sáng rỡ, Phật pháp truyền măi trên đời, làm lợi ích cho người vô số.

Từ đó Sư hăng hái phát chí nguyện lớn, khuyến hóa mọi người khắp nơi đem tiền của kết duyên lành, góp phần công đức, rồi ra sức tạo dựng đài “Cửu Phẩm Liên Hoa”. Qua chín năm th́ hoàn thành ba đài ở ba nơi:

1. Đài Cửu phẩm ở chùa Quỳnh Lâm, núi Tiên Du.

2. Đài Cửu phẩm ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.

3. Đài Cửu phẩm ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.

Ngài Chân Nguyên là người tu Thiền ngộ lư Thiền, nhưng khi truyền bá Phật pháp trong quần chúng, Ngài dùng phương tiện vừa Thiền vừa Tịnh. Về Tịnh Ngài tổ chức dựng những đài Cửu phẩm liên hoa cho người vừa đi vừa quay vừa niệm Phật. Cửu phẩm liên hoa gồm có thượng phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh, hạ phẩm hạ sanh; trong thượng phẩm lại có thượng, trung, hạ; trong trung phẩm cũng có thượng, trung, hạ; trong hạ phẩm cũng có thượng, trung, hạ, tất cả là chín phẩm. Người tu giỏi th́ được sanh lên thượng phẩm, người tu vừa vừa th́ được sanh lên trung phẩm, người tu thấp nhất th́ được sanh lên hạ phẩm. Ai tu cũng được lên đài sen, cao thấp ǵ cũng có chỗ hết, không người nào mất phần cả. Phương tiện như thế người dân quê thấy dễ tu mới thích tu. Giả sử người dân đang nhọc nhằn làm ăn chưa tu kịp, lúc gần chết nhớ niệm Phật, tối thiểu cũng được sanh lên hạ phẩm. Đó là phương tiện giáo hóa của Ngài hồi xưa. Ba đài Cửu phẩm liên hoa đặt ở ba chùa. Đài thứ nhất đặt ở chùa Quỳnh Lâm núi Tiên Du. Chùa Quỳnh Lâm ở vùng đồng bằng gần mé sông, đến đó chúng ta không thấy núi. Đài thứ hai đặt ở chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử. Đài thứ ba ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.

Sư lại khắc in các kinh Pháp Hoa... đem hết ḷng làm Phật sự để đền đáp ân Phật. Tượng đức Di-đà nổi bật trên đài Cửu phẩm, và thêm tu sửa tượng điện, gác chuông chùa Long Động, trong ngoài được vuông tṛn, công đức viên măn, cũng không quên nguyện lực, quyết chí công phu chỉ cầu quả Phật. Núi Yên Tử vốn là chỗ tu hành, tùy thời dạo đi qua lại chùa Hoa Yên, Long Động và am Thiền Dược, được thú ở yên lặng lẽ, lại có phước duyên sanh ra gặp được Phật pháp.

Đây là nói đến việc hoằng hóa của Ngài. Ngài khắc in lại kinh Pháp Hoa và các kinh khác, đồng thời Ngài tạo tượng Phật A-di-đà đặt trên đài Cửu phẩm liên hoa, nào là sửa tượng Phật, điện Phật, gác chuông chùa Long Động, đồng thời Ngài quyết chí công phu tu cầu Phật quả. Ngài thường ở chùa Hoa Yên, song Ngài c̣n tùy duyên qua lại am Thiền Dược trên núi Yên Tử, Ngài cũng tới lui chùa Long Động, v́ những nơi này vắng vẻ thanh tịnh rất thích hợp với người tu. Đó là thời gian vừa tu vừa làm Phật sự của Ngài. Qua đoạn này, chúng ta thấy ngài Chân Nguyên có lối truyền bá Phật pháp khác hơn Phật giáo đời Trần. Phật giáo đời Trần nói tới Tịnh độ, chỉ đề cập tới lư Tịnh độ, như nói “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ”. Đến đời Lê có lẽ ngài Chân Nguyên thấy cơ duyên của người trí thức đối với Phật giáo hơi kém. V́ đời Lê trọng Nho khinh Phật, cho nên người trí thức ở triều đ́nh ít để ư tới Phật. Người để ư tới Phật là người b́nh dân, nên Ngài phải hạ thấp phương tiện để người b́nh dân tu học. Đời Trần vua chúa tu Thiền, bá quan là người trí thức cũng nghiên cứu Thiền, nên không cần hạ  thấp phương tiện. Đời Lê giới trí thức theo Nho giáo, họ không nghiên cứu đạo Phật, chỉ có người b́nh dân th́ hướng theo đạo Phật, nên Ngài hạ thấp phương tiện, bằng cách tạo những đài Cửu phẩm liên hoa là sự Tịnh độ, để cho người b́nh dân thấy dễ tu dễ gần với Phật pháp hơn.

Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa (1680-1705), đức Giác Hoàng Cổ Phật sanh trở lại để mở bày hiển rơ Tạng kinh. Mây từ nhuận khắp, mưa pháp thấm đều, từ hàng Thích tử cho đến muôn dân đồng được hưởng ân huệ. Vua tôi mừng tụ hội, đúng thời tiết nhân duyên, Phật pháp hiện tiền. May được chứng quả mà gánh vác Phật pháp, thay Phật tuyên dương. Đă rơ biết Pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tṛn đồng thái hư; Chân như trong lặng nhiệm mầu, vốn không một vật. Tuy trong ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày có nhiều cửa.

Triều Lê, vua Lê Hy Tông bài Phật, nhưng sau khi được Thiền sư Tông Diễn cảnh tỉnh, nhà vua hối hận quay về với Phật pháp. Vua ủng hộ cho Tăng Ni làm Phật sự, nên trong thời này các vị Thiền sư tán thán vua Lê Hy Tông, xem vua Lê Hy Tông như là hậu thân của Điều Ngự Giác Hoàng. Điều Ngự Giác Hoàng đă tịch ba trăm năm rồi, bây giờ vua Lê Hy Tông ra đời cũng kính trọng và lo mở mang truyền bá Phật pháp, nên được xem là hậu thân của Điều Ngự Giác Hoàng. Phải hiểu chỗ này là như vậy, nếu không th́ nói đức Giác Hoàng Cổ Phật sanh trở lại th́ không biết sanh làm sao. Triều đại nhà Lê th́ trọng Nho khinh Phật, nhưng đến đời vua Lê Hy Tông, Phật pháp mới được truyền bá rộng răi, nhà nhà mới được thấm nhuần mưa pháp. Hàng tăng sĩ và muôn dân đều được thấm nhuần ân huệ của nhà vua, tu hành khiến cho Phật pháp được sống dậy, nên nói Phật pháp được hiện tiền.

May được chứng quả mà gánh vác Phật pháp thay Phật tuyên dương.

Người tu hành được chứng quả th́ ra gánh vác việc đạo, thay Phật tuyên dương chánh pháp.

Đă rơ biết Pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tṛn đồng thái hư; Chân như trong lặng nhiệm mầu vốn không một vật.

Đứng về mặt Pháp tánh th́ rỗng rang vắng lặng tṛn đồng như thái hư. Đứng về mặt Chân như th́ trong suốt, yên tĩnh, nhiệm mầu vốn không có một vật.

Tuy trong ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày có nhiều cửa.

Trong ánh tịch quang là trong Pháp thân. Pháp thân Phật th́ lặng lẽ mà sáng suốt, vốn không có một vật, nhưng đứng về phương tiện chỉ bày dạy bảo th́ có nhiều pháp môn. Đoạn này nói trên lư đạo th́ không có ngôn ngữ, không có một cái ǵ để tŕnh bày được, nhưng đứng  về phương tiện th́ lập bày nhiều pháp môn để cho người hiểu tu theo.

Xét ngày xưa có thực hành, ngày nay mới có thể học theo. V́ vậy kinh Kim Cang phần ba mươi hai, hội giải câu “như như bất động”, Thiền sư Xuyên Lăo nói: “Một câu rốt sau mới đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời bốn mắt nh́n nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân.”

Suy gẫm lại, nhờ ngày xưa đă có tu có hiểu, nên ngày nay ra đời, mới gặp Phật pháp, mới có thể theo học và tu. Sau đây là dẫn kinh Kim Cang:

V́ vậy kinh Kim Cang phần ba mươi hai, hội giải câu “như như bất động”.

“Như như bất động” là sao? Thiền sư Xuyên Lăo giải câu “như như bất động” là:

Một câu rốt sau mới đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời bốn mắt nh́n nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân.

Thiền sư Xuyên Lăo trong quyển Thiền Tông Bản Hạnh tôi có nói rơ lịch sử của Ngài rồi. Hôm nay ở đây tôi chỉ nhắc lại sơ thôi. Thiền sư Xuyên Lăo nguyên là Thiền sư Đạo Xuyên ở đời Tống thuộc ḍng Lâm Tế, Ngài là người tu hành ngộ đạo. Người đời thường đem kinh Kim Cang tới hỏi, Ngài giải đáp rất thông suốt, nên người đời yêu cầu Ngài chú thích kinh Kim Cang. Bản  kinh  Kim  Cang  Ngài  chú  thích  gọi  là “Xuyên Lăo Kim Cang Kinh Chú”. Ngài dùng h́nh ảnh Thiền để giảng kinh Kim Cang rất hay. Đây là câu làm bằng chứng: Trong kinh Kim Cang có câu “như như bất động”, Ngài giải: “một câu rốt sau mới đến lao quan”, nghĩa là như như bất động là chỗ câu rốt sau đến lao quan. Lao quan là cửa chót trong tam quan, tu đến đây rồi th́ “liền được chư Phật ba đời bốn mắt nh́n nhau”. Tới đây th́ không thể dùng văn tự ngôn ngữ để nói năng bàn luận mà chỉ nh́n nhau thôi. Và, tới đây sáu đời chư Tổ cũng thối lui không nói lời nào cả. Đó là Thiền sư Xuyên Lăo giải câu “như như bất động”. Như vậy, như như bất động dưới con mắt nhà Thiền là đă đến chỗ lao quan, là cổng chót. Đến cổng chót rồi th́ không cần lời nói, mà chỉ nh́n nhau rồi lănh hội. Nh́n nhau lănh hội th́ không động. Chính cái nh́n nhau lănh hội đó, nên mới nói ba đời chư Phật bốn mắt nh́n nhau. Và, chư Tổ đến đó chỉ có bước lùi, chớ không giải thích ǵ được, nên nói chư Tổ thối thân. Lối giải thích này của Thiền sư Xuyên Lăo được mọi người khen là câu giải thích rất hay.

Đáng bảo là sông ng̣i toàn đóng băng, nước chẳng thông thoát; tột mắt đều là gai góc, không chỗ đặt chân. Đến trong ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích. Chẳng phải v́ đoạn dứt yếu tân, bởi do người biết pháp e ngại.

Đây tán thán câu giải thích của Thiền sư Xuyên Lăo:

Đáng bảo là sông ng̣i toàn đóng băng.

Ngài Xuyên Lăo giải đáp như vậy giống như sông ng̣i đóng băng không c̣n một chút nước lỏng, nước chẳng thông thoát nên ngừng chảy.

Tột mắt đều là gai góc.

Nh́n tột cùng chỗ nào cũng là gai góc, không có chỗ để chân. Như vậy là khen câu giải thích của Thiền sư Xuyên Lăo, làm cho người nghe bặt dứt hết nghĩ suy không c̣n chỗ suy gẫm.

Đến trong ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích.

Đối với thể “như như bất động”, nếu thêm một chút nhỏ xíu bằng mảy tơ cũng giống như là để kim trong con mắt. C̣n nếu bớt một chút cũng giống như là thịt lành mà khoét thành thương tích; thêm là họa mà bớt cũng là họa. Như vậy chỗ “như như bất động” không thể thêm hay bớt được.

Chẳng phải v́ đoạn dứt yếu tân, bởi do người biết pháp e ngại.

Tân là bến đ̣, là chỗ trọng yếu để mọi người lên xuống đ̣ qua sông, chỗ quan trọng mà chận lại gọi là đoạn. Ư nói rằng chỗ như như bất động không thể dấy niệm phân biệt, nếu khởi tâm phân biệt là đă trái rồi nên người biết pháp chẳng muốn đoạn dứt chỗ trọng yếu của Phật pháp mà ngại người khởi tâm suy nghĩ về chỗ như như bất động là sai lầm.

Tuy nhiên như thế, Phật pháp chỉ như trên đây, bèn thấy trên đất bằng chết ch́m, đâu có đèn đèn mồi sáng măi.

Tới đây nói ngược lại, tuy chỗ cứu kính là như vậy, nhưng nếu Phật pháp chỉ toàn là lời nói dứt nghĩ suy hết th́ sao?

- Bèn thấy trên đất bằng chết ch́m.

Trên đất bằng không có nước tại sao lại chết ch́m? V́ “đâu có đèn đèn mồi sáng măi”. Lư này Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm nói “nếu ta một bề nêu cao tông giáo, th́ trong pháp đường này cỏ mọc cao một trượng”. V́ nói mà không cho hiểu, không cho suy nghĩ th́ đâu có ai chịu đi nghe, không người đi nghe th́ giảng đường vắng người không ai lui tới, nên cỏ mọc cao cả trượng. Song, nếu muốn giảng đường có người lui tới để nghe giảng, th́ phải phương tiện hạ thấp xuống mới có người nghe. Có người nghe th́ mới có người hiểu, có người hiểu th́ mới có đèn đèn mồi sáng măi. Chớ nói không cho hiểu, không hiểu th́ không có người nghe, học th́ làm sao có người tiếp nối. Thế nên ngài Chân Nguyên nói rằng, lời giải đáp của Thiền sư Xuyên Lăo thật là chí lư, tột cùng. Nhưng nếu ai cũng giải như vậy th́ Phật pháp sẽ suy, v́ không có người theo tu học. Không có người theo tu học th́ không có sự kế thừa tiếp nối, làm cho sáng rạng Tổ tông, cho nên ngài Chân Nguyên mới lập bày phương tiện là lập đài Cửu phẩm liên hoa.

Thượng tọa Xuyên ngày nay chẳng khỏi đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt châu dưới hàm rồng dữ, mở toang cửa mầu của bậc Thánh trước, người hậu học có lối tiến thân. Buông ra một đường, lại đâu có ngại? Nói th́ toàn bày pháp thể, nín th́ riêng lộ chân thường, động th́ chiếc hạc mảnh mây, tịnh th́ an non sắp núi, tiến một bước như voi chúa xoay đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống, pháp vương pháp lệnh đang hành, liền hay tự tại đối với pháp. Chỉ như một câu rốt sau, làm sao nói? Lại nói được chăng?

Ngài Chân Nguyên khen Thiền sư Xuyên Lăo giải thích như vậy giống như đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt châu ở dưới hàm rồng dữ. Đối với cọp mạnh, rồng dữ mà giựt được thức ăn giành được hạt châu, là “mở toang cửa mầu của bậc Thánh trước”, khéo làm cho người hậu học có lối để tiến lên. Bây giờ nói cái đặc biệt:

Buông ra một đường, lại đâu có ngại?

Như vậy th́ mở một đường ra cho người th́ có ngại ǵ?

Nói th́ toàn bày pháp thể, nín th́ riêng lộ chân thường.

Nếu nói th́ nói cho người nhận ra pháp thể. C̣n nếu nín th́ nín mà vẫn hiện bày được cái chân thường, đó là cái kỳ đặc.

Động th́ chiếc hạc mảnh mây, tịnh th́ an non sắp núi.

Hai câu này rất nên thơ, Ngài nói nếu động th́ động như chim hạc bay trên hư không, như áng mây bay giữa bầu trời; chim hạc áng mây bay qua không lưu lại dấu vết, không dính không kẹt vào hư không, bầu trời. Và, nếu tịnh th́ vững vàng như núi như non. Người tu đến chỗ cao siêu rồi th́ động cũng được, tịnh cũng được. Nhưng động th́ phải động như mây như hạc, c̣n tịnh th́ phải tịnh như núi như non, chớ động như khỉ như vượn, tịnh như cục đất như ḥn đá th́ không được. Trong chúng này nếu động tịnh được như vậy th́ tôi cho dạo phố, nếu không được th́ phải khép ḿnh ở trong nội viện để tu. Tại sao vậy? V́ động th́ dính mắc nên ra ngoài không được, c̣n tịnh th́ lại chôn vùi không vững như non như núi th́ cũng không được.

Tiến một bước như voi chúa xoay đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống.

Thật là oai! Bước tới th́ như voi chúa xoay đầu, lùi lại th́ giống như sư tử gầm rống. Như vậy th́ cái ǵ cũng là cái kỳ đặc hết.

Pháp vương pháp lệnh đang hành.

Như vậy th́ cái lệnh pháp vương hay pháp lệnh đang thi hành, chớ không lúc nào mà tầm thường.

Liền hay tự tại đối với pháp.

Người như vậy th́ hay tự tại đối với pháp.

Chỉ như một câu rốt sau, làm sao nói? Lại nói được chăng?

Đây Ngài dùng hai câu thơ trả lời:

Mây ở đầu non nhàn quá đỗi,
Nước chảy dưới khe rất rộn ràng.

Đó là nói câu rốt sau. Quí vị thấy câu rốt sau chưa? “Mây ở đầu non nhàn quá đỗi” nghĩa là sao? Mây bay lơ lửng ở đầu núi, mây không có ư niệm bám dính đầu núi. Nó ở đó mà nó vô tâm.

Nước chảy dưới khe rất rộn ràng.

Nước chảy dưới khe suối tuy rất rộn ràng, nhưng không có niệm phải chảy thật nhanh hay chảy thật chậm. Vậy câu rốt sau là câu ǵ? - Tịnh như mây ở đầu núi, mà động như nước chảy dưới khe. Cái nào cũng có nhưng mà vô tâm. Như vậy, chúng ta tu làm sao đối với cảnh nào dù đẹp hay xấu, tâm chúng ta vẫn an nhàn tự tại, không dính mắc như mây ở đầu núi, như nước chảy dưới khe. Sống được như vậy mới thấu lư “như như bất động” trong kinh Kim Cang.

TỤNG:

Được chỗ thảnh thơi hăy thảnh thơi,

Mây tự bay cao nước tự trôi.

Chỉ thấy mây đen nhồi sóng lớn,

Thuyền câu ch́m đắm chửa nghe rồi.

Âm:

Đắc ưu du xứ thả ưu du,
Vân tự cao phi thủy tự lưu.
Chỉ kiến hắc vân phiên đại lăng,
Vị văn trầm khước điếu ngư chu.

Được chỗ thảnh thơi hăy thảnh thơi, mây tự bay cao nước tự trôi.

Hai câu này dẫn ư của hai câu trên. Ở đời có rất nhiều người ở trong cảnh nhàn hạ thảnh thơi, mà không chịu thảnh thơi, không ai bắt lo nghĩ bận bịu mà cứ bận tâm lo nghĩ. Thật là người khờ đáng thương. Bây giờ tất cả quí vị kiểm lại coi, nhất là Tăng Ni trong Thiền viện, ở đây chúng tôi có bắt quí vị suy tính t́m cớ sanh nhai không? Có bắt quí vị ôn bài vở để thi cử không? Có bắt quí vị lo thiếu lo đủ không? - Không bắt quí vị lo ǵ hết, như vậy là cho quí vị thảnh thơi, thế mà quí vị có chịu thảnh thơi không? Có người th́ thảnh thơi, nhưng cũng có nhiều người chưa chịu thảnh thơi, tâm bận nghĩ việc này lo việc kia, thật quá ngu khờ rất đáng thương! Được thảnh thơi mà không chịu thảnh thơi không ngu là ǵ? Người đời bị gia duyên ràng buộc, phải lo cơm ăn áo mặc cho cha mẹ vợ con, lo an sinh xă hội, lo hưng vong cho đất nước, đủ thứ lo nên chưa thảnh thơi là có lư do. C̣n Tăng Ni tu ở Thiền viện không phải bận tâm lo ǵ cả, như vậy th́ c̣n ǵ mà không thảnh thơi? Thế nên quí vị phải học thuộc ḷng câu “được chỗ thảnh thơi hăy thảnh thơi”. Tất cả phải siêng năng bằng cách thảnh thơi; thảnh thơi như mây tự bay cao nước tự trôi. Tuy cũng làm việc cũng hoạt động, nhưng hoạt động giống như mây bay, như nước chảy vậy thôi. Nấu cơm th́ cứ nấu cơm, khiêng củi th́ cứ khiêng củi, nhổ cỏ th́ cứ nhổ cỏ, nhưng làm như nước chảy như mây bay vậy đó. Sống như vậy mới đúng tinh thần ở núi, chớ c̣n được thảnh thơi mà không chịu thảnh thơi th́ quá khờ, thật đáng thương mà cũng đáng trách.

“Chỉ thấy mây đen nhồi sóng lớn, thuyền câu ch́m đắm chửa nghe rồi” nghĩa là sao?

Mây đen bay, gió đùa nước, sóng dậy; đó là chuyện gió thổi th́ sóng dậy, chớ không phải gió thổi có ư làm ch́m thuyền câu. Gió thổi th́ sóng đùa, duyên nào theo duyên nấy, nếu chúng ta là chiếc thuyền câu ở trong cảnh đó, mau chèo vào bờ th́ không bị ch́m được yên ổn. Đâu phải mỗi lần gió là thuyền ch́m! Vậy tất cả chúng ta phải tu làm sao như mây bay nước chảy vậy. Làm th́ cứ làm, sống cũng cứ sống, không dính mắc vào cái ǵ cả. Mọi cái ngang trái ngược đăi của người chung quanh, coi như gió thổi đùa sóng, chúng ta là chiếc thuyền, núp vào bờ là an ổn. Nếu khi gió thổi sóng dậy, chúng ta bơi thuyền ra đương đầu với sóng gió th́ thuyền úp. Con người chúng ta có những cái ngu rất đáng thương. Ở trên, trong chỗ thảnh thơi mà không chịu thảnh thơi là cái ngu thứ nhất. Tới đây, gió thổi sóng dậy là chuyện của gió của sóng, chớ gió đâu có ư nhận ch́m thuyền. Vậy mà chúng ta không chịu chèo thuyền vô bờ, lại cứ chèo thuyền ra khơi đương đầu với sóng gió nên thuyền bị  úp. Đó là cái ngu thứ hai. Quí vị hiện có mặt ở đây có ai ngu như thế không? - Càng học càng tu mới thấy ḿnh càng ngu. Người đời cứ tưởng ḿnh khôn, nghe người nói trái tai là xông vô gây chuyện. Người ta nói trái là chuyện của người ta, ḿnh vẫn là ḿnh có dính dáng ǵ đâu, vậy mà cũng xen vào để phiền năo, không ngu là ǵ? Học qua bài kệ này quí vị ráng học cho thuộc để khôn lên.

Xưa nay không lối nào khác, người thông suốt th́ cùng chung một đường. Chư Phật đều có để phương tiện, vốn thuật lại chí nguyện tiếp nối công phu. Tâm mong người trở thành rường cột cho Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau soi xét noi theo. Tôi theo khắp các kinh trong Đại tạng, mở bày tâm địa ra nơi từ chương (chữ nghĩa) mà soạn thành một bản luận lưu truyền, đặt tên là “Kiến Tánh Thành Phật”.

Thiền sư Chân Nguyên nhắc lại, ngày xưa và hiện nay không có đường nào khác, người thông suốt th́ cùng đi chung một đường chớ không có hai. Chư Phật đều có để phương tiện là Kinh Luật Luận cho chúng ta t́m hiểu. Sở dĩ Ngài thuật lại cuốn sách này là để tiếp nối công phu và phương tiện của chư Phật, chư Tổ để lại. Thâm tâm Ngài mong có người trở thành rường cột của Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau soi xét noi theo. Ngài xem các kinh trong Đại tạng, rồi mở bày tâm địa ra nơi chữ nghĩa, soạn thành luận để lưu truyền đề tên là Kiến Tánh Thành Phật; là quyển luận mà chúng ta đang học đây.

Nhằm nêu rơ nguyện lực ra đời, và giúp lo gánh vác sứ mạng Như Lai, đời đời tiếp nối ngọn đèn Phật Tổ, làm sáng rực con mắt của trời người. Đời sau ai là người có chí lớn, giữ ǵn gia phong của Phật, pḥ tŕ tượng pháp an ổn lâu dài, th́ phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Hoặc kẻ thấy đài Cửu phẩm hư đổ và các kinh bản cũ mục, th́ hăy khuyến hóa đàn-na, cùng nhau góp sức hưng công tu bổ lại, tự rất mừng vui cho ḿnh, thật đă làm được nhân duyên tốt đẹp. Nếu hay hết ḷng đền đáp ân Phật, sẽ sớm được Di-đà thọ kư.

Ở đây nói, v́ ngài Chân Nguyên muốn làm rơ cái nguyện lực trong đời này và phụ gánh vác sứ mạng của Như Lai, khiến cho ngọn đèn của Phật Tổ đời đời được tiếp nối sáng măi, để cho cả trời người thấy được ngọn đèn sáng đó. Thế nên Ngài ước mong đời sau ai là người có chí lớn, th́ ǵn giữ gia phong của Phật, pḥ tŕ tượng pháp được an ổn lâu dài. Người đó sẽ được phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Ngài nói nếu kẻ nào thấy đài Liên hoa hư đổ, hoặc những bản kinh cũ đă hư mục th́ hăy khuyến hóa đàn-na thí chủ góp sức tu bổ lại. Được như vậy mới là người tạo nhân duyên tốt đẹp. Người tu theo Tịnh độ, hết ḷng đền đáp ơn Phật như vậy th́ sẽ được Phật Di-đà thọ kư. Sau đây là bài kệ cảnh tỉnh khuyên đàn-na thí chủ bố thí ủng hộ.

Kệ cảnh tỉnh đàn-na:

Quyến thuộc đều bỏ đi,    
Tiền của trả lại người.
Chỉ căn lành ǵn giữ,
Đường hiểm lương thực đầy.

Âm:

Quyến thuộc giai xả khứ
Tài hóa tán hoàn tha
Đản tŕ tự thiện căn
Hiểm đạo sung lương thực.

Quyến thuộc đều bỏ đi, tiền của trả lại người.

Bài kệ này cảnh tỉnh người đời rằng, một ngày kia khi thở ra mà không hít vào th́ quyến thuộc đều bỏ hết, bà con quyến thuộc không người nào đi theo ḿnh cả. Lúc đó dù có bao nhiêu tiền của cũng để lại hết cho thế gian. Đó là hai câu răn nhắc người đời lúc nhắm mắt ra đi.

Chỉ căn lành ǵn giữ, đường hiểm lương thực đầy.

Ngài dạy người nào khôn ngoan khéo ǵn giữ căn lành của ḿnh, th́ khi nhắm mắt chỉ một ḿnh cô đơn đi trên con đường hiu quạnh, nếu đă có hành trang lương thực đầy đủ th́ không lo đói lo thiếu. Bài kệ này hơi nặng về người Phật tử. Người Phật tử thường có hai cái lo, cái lo thứ nhất là lo làm cho có nhiều tiền, nhiều của để dành cho con cháu, đó là cái lo thông thường của thế gian. Cái lo thứ hai là lo làm lành làm phước, để dành cho ngày mai khi nhắm mắt có đủ hành trang ra đi. Lo làm cho có nhiều tiền của để dành, rồi phải lo cất giữ sợ trộm cắp cướp đoạt. Và khi nhắm mắt thở hơi cuối cùng, tất cả phải để lại hết không mang theo được chút nào cả. C̣n nếu lo phước đức cho nhiều, th́ của ḿnh là của ḿnh, không ai giành giựt cướp đoạt được. Như vậy lo một cái không bảo đảm và lo một cái bảo đảm c̣n hoài, th́ quí vị nên lo cái nào? Chuyện gần nhất và rơ nhất là quí Phật tử làm ăn khá có nhiều tiền nhiều của, chẳng những không hết lo mà lại càng lo nhiều hơn. Tại sao có tiền của nhiều lại lo nhiều? - V́ có tiền của nhiều, một là sợ trộm cắp cướp đoạt, nên tối ngủ không yên giấc hồi hộp lo sợ mất của, hai là lo sợ người ta giựt, lo đủ thứ, thành ra tiền của nhiều thêm lo, bất an, ngày nay c̣n th́ mừng ngày nay, ngày mai chưa chắc c̣n, không bảo đảm ǵ hết. C̣n nếu làm được phước đức nhiều th́ không lo, không cần tủ sắt để bảo quản, không cần ǵ hết, phước đức bỏ ở đâu cũng không sợ mất, tối ngủ kḥ không sợ ai ŕnh rập lấy cắp. Đó là hành trang của người nhắm mắt ra đi, thật là khỏe không bận tâm lo ǵn giữ. Như vậy, người khôn sáng suốt th́ nên lo cái ǵ nhiều? - Nên lo cái bền lâu không mất mát. Vậy quí vị nhớ học thuộc bài kệ này.

Nghĩ đến lạnh hăy lo dệt áo ấm, chớ đợi sau khi đă lạnh. Nghĩ đến khát hăy lo đào giếng, chuẩn bị trước khi chưa khát. Lo sẵn cầu đ̣, làm phước niệm Phật, in kinh tạo tượng, như gấm thêm hoa, lấy làm công án văng sanh Tây phương, cửu huyền thất tổ cùng chung được vượt lên chín phẩm hoa sen nơi thế giới Cực Lạc.

Ngài nhắc gần đến mùa Đông nghĩ đến lạnh th́ phải lo may áo ấm trước, đợi tới lạnh th́ may áo ấm không kịp. Và, nghĩ đến khát th́ phải lo đào giếng, chớ đợi đến khát th́ đào giếng không kịp. Đây Ngài dạy chúng ta phải biết lo xa, thấy sự việc sẽ đến th́ phải tạo phương tiện thích nghi với hoàn cảnh sắp đến, để được an ổn, đó là người biết lo xa. Như vậy, bố thí cúng dường tụng kinh niệm Phật, hay tạo tượng in kinh... việc làm này là tạo phương tiện để ḿnh văng sanh Tây phương, đó cũng là phương tiện cùng với cửu huyền thất tổ vượt lên chín phẩm hoa sen nơi thế giới Cực Lạc.

Kinh nói: “Ḿnh được độ rồi độ người, tự lợi rồi lợi tha, người đă biết tỏ bày cho người chưa biết, người giác trước chỉ dạy cho người giác sau.” Như một trăng hiện thành các trăng nơi ngàn sông, trăng trăng rọi sáng rực; tợ một ngọn đèn mồi truyền cho đèn nơi muôn nhà, đèn đèn nối tiếp sáng măi. Chính quyển luận này là tâm tông của Phật Tổ. Chính quyển luận này là Kiến tánh thành Phật. Diệu lư của luận này như tia lửa mặt trời, được chừng một mảy tơ th́ sáng rỡ không cùng tận. Xem học mà ngộ đạo th́ như uống nước cam lồ. Người lượng cao quán sâu th́ suốt tột đáy nguồn của pháp.

Đây Ngài dẫn kinh để nhắc nhở chúng ta, ḿnh được độ rồi độ người, tức là chúng ta tu đă thấy được lối đi không c̣n ngờ vực nữa th́ phải hướng dẫn chỉ cho mọi người cùng đi với ḿnh.

“Tự lợi rồi lợi tha”, tức là chúng ta tu nhận được những lợi ích quí báu trên đường tu, th́ phải giúp cho mọi người cùng được lợi ích như ḿnh.

“Người đă biết tỏ bày cho người chưa biết”, tức là ḿnh tu học đă được thông suốt th́ phải chỉ bày cho người chưa biết để họ cùng biết với ḿnh.

“Người giác trước chỉ dạy cho người giác sau”, là ḿnh đă được giác ngộ rồi chỉ cho người sau cùng giác ngộ với ḿnh. Như vậy mới đúng tinh thần học đạo của người tu theo Phật. Ngài Chân Nguyên mong rằng quyển Kiến Tánh Thành Phật của Ngài, giống như một mặt trăng trên hư không hiện muôn ngàn mặt trăng ở sông nước, trăng trăng sáng rực, cũng giống như một ngọn đèn được thắp sáng, mồi cho đèn muôn nhà được sáng, khiến cho đèn đèn nối tiếp sáng măi. Đó là tinh thần của luận Kiến Tánh Thành Phật.

Như tia lửa mặt trời, được chừng một mảy tơ th́ sáng rỡ không cùng tận.

Ngày xưa lấy lửa bằng cách đưa gương lên mặt trời, bên cạnh có nhúm bổi, ánh sáng mặt trời rọi xuống gương phát lửa ngún bổi cháy cả chùm lửa lớn, sáng khắp nơi.

Xem học mà ngộ đạo th́ như uống cam lồ. Người lượng cao quán sâu th́ suốt tột đáy nguồn của pháp.

Ngài Chân Nguyên nói, người xem quyển luận này mà được ngộ đạo, th́ chẳng khác nào như uống nước cam lồ. Người có lượng cao mà quán sâu thấy thấu suốt được pháp này, th́ đó là thấu được cội nguồn của chánh pháp.

Hội rằng:

Bủa lưới giăng ngang sông,
Được cá một mắt lưới.
Kinh lục đầy pháp giới,
Ngộ đạo không một chữ.

Âm:

Hội vân

La vơng bố hoành giang,
Đắc ngư nhất mục vơng.
Kinh lục măn pháp giới,
Ngộ đạo vô nhất tự.

Bủa lưới giăng ngang sông, được cá một mắt lưới.

Lời hội nói rằng khi bủa lưới th́ cái lưới kéo ngang một khoảng sông, khi cá mắc lưới chỉ kẹt một mắt, chớ không kẹt một lần đến hai ba mắt lưới, hay kẹt cả cái lưới. Cũng vậy kinh luận Phật Tổ th́ rất nhiều, nhưng chúng ta tu, nếu ngộ th́ chỉ ngộ một câu, song ngộ rồi một câu cũng quên luôn, không c̣n chữ nào hết, nên nói “kinh lục đầy pháp giới, ngộ đạo không một chữ”.

Bản tánh rỗng lặng, tṛn đồng thái hư, trong lặng nhiệm mầu và tṛn sáng, trọn không một vật. Nên biết, ngàn Kinh muôn Luận đều là lời nói chỉ mặt trăng, đâu ích ǵ với lư này. Tin tức ấy như thế! như thế! Rơ biết muôn pháp, tạm đồng với hoa đốm trong không. Nếu là bậc thượng cơ, ngại ǵ một tiếng cười!

Nói về lư Bản tánh th́ nó rỗng lặng tṛn đồng với thái hư, nó trong lặng nhiệm mầu và tṛn sáng, không có một vật. Nên biết, ngàn kinh muôn luận đều là lời nói chỉ mặt trăng, đâu ích ǵ với lư này. Vậy lư này nói cái ǵ? - Kinh luận là ngón tay chỉ mặt trăng, lư này là mặt trăng; ngón tay là phương tiện chỉ mặt trăng, ngón tay không phải là mặt trăng. Ví dụ trong pḥng này, tôi dùng ngón tay chỉ ngọn đèn, quí vị nh́n theo ngón tay tôi để thấy ngọn đèn, ngón tay tôi không phải ngọn đèn. Như vậy ngọn đèn là mục tiêu, ngón tay chỉ là phương tiện, nương ngón tay để thấy mục tiêu ngoài ngón tay. Cũng vậy kinh luận là ngón tay chỉ mặt trăng, là phương tiện để chúng ta nhận ra Bản tâm của ḿnh, chớ kinh luận không phải là cái ḿnh chết sống trong đó luôn. Nhưng ngày nay chúng ta lại chết sống trong đó, như vậy chúng ta là người chỉ biết ngón tay mà quên mặt trăng. Đó là cái bệnh của người tu thời nay. Nhớ, mặt trăng không phải là ngón tay, ngược lại ngón tay không phải là mặt trăng. Phải khéo nương ngón tay để thấy mặt trăng, như thế mới khôn ngoan.

Tin tức ấy như thế! như thế! Rơ biết muôn pháp tạm đồng với hoa đốm trong không.

Nếu biết rơ muôn sự muôn vật giữa đời này không thật, giống như hoa đốm trong hư không th́, “nếu là bậc thượng cơ, ngại ǵ một tiếng cười”. Như vậy th́ muôn sự muôn vật trước mắt cũng chỉ là tṛ đùa không có ǵ quan trọng th́ chỉ cười thôi.

Bài kệ ngộ đạo:

Phật Tổ trong ba đời,
Bốn mắt cùng nh́n nhau.
Xưa nay không hai lối,
Thành Phật sát-na thôi.

Âm:

Tam thế chư Phật Tổ,
Tứ mục cộng tương quan.
Cổ kim vô nhị đạo,
Thành Phật sát-na gian.

Phật Tổ trong ba đời, bốn mắt cùng nh́n nhau.

Phật Tổ đời quá khứ, Phật Tổ đời hiện tại và Phật Tổ đời vị lai, đôi mắt thầy và đôi mắt tṛ nh́n nhau mà ngộ đạo. Ngày nay chúng ta tu ai cũng có đôi mắt, không ai thiếu, nhưng tại sao không ngộ đạo? Chỉ cần có hai mắt, thầy nh́n tṛ, tṛ nh́n thầy là ngộ đạo, tại sao không ngộ?

Xưa nay không hai lối, thành Phật sát-na thôi.

Từ xưa đến nay chư Phật và chư Tổ khai ngộ cho đệ tử đều như vậy, không có lối nào khác. Chỉ trong chớp mắt là ngộ đạo thành Phật không lâu. Phật nh́n Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-diếp nh́n lại Phật, hai thầy tṛ nh́n nhau chỉ trong sát-na tích tắc là cảm thông, chớ không có lâu.

Đó là chân không vô tướng, là cha mẹ của trời đất muôn vật, làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay, chẳng sanh chẳng diệt. Mây tụ th́ tối mà chân không chưa từng tối. Mặt trời soi th́ sáng mà chân không chưa từng sáng. Ẩn hiển cùng  bày, sắc không chẳng hai, trời đất muôn vật, chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô vi. Chợt hiện ra mặt thật xưa nay, ĺa danh ĺa tướng, mở toang then chốt trên đảnh môn hướng thượng, đèn tâm của Phật Tổ truyền sáng măi không cùng tận. Khi hiển mà nói, th́ có tám muôn pháp môn. Với mật mà ngộ, th́ chỉ bốn mắt nh́n nhau.

Sau đây giảng rơ lại một lần nữa: Chỗ mà Phật Tổ bốn mắt nh́n nhau liền ngộ đạo, chỗ đó là “chân không vô tướng”. Nghĩa là cái thấy của thầy và cái thấy của tṛ, hai cái thấy đó không có h́nh tướng. Nhưng, lại là “cha mẹ của trời đất muôn vật, làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay, chẳng sanh chẳng diệt”. Sau đây Ngài ví dụ:

Mây tụ th́ tối mà chân không chưa từng tối. Mặt trời soi th́ sáng mà chân không chưa từng sáng.

Trong khoảng hư không này, nếu có mây th́ nh́n thấy nó tối, khi mây tan mặt trời rọi th́ thấy nó sáng. Thấy tối thấy sáng là do mây tụ mây tan và mặt trời soi, chớ khoảng hư không không có tối có sáng. Cái đổi thay sanh diệt là cái ở bên ngoài, không phải là cái chân thật. Cái chân thật th́ không đổi thay sanh diệt, ở đây ví dụ như hư không. Hư không không tối không sáng “ẩn hiển cùng bày, sắc không chẳng hai, trời đất muôn vật, chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô vi”. Ẩn là khuất, hiển là bày, nhưng cả hai đều hiện bày; sắc và không cũng chẳng phải hai. V́ đứng về Bản thể th́ không có cái ǵ ngoài, cho nên nói trời đất muôn vật chỉ là một thể nguyên thần, vô trụ vô vi. Người tu nào đến chỗ đó rồi th́ mặt thật xưa nay của ḿnh hiện ra. Cái đó “ĺa danh ĺa tướng, mở toang then chốt trên đảnh môn hướng thượng”. Tất cả then chốt gài kín từ trước tới giờ, bất thần mở toang ra th́ bỗng dưng trên đảnh môn ḿnh có một lối đi, một con đường hướng thượng. Bấy giờ “đèn tâm của Phật Tổ truyền sáng măi không cùng tận. Khi hiển mà nói th́ có tám muôn pháp môn.” Với người chưa ngộ phải dùng phương tiện th́ có tới tám muôn pháp môn. Nhưng với mật mà nói th́ cái chỗ thầm kín là phải tự ngộ, th́ chỉ “bốn mắt nh́n nhau”, rất đơn giản.

Tôn kính chúc rằng:

Quốc gia có măi, ngôi báu kim luân cùng với trời đất c̣n hoài.
Phật đạo không cùng, nối Tổ truyền tông đồng với Thứu Phong chẳng mất.

Kính đề tựa.

Hai ḍng này như đôi liễn. Ngài chúc quốc gia đất nước c̣n măi, ngôi vua cùng với trời đất c̣n hoài. Ngày xưa th́ chúc như thế, ngày nay th́ cầu cho đất nước c̣n hoài, chánh phủ được bền vững. Đó là chúc ngoài đời. Trong đạo th́ chúc Phật đạo không cùng, Tổ tông th́ được truyền nối măi, vững bền như ngọn núi Linh Thứu ở Ấn Độ, c̣n hoài không dứt.

Lời tuy đơn giản, nhưng nói rơ ràng cái chí nguyện của Ngài v́ đạo mà phải cố gắng, phải hi sinh, quên ḿnh tu để được ngộ và giúp cho người cùng được ngộ như ḿnh. Đó là trọng tâm mà Ngài mong mỏi.

Trường thủy, hàng hậu học truyền giữ Tổ thiền, Thích tử Trương Viết Đức tự Tính Phương giữ bản này.

Triều Lê niên hiệu Chính Ḥa thứ 19 (1698), ngày lành mùa Đông năm Mậu Dần khắc in lại.

Bản khắc in lưu trữ tại chùa Long Động, núi Yên Tử, nay lại dời ra lưu trữ tại chùa Quỳnh Lâm để cho người sau hiểu rơ.

Thích tử Chân B́nh ghi chép.

Đoạn này kể lại người lưu giữ, năm khắc in tái bản, nơi trữ và người ghi chép bản Kiến Tánh Thành Phật.

Sau khi kết thúc phần giảng Lời tựa, tôi nhắc nhở cho Tăng Ni và Phật tử tu hành phải nhớ điều này: Học qua Lời tựa của luận Kiến Tánh Thành Phật tôi rất thông cảm và cũng có chút buồn. V́ tại Thiền viện Trúc Lâm tôi dồn hết tâm lực, tạo điều kiện tốt để cho Tăng Ni tu tiến, nhưng có một số Tăng Ni không dồn hết tâm lực để tu hành. Ở dưới Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu... Tăng Ni c̣n nhiều việc phải làm, một là lao động cho có cơm gạo ăn, hai là khi bệnh Thiền viện chỉ giúp một phần chớ không giúp đủ, ba là bận lo chuyện ngoại giao bên ngoài, nên mất nhiều th́ giờ tu tập. C̣n ở đây quí vị không phải lo những việc đó, tuy có trồng rau, trồng hồng, trồng hoa kiểng, làm th́ làm chớ không phải lo đủ lo thiếu, làm được bao nhiêu hay bấy nhiêu, không đ̣i hỏi đạt chỉ tiêu. Như vậy tại sao không làm việc như mây trôi nước chảy? Tôi muốn quí vị làm cứ làm không bận không lo. Vậy mà có nhiều người cứ lo cứ bận, đó là cái dở. Kế nữa là mọi thứ nhu yếu quí vị cần là Thiền viện cung cấp, không phải bận tâm lo cho có tiền để mua sắm. Hết kem đánh răng tới Tri sự nói tôi hết kem đánh răng là Tri sự cho kem, đôi dép rách tới xin dép là Tri sự cho dép, đau bệnh th́ có khám bệnh cho thuốc. Khỏi phải lo ǵ hết mà vẫn c̣n bận bịu tâm không chịu yên, không lo cái này cũng nghĩ cái khác, lo nghĩ những chuyện bâng quơ làm mất th́ giờ vô ích. Tôi muốn quí vị đừng lo, mà quí vị cứ lo, như vậy là quí vị tu không đúng chỗ tôi mong muốn. Kế nữa là ở đây sống không lo không tính, th́ đâu có chuyện ǵ buồn giận. Phật thường dạy: Người thế gian v́ tham muốn mà không được nên nổi sân. Ở Thiền viện quí vị tu, buông xả, có ǵ đâu mà tham, không lo đói, không lo khát, vậy mà lâu lâu cũng có sân. Không tham mà có sân là chuyện vô lư. Không có quyền giữ tiền riêng, không có quyền để đồ đạc dư th́ tham cái ǵ? Tất cả đều xem nhẹ, thấy như không cần, không có lư do để tham, không có lư do để tham tại sao lâu lâu cũng có phiền năo? - Đó là do tâm lư của hai bên, bên này không có ǵ để lo mà cứ lo, bên kia không có ǵ đáng sân mà thỉnh thoảng cũng có sân. Thật là phi lư, v́ vậy mà tôi buồn, buồn cho những cái phi lư, đáng lư không xảy ra mà xảy ra. Vậy quí vị tu phải khéo, phải khôn ngoan, cái không đáng xảy ra đừng để cho xảy ra. Đó là tôi nhắc Tăng Ni trong Thiền viện.

Sau đây tôi nhắc các Phật tử, một là phải tu sao cho được giải thoát sanh tử, hai là nếu chưa giải thoát sanh tử được th́ phải chuẩn bị cho đời này ra đi được nhẹ nhàng an lạc. Muốn được nhẹ nhàng an lạc th́ không ǵ hơn ngay trong lúc c̣n khỏe mạnh, tinh tấn tu hành xả bỏ tham sân si. Tham sân si giảm th́ phiền năo ít. Hiện tại Tăng Ni và Phật tử ai cũng sốt sắng ham tu vậy mà tham sân si không chịu bỏ. Tham sân si không chịu bỏ, mà muốn giải thoát an vui th́ thật là vô lư. Thế nên từ nay về sau quí Phật tử phải xả bỏ tham sân si, nếu c̣n từ 10% đến 20% th́ c̣n tha thứ, nếu c̣n từ 50% trở lên th́ không thể chấp nhận. Chúng ta tu th́ tham sân si phải giảm, giảm tham sân si th́ phiền năo mới bớt, tạo phước mới c̣n. Tham sân si c̣n, dù có làm phước, phước cũng bị mất bởi tham sân si. Vậy tôi mong quí Phật tử tu hành càng ngày càng sáng suốt, mỗi năm nh́n lại ḿnh thấy tham sân si có giảm mỏng, chớ không được c̣n nguyên.

III- KỆ KIẾN TÁNH

Một điểm rỗng rang thể vốn không,
Muôn điều tạo hóa ấy cơ đồng.
Bao la thế giới ngoài trời đất,
Lặng ánh hàn quang cơi cơi trong.
Ở Thánh chẳng thêm phàm chẳng bớt,
Vuông tṛn tùy món mặc dung thông.
Ngàn sông nước lắng trăng in bóng,
Hoa nở khắp nơi rực sắc hồng.

Âm:

Nhất điểm hư vô thể bản không,
Vạn ban tạo hóa giá cơ đồng.
Bao la thế giới càn khôn ngoại,
Trạm tịch hàn quang sát hải trung.
Tại Thánh bất tăng phàm mạc giảm,
Phương viên tùy khí nhậm dung thông.
Thủy trừng nguyệt hiện thiên giang ấn,
Sắc ánh hoa khai đại địa hồng.

Trước khi học bài kệ Kiến Tánh tôi giải sơ về từ “kiến tánh thành Phật” cho quí vị hiểu. Có nhiều người nghe nói kiến tánh thành Phật lầm cho rằng kiến tánh th́ thành Phật, nên đâm ra hoang mang. Tại sao ngày xưa đức Phật tu hành khổ hạnh đến ba vô số kiếp mới thành Phật, ngày nay chúng ta tu kiến tánh là thành Phật liền? Chữ kiến tánh với chữ thành Phật đi liền với nhau hay có một ẩn ư nào trong đó? Nếu ngày nay chúng ta tu mà kiến tánh thành Phật liền th́ trái với giáo lư của Phật. V́ trong kinh có ghi, sau khi đức Phật Thích-ca ra đời ở thế giới Ta-bà này trải qua một thời gian thật lâu dài mới có đức Phật Di-lặc ra đời. Hiện tại Phật Di-lặc chưa ra đời, người tu Thiền nói kiến tánh liền thành Phật th́ Phật ra đời nhiều lắm. Như vậy th́ trái hẳn với giáo lư Phật dạy. Nếu chúng ta không hiểu tường tận ư này th́ sẽ lúng túng.

Chữ “kiến tánh” đây là nhận được tánh Phật của chính ḿnh, tánh Phật là Phật nhân, nếu ḿnh nhận được Phật nhân th́ tương lai sẽ có Phật quả, nên nói thành Phật. Phật gọi tánh Phật đó là Phật nhân, hay nói cách khác là Phật pháp thân. C̣n Phật thành đạo dưới cội bồ-đề hay trong hội Long hoa mai kia là Phật quả hay là Phật báo thân. Như vậy kiến tánh thành Phật là nhận ra Phật nhân, nhưng đến Phật quả th́ phải c̣n nhiều đời nhiều kiếp tu nữa mới được thành, chớ không phải kiến tánh liền thành Phật. Nếu kiến tánh liền thành Phật th́ chư Tổ gọi là Phật chớ đâu gọi là Tổ. Bây giờ chúng ta gọi Tổ Đạt-ma, Tổ Huệ Khả, chớ đâu gọi Phật Đạt-ma, Phật Huệ Khả... Như vậy các ngài kiến tánh là nhận được Phật nhân, nhưng phải vô số kiếp tu hạnh Bồ-tát mới thành Phật quả. Hiểu như thế chúng ta mới không hoang mang về việc chư Tổ kiến tánh mà không thấy vị nào thành Phật. Tôi tạm ví dụ cho dễ hiểu: Người nông dân có một số lúa giống th́ nhất định sẽ có lúa ăn. Sẽ có lúa chớ không phải có lúa ăn liền, v́ có lúa giống c̣n phải cày cấy gieo mạ, bón phân, lúa ra bông, lúa chín rồi mới có lúa ăn. Như vậy người nông dân có lúa giống th́ biết chắc rằng sẽ có lúa ăn, nếu người ấy siêng năng cày cấy đúng cách. Lúa giống ví dụ như Phật nhân, có Phật nhân th́ sẽ có Phật quả, v́ từ Phật nhân đến Phật quả, phải trải qua một thời gian khó nhọc tu hành, chớ không phải thành Phật liền trong hiện tại.

Như vậy nội dung quyển Kiến Tánh Thành Phật chỉ thẳng mọi người chúng ta có tánh Phật, người nhận được tánh Phật gọi là kiến tánh. Tại sao nói kiến tánh? Nếu không khéo chúng ta lại mắc kẹt trên ngôn ngữ. Theo nghĩa thông thường kiến là thấy, như tôi thấy cây viết, thấy b́nh hoa, thấy đồng hồ v.v... nhưng tôi có thấy được con mắt, thấy được cái mặt của tôi không? Con mắt cái mặt c̣n không thấy, huống là các bộ phận bên trong. Như vậy tánh Phật không thể dùng mắt thấy được mà sao đây nói kiến tánh? Kiến tánh ở đây không phải thấy bằng mắt, mà chữ kiến dùng đây như chữ chánh kiến, tức là nhận định chân chánh, nên nhận được tánh Phật gọi là kiến tánh. Nhưng tại sao lại dùng chữ kiến? Ví dụ tôi thấy cái hoa hồng này là màu đỏ, có người khác nói cái hoa hồng này màu trắng hay màu đen, tôi có chịu không? Tôi thấy tận mắt cái hoa này màu đỏ th́ dù có ai dùng bao nhiêu thứ lư luận cũng không thay đổi được cái thấy của tôi. Cũng vậy, khi chúng ta nhận được Bản tánh của ḿnh rồi không c̣n ngờ vực ǵ nữa, th́ dù ai có dùng lư luận khác để lay chuyển cũng không được, đó gọi là kiến tánh.

Ngài Đại Mai Pháp Thường đến tham vấn Mă Tổ, Sư hỏi:

- Thế nào là Phật?

Mă Tổ đáp:

- Tức tâm là Phật.

Ngay câu đó Ngài liền lănh hội. Ngài về cất am ẩn tu ở núi Đại Mai.

Sau này Mă Tổ nghe Sư ở núi, bèn sai vị Tăng đến hỏi:

- Ḥa thượng gặp Mă Tổ đă được cái ǵ về ẩn núi này?

Sư đáp:

- Mă Tổ nói với tôi “tức tâm là Phật” tôi bèn đến ở núi này.

Vị Tăng:

- Gần đây Mă Tổ nói “phi tâm phi Phật”.

Sư đáp:

- Ông già lừa người chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết “tức tâm là Phật”.

Vị Tăng về thuật lại với Mă Tổ, Mă Tổ tuyên bố giữa đại chúng: -  Trái Mai đă chín.

Như vậy là chính ngài Đại Mai nghe Mă Tổ nói và Ngài đă nhận ra rồi, nên sau này Mă Tổ nói khác đi cũng không lay chuyển được niềm tin của Ngài. Câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng, khi một người đă nhận được Bản tánh của ḿnh, ḷng tin đă vững chắc rồi, dù có bao nhiêu ngôn ngữ lư luận nói khác đi cũng không làm cho người ấy lay chuyển đổi thay, đó gọi là kiến tánh. Kiến tánh là nhận ra tánh Phật chân thật của ḿnh không c̣n ngờ vực ǵ nữa. Nên nhớ rằng kiến tánh không phải thấy bằng mắt, v́ tánh Phật của ḿnh con mắt không thể nh́n thấy được, mà chính cái nhận định của ḿnh đúng đắn tường tận không nghi ngờ th́ gọi là kiến tánh.

Như vậy bài kệ Kiến Tánh là bài kệ nói về việc nhận ra Bản tánh Phật:

Một điểm rỗng rang thể vốn không, muôn điều tạo hóa ấy cơ đồng.

Nghĩa là nơi chúng ta ai ai cũng có một điểm sáng, nó không có h́nh tướng cho nên rỗng rang không giới hạn, thể của nó vốn không, nơi mọi người đồng nhau không khác. Những hiện tượng tạo hóa lập bày ở thế gian, đứng trên Bản thể rỗng rang sáng suốt mà nh́n th́ nó đồng nhau không khác.

Bao la thế giới ngoài trời đất, lặng ánh hàn quang cơi cơi trong.

Người đời thường nói trời đất trùm cả muôn sự muôn vật, nhưng ở đây nói cái điểm rỗng rang hay Phật tánh của mỗi người trùm cả trời đất, chớ nó không ở trong trời đất cho nên nói “bao la thế giới ngoài trời đất”. Sát hải chỉ cho thế giới nhiều như biển cả, cũng không ngoài cái tánh rỗng rang của chính ḿnh. Cái điểm sáng đó là ánh sáng mát mẻ soi khắp muôn cơi.

Ở Thánh chẳng thêm, phàm chẳng bớt, vuông tṛn tùy món mặc dung thông.

Điểm linh quang này ở Thánh chẳng thêm ở phàm chẳng bớt, nơi Bồ-tát cũng như nơi phàm phu cái tánh sáng đó cũng như vậy không tăng không giảm. Nhưng tại sao các ngài th́ sáng suốt thành Thánh c̣n chúng ta th́ mê muội phàm phu? Bởi v́ các ngài nhận được tánh sáng đó và hằng sống với nó nên thành Thánh, chúng ta th́ có mà quên đi nên là phàm, chớ chẳng phải không có hoặc kém hơn các ngài. Tánh giác th́ dung thông không ngăn ngại, tùy theo món đồ vuông th́ nó vuông, tṛn th́ nó tṛn, tùy theo món đồ mà nó hội nhập. Món đồ là ví dụ, chớ sự thật th́ Tánh giác ở nơi trời, nơi người th́ nó như trời như người, ở nơi con vật th́ nó giống như con vật. Tùy h́nh tướng chúng sanh phàm phu thấp kém, hay Thánh Hiền nó vẫn bao dung trong đó, nó không nhỏ lại hay lớn hơn mà dung thông, tùy theo nghiệp của chúng sanh mà ứng hiện.

Ngàn sông nước lắng trăng in bóng, hoa nở khắp nơi rực sắc hồng.

Một ngàn con sông mà nước lóng trong th́ có một ngàn cái bóng trăng hiện. Nhưng dưới nước có ngàn mặt trăng mà trên chỉ có một mặt trăng. Như vậy mặt trăng là một mà bóng mặt trăng th́ có cả ngàn cả muôn, để nói rằng Pháp thân th́ không hai mà Ứng Hóa thân th́ vô số.

Giống như hoa nở nơi này nơi nọ, cũng chỉ một sắc hồng hoặc sắc trắng. Cũng vậy, Pháp thân th́ không hai mà Ứng thân, Hóa thân th́ đầy khắp, mọi nơi đều có. Đó là nói về Tánh giác. Tánh giác này có nhiều tên, có kinh c̣n gọi là Phật tánh, nhà thiền th́ gọi là Tánh, tánh này là Tâm thanh tịnh bất sanh bất diệt chớ không có ǵ khác. Qua bài kệ này Ngài chỉ cho chúng ta biết ai cũng có sẵn Tánh giác, chỉ tại chúng ta mê không chịu nhận mà thôi.

Hỏi: - Thế nào là Phật?

Đáp: - Phật là tiếng Phạn ở Ấn Độ, Trung Hoa dịch là Giác. Giác tức là Bản tánh linh giác. Song Bản tánh linh giác này vốn chân thật rỗng rang và trong lặng (chân không trạm tịch), tṛn đồng với thái hư, nghiễm nhiên sáng rỡ, trùm khắp cả pháp giới. Bản tánh ấy, hay ứng cơ tiếp vật, nhướng mày chớp mắt, giơ tay giở chân, chỉ một thể tṛn sáng, mà sáu căn vận dụng th́ Tánh giác này ứng hiện.

Hỏi thế nào là Phật? Ở đây giải thích Phật là Giác, Giác là Bản tánh linh giác của mỗi người, Bản tánh ấy rỗng rang trong lặng... Đoạn này ngài Chân Nguyên chỉ thẳng không giấu giếm tí nào hết. Bản tánh đó ai cũng có nhưng làm sao biết được? Ngài Chân Nguyên nói rơ: hay ứng cơ tiếp vật, hay nhướng mày chớp mắt, giơ tay giở chân đều gốc từ tánh linh giác mà ra. Như vậy trong chúng ta ai cũng biết nhướng mày chớp mắt, đưa tay lên giở chân bước đi, là đă có tánh linh giác rồi. Tuy nhiên ai ai cũng có tánh linh giác nhưng ít ai dám nhận, người không dám nhận là thiếu, có mà không nhận th́ coi như không có. Chúng ta biết ăn biết nói biết đi biết đứng là do có tánh linh giác, nhưng khi nói năng đi đứng chúng ta lại không nhớ tánh linh giác của ḿnh, chỉ nhớ cái suy nghĩ tính toán thôi! Nếu chúng ta đi từ đầu đường đến cuối đường, không một vọng niệm nghĩ suy dấy lên, th́ lúc đó chúng ta đang sống với cái linh giác; v́ có linh giác mới biết đi, nếu không, làm sao biết đi? Thế mà chúng ta lại không chịu, khi đi mà trong đầu cứ lẩm nhẩm chuyện hôm qua hôm kia, tính toán đủ thứ chớ không nhớ ḿnh đang đi. Nếu đi biết ḿnh đang đi th́ chúng ta thấy rơ ràng cái lăng xăng lộn xộn đó không thật, cái biết đi mới là thật. Thế mà chúng ta nhận cái lăng xăng lộn xộn, bỏ cái biết đi. Ngài Chân Nguyên lại nói thêm, sáu căn vận dụng th́ Tánh giác ứng hiện. Như vậy trong chúng ta ai nói rằng ḿnh vô phần? Nếu vô phần th́ hết ăn hết nói hết cử động, đó là một điều hiển nhiên rơ ràng. Ngài tâm đắc kinh Lăng-già, nên Ngài dẫn ra đây.

V́ vậy, trong kinh Lăng-già quyển hai, Phật bảo Đại Huệ và các Bồ-tát rằng: “Pháp tánh không tịch, vốn không có ngôn thuyết. Ngôn thuyết đều do bốn thứ tướng vọng tưởng mà dấy lên.” Thế nào là bốn thứ vọng tưởng? Phật bảo Đại Huệ: Một là tướng ngôn thuyết, hai là mộng ngôn thuyết, ba là quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết, bốn là vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết.

Đoạn này Ngài dẫn kinh Lăng-già. Phật dạy rằng tánh linh giác vốn rỗng lặng không có ngôn thuyết, ngôn thuyết là do bốn thứ vọng tưởng dấy lên. Sau đây mới giải thích bốn thứ ngôn thuyết:

- Tướng ngôn thuyết, nghĩa là từ chính ḿnh vọng tưởng chấp trước nơi sắc tướng mà sanh.

- Mộng ngôn thuyết, nghĩa là cảnh giới đă trải qua ở trước, rồi theo đó nhớ nghĩ lại mà sanh, từ khi thức dậy rồi, cảnh giới không tánh mà sanh.

- Quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết, nghĩa là do oán hận mà tạo nghiệp ở trước, theo đó nhớ nghĩ lại mà sanh.

- Vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết, nghĩa là từ chủng tử tập khí do lỗi chấp trước hư ngụy từ vô thủy mà sanh.

Nhân có bốn thứ tướng ngôn thuyết vọng tưởng mà sanh khua môi uốn lưỡi, rồi động đến hai mảnh da khiến phát ra lời nói. Nếu không có bốn thứ tướng vọng tưởng ngôn thuyết, tức là cội nguồn thường lạc ngă tịnh, một tánh tṛn sáng, muôn đức đầy đủ.

1- Tướng ngôn thuyết: Sở dĩ chúng ta có nói năng là y cứ nơi sắc tướng mà phát ra ư nghĩ, do ư nghĩ rồi phát ra ngôn ngữ. Như vậy lời nói là do ư nghĩ tưởng tượng về h́nh sắc mà nói. Ví dụ nói người này đẹp, người kia xấu là căn cứ trên sắc tướng ḿnh thấy rồi đặt ra từ ngữ xấu đẹp. Những sắc tướng khác cũng như thế, đều từ mắt thấy h́nh tướng, tâm khởi vọng tưởng, từ vọng tưởng khởi ra tướng ngôn thuyết.

2- Mộng ngôn thuyết: Có hai thứ: một là những chuyện xảy ra tháng trước hay năm trước, bây giờ chúng ta ngồi tưởng tượng ôn lại rồi kể ra, cũng giống như chuyện trong mộng, thế nên nói cảnh giới đă trải qua ở trước, rồi theo đó mới nghĩ lại mà sanh ra, hai là chúng ta nằm mộng, như đêm hôm mộng thấy người vác cây rượt đánh ḿnh, sáng dậy kể lại cho bà con nghe. Như vậy cảnh giới qua mất rồi bây giờ kể lại chỉ c̣n là tưởng tượng, nên nói là mộng ngôn thuyết. Cảnh giới chúng ta thấy hồi hôm, bây giờ thức dậy kể lại cho người khác nghe, cảnh giới ấy không c̣n nên nói cảnh giới không tánh mà sanh, không tánh là không có thật, v́ khi thức dậy rồi cảnh ấy đâu c̣n.

3- Quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết: Quá là lỗi lầm, do chấp chặt những lỗi lầm đă tạo, khi nhớ lại rồi sanh ra ngôn thuyết. Ví dụ ngày hôm qua có ai chọc tức, ḿnh căi lộn với họ, chuyện đó qua rồi nhưng ḿnh c̣n ấm ức trong ḷng nên sanh ra oán hận. Do ôm sự oán hận trong ḷng, nên vài hôm sau gặp lại người đó ḿnh liền bực tức và nói ra những lời nặng nhẹ hoặc nhát gừng. Đó là do oán hận tạo nghiệp ở trước rồi theo đó nhớ nghĩ mà sanh ra. Hoặc có người đi đâu gặp ai làm ǵ phiền giận, khi về nhà thuật lại cho người thân nghe, đó cũng gọi là quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết.

4- Vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết: Nghĩa là ngôn thuyết theo cái tập khí cũ của ḿnh. Ví dụ người tu, Phật dạy phải giữ oai nghi, nói nhẹ nhàng đi chậm răi. Nhưng có người vào chùa tu vẫn quen thói cũ, nói th́ nhanh, hoặc to tiếng gắt gỏng, đi th́ vội vàng hấp tấp, lúc nào cũng như có việc gấp, đó là do tập khí cũ. Đáng lư người tu không có những cử chỉ hành động thô tháo, nhưng v́ tập khí cũ chưa hết phải tu lâu nó mới tiêu ṃn, chớ không phải mới tu là hết liền. Do đó chúng ta thấy có người tu đi đứng nghiêm trang, nói năng ôn ḥa nhă nhặn chậm răi, cũng có những người tu đi nhanh như chạy, nói nặng nề khó nghe, đó là do tập khí từ vô thủy vọng tưởng mà có.

Như vậy để thấy rằng vọng tưởng của chúng ta có nhiều loại, vọng tưởng của cái tưởng, vọng tưởng của cái mộng, vọng tưởng của những lỗi lầm, vọng tưởng từ vô thủy mà sanh ra ngôn thuyết.

Nhân có bốn thứ tướng ngôn thuyết vọng tưởng mà sanh ra lời nói. Nếu không có bốn thứ vọng tưởng ngôn thuyết tức là cội nguồn của Thường Lạc Ngă Tịnh, hay là cội nguồn của Niết-bàn. Như trước tôi nói nếu chúng ta đi trên đường, từ đầu đường đến cuối đường, trong tâm không có dấy một vọng tưởng nghĩ suy, nhưng mắt vẫn thấy tai vẫn nghe, mũi vẫn thở, thân vẫn cảm giác gió mát, chân bước đi đều đều, đó là chúng ta đang sống với Tánh giác, đang hưởng Niết-bàn hiện tại. Nhưng chúng ta không chịu như thế, cứ tưởng tượng suy tư nên tâm lúc nào cũng bất an. Như vậy tu dễ hay khó? Đi một cây số chúng ta không nghĩ ǵ hết, cứ sống an nhiên với trời đất là chúng ta đang ở tại Niết-bàn. Rất dễ tại sao chúng ta không chịu? Đi một cây số đường tâm an nhiên không khởi vọng tưởng, an nhiên là Thường, tâm an nhiên th́ mặt ḿnh vui là Lạc, đang sống với cái biết hiện hữu của ḿnh là Ngă, tâm không dấy động là Tịnh. Như vậy trên một cây số đường có Thường Lạc Ngă Tịnh, nếu chúng ta đi hai ba chục cây số mà không vọng tưởng th́ cũng đang sống ở Niết-bàn. Giả sử, đi cả ngày th́ cũng ở trong Niết-bàn cả ngày. Đi giữa thế gian trần tục đầy khổ lụy mà vẫn ở trong Thường Lạc Ngă Tịnh của Niết-bàn đâu khó. Song, đi mà tâm lo nghĩ đủ điều, chắc chắn là bất an, dù đang đi trong chốn già-lam thanh tịnh. Nói rộng ra, bất cứ chúng ta làm việc ǵ như nhổ cỏ nấu cơm... mà tâm thanh tịnh là đang ở Niết-bàn. Nhưng có nhiều người than rằng khi nấu cơm phải tính nấu món này món kia, làm sao không vọng tưởng? Cuốc đất nhổ cỏ th́ dễ chớ nấu cơm hơi khó hơn. Theo tôi th́ không khó, trước khi nấu cơm quí vị bỏ ra năm mười phút, tính bữa nay nấu món ǵ rồi ghi vào tờ giấy để trên bàn. Chúng ta cứ theo thứ tự mà làm, th́ trong khi làm tâm vẫn thanh tịnh. Tại chúng ta có thói quen vừa làm vừa nghĩ tính liên miên, không bao giờ để cái đầu trống, cho nên bị bất an hoài. Như vậy người tu thiền có Niết-bàn ngay trong sanh tử, chớ không t́m kiếm ở đâu xa, chỉ cần buông vọng tưởng, làm cái ǵ biết cái đó, đừng cho vọng tưởng khởi th́ cả ngày sống trong Niết-bàn. Và, người ta gọi cơi Ta-bà khổ, trái lại chúng ta gọi Ta-bà vui.

Tôi thấy cái khổ không thật mà nhiều khi chúng ta lại cố t́nh tạo ra. Như có người được tin ở Thành phố thân nhân nhắn về, nếu nghe như thế mà không thêm một ư nghĩ nào khác th́ không khổ sở bất an. Nhưng chợt nghĩ có lẽ ba má ḿnh bị bệnh, hay gia đ́nh có điều ǵ quan trọng xảy ra, tự khởi lên một chục thứ “có lẽ” th́ tâm lo lắng bất an, đêm nằm lăn qua trở lại không ngủ được. Như vậy cái khổ đó từ đâu tới? Chẳng phải từ người nhắn tin làm cho ta khổ, mà khổ là tại ḿnh đa sự vọng tưởng đủ điều. Lại nữa, giả sử có người thân đi đâu hẹn chúa nhật về, nhưng không đúng hẹn, th́ bắt đầu trông ngóng, đặt vấn đề; người thân đi đường bị tai nạn, bị bệnh, bị mất tiền... có nhiều vấn đề như thế đầu óc chúng ta thảnh thơi không? Không thảnh thơi là bắt đầu khổ. Cái khổ đó do ai tạo? Tại người về trễ tạo hay tại chúng ta? Nhiều khi người đi ra đường phải giải quyết bao chuyện rắc rối, khó khăn nên về trễ. Đă về trễ lại bị người thân rầy rà, cằn nhằn, do đó sanh chuyện vui buồn với nhau. Lư đáng người thân về trễ chúng ta để cho họ nghỉ ngơi rồi từ từ hỏi lư do, sau đó họ kể lư do cho nghe th́ đâu có chuyện ǵ xảy ra. Con người thường tự tạo cho ḿnh cái khổ, khổ là do vọng tưởng làm ḿnh khổ chớ không ai khác làm cả. Như vậy để thấy rằng những nỗi khổ không phải tự có mà do ḿnh vọng tưởng gây ra. Nếu chúng ta đi đâu, làm việc ǵ mà không vọng tưởng là đang sống trong Niết-bàn khỏi cầu về Cực Lạc; ở ngay cơi Ta-bà mà không vọng tưởng th́ không khổ đau. Do đó Niết-bàn hay Cực Lạc ở ngay thế gian này chớ không ở đâu xa.

Lại phần Giải Kư nói: Đây là tướng ngôn thuyết vọng tưởng. Nghĩa là vọng thấy h́nh dáng nam nữ, thân thể, vẻ mặt, thanh sắc tốt xấu, và tất cả của cải, đồ đạc, mọi tướng đẹp xấu v.v... vọng khởi phân biệt mà có ngôn thuyết, gọi là tướng ngôn thuyết. Lại nhân mộng thấy cảnh giới đă trải qua ở trước, sau khi tỉnh dậy nhớ nghĩ lại, vọng chấp phân biệt việc lành dữ, tốt xấu, hơn kém... gọi là mộng ngôn thuyết. Song do nhớ nghĩ ḿnh người, oán thân, yêu ghét, lấy bỏ ở trước mà tạo thành nghiệp, rồi vọng sanh phân biệt mà có ngôn thuyết, gọi là quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết. Hoặc từ vô thủy đến nay, thức thứ tám gồm chứa tự tướng hí luận, chủng tử tập khí, kích thích mạnh mẽ nên sanh phân biệt, gọi là vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết. Tất cả ngôn thuyết chẳng ra ngoài bốn thứ này. Do vọng tưởng làm nhân cho ngôn thuyết, nên ĺa ngoài bốn thứ này th́ không có nói năng, không chỗ nói năng, tức là chân thật đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế tức là chân không vô tướng, tṛn đồng thái hư, lặng lẽ vô sanh.

Đoạn này Ngài dẫn phần Giải Kư của kinh Lăng-già giải rộng về bốn thứ ngôn thuyết.

“Tướng ngôn thuyết vọng tưởng” là do đối duyên xúc cảnh hiện tại như thấy h́nh dáng nam nữ, vẻ mặt thanh sắc... tất cả h́nh tướng tốt xấu khởi phân biệt mà có ngôn thuyết.

“Mộng tưởng ngôn thuyết” là thấy cảnh trong giấc mơ, sau đó thức dậy nhớ nghĩ vọng chấp phân biệt lành dữ tốt xấu rồi nói ra.

“Quá vọng tưởng kế trước ngôn thuyết” là do thương ghét buồn giận tạo thành nghiệp. Thành nghiệp rồi suy nghĩ phân biệt nói ra theo nghiệp ḿnh đă tạo.

“Vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết” là do từ vô thủy thức thứ tám chứa tự tướng hí luận, tức là chứa chấp những hí luận có tính cách đùa cợt không đúng chân lư, không đúng chánh pháp, thành chủng tử tập khí, từ chủng tử tập khí kích thích mạnh mẽ phát ra ngôn thuyết.

Như vậy chúng ta nói năng là do căn cứ trên bốn điều này. Một là căn cứ trên sắc tướng thấy nghe hiện tại, hai là căn cứ trên cảnh trong mộng, ba là căn cứ trên lỗi lầm đă tạo, bốn là căn cứ trên những tích lũy ở trong Tàng thức từ vô thủy mà phát ra ngôn thuyết. Tóm lại tất cả ngôn thuyết là do những phân biệt suy tính của hiện tại, quá khứ và những điều chứa chấp ở trong nội tâm mà phát ra, nên nói tất cả ngôn thuyết chẳng ngoài bốn thứ này. Như vậy vọng tưởng làm nhân cho ngôn thuyết, nếu không vọng tưởng th́ không có ngôn thuyết (nói năng), đó là chân thật đệ nhất nghĩa đế. Đệ nhất nghĩa đế là chân không tức là chỉ cho tánh linh giác của chúng ta. Nếu chúng ta không vọng tưởng là đang sống với tánh linh giác của chính ḿnh, có đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh của Niết-bàn như trước đă nói.

Như vậy ở đây đă chỉ rơ cái gốc sanh ra vọng tưởng, chúng ta biết tu th́ phải buông xả vọng tưởng, tiêu ma nó, không chạy theo nó, dần dần đi đứng nằm ngồi hằng sống với cái bất sanh bất diệt sẵn có của ḿnh.

Bấy giờ ngài Đại Huệ và các Bồ-tát đem nghĩa này hỏi Thế Tôn: Ngưỡng mong Thế Tôn nói thêm về cảnh giới do ngôn ngữ vọng tưởng hiện ra. Thế nào là chỗ nhân duyên chúng sanh vọng tưởng mà có ngôn thuyết sanh?

Phật bảo ngài Đại Huệ và các Bồ-tát: Nghĩa là từ tám chỗ: đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, lợi, răng ḥa hợp mà phát ra tướng âm thanh ngôn thuyết.

Lại phần Giải Kư nói: Đây là chỉ bày tướng ngôn ngữ âm thanh. Nghĩa là ngôn ngữ của chúng sanh phát ra, do bốn thứ vọng tưởng trước làm nhân và tám thứ đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, lợi, răng ở sau làm duyên, nên có ngôn thuyết.

Ngài Đại Huệ và các Bồ-tát bạch Phật hỏi thêm về chỗ phát xuất ra ngôn ngữ vọng tưởng. Tại sao vọng tưởng phát ra ngôn ngữ, ngôn ngữ nó phát ra bằng cách nào? Đức Phật trả lời là ngôn ngữ phát ra từ tám chỗ: đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, lợi, răng. Trong tám cái này thiếu một cái th́ không có ngôn thuyết, nhất là thiếu cái đầu, không có đầu th́ không có miệng lấy ǵ nói năng? Phần Giải Kư nói bốn thứ vọng tưởng làm nhân, tám thứ đầu, ngực v.v...làm duyên nên sanh ra ngôn thuyết.

Nhưng theo Lăo Tử th́ nói: “Trong khoảng trời đất, giống như ống bễ ḷ rèn, rỗng mà chẳng cong, động th́ càng phát ra.” Đây là nghĩa vọng tưởng duyên khí, gió thức thổi động, vô cớ mà phát ra. Hiện thấy ở thế gian, trong việc ứng dụng hằng ngày, một niệm vọng khởi th́ ba nghiệp khắp dấy lên, mười điều ác hăng làm th́ tám gió thổi bay, nói năng kia đây trùng trùng điệp điệp.

Để rơ thêm ư nghĩa vọng tưởng duyên khí Ngài dẫn lời Lăo Tử nói trong Đạo Đức Kinh.

Kế đến Ngài nói trong việc ứng xử hằng ngày, hễ một niệm thương ghét sân si dấy lên th́ ba nghiệp đều dấy lên. Một niệm tốt khởi th́ ba nghiệp đều tốt, một niệm xấu khởi th́ ba nghiệp đều xấu, ba nghiệp xấu th́ mười điều ác hằng làm, mười điều ác hằng làm th́ tám gió thổi bay (tám gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc) khi đó nói năng kia đây trùng trùng điệp điệp. Tóm lại, động cơ sanh ra nghiệp là vọng tưởng, hễ một niệm khởi th́ ba nghiệp tạo nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, khi tạo nghiệp rồi th́ tám gió thổi rung rinh và đủ thứ phiền phức xảy ra sau đó.

Xét theo đó th́ biết, tướng ngôn ngữ ở trong cơi chúng sanh là từ bốn thứ vọng tưởng mà sanh, rồi kia đây sân si cũng từ ngôn thuyết như thế.

Đến như thần thông của Phật, th́ lời nói tợ âm thanh tiếng trống trời, ngay thẳng từ bi, vi diệu ḥa nhă. Ngài diễn nói pháp có sáu mươi bốn thứ tiếng Phạm âm, vang xa khắp cả mười phương, mọi chúng sanh đều vui thích, nghe tiếng ngộ đạo, đồng được giải thoát, tức chẳng phải lời nói từ bốn thứ vọng tưởng.

Ngài nói rằng xét theo trên để biết tất cả ngôn ngữ trong thế gian, đều do bốn thứ vọng tưởng mà sanh ra, cho đến thương ghét hay sân si cũng từ vọng tưởng mà ra không có ǵ thật cả. Tuy nhiên, nói tất cả ngôn ngữ từ vọng tưởng sanh ra, vậy đức Phật thuyết pháp cũng từ vọng tưởng sanh ra sao? Đây đáp rằng, lời Phật giảng dạy không phải từ bốn thứ vọng tưởng, mà tiếng nói đó phát xuất từ tâm từ bi ngay thẳng đă thấy được chân lư, đă sống đúng chánh pháp mà phát sanh, nên nói tiếng Phật thuyết pháp âm thanh vang xa như tiếng trống trời, tiếng nói đó phát xuất từ tâm ngay thẳng từ bi, nên mọi chúng sanh nghe đều được ngộ đạo giải thoát.

Phật bảo ngài Đại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn thuyết. Nghĩa là như lông rùa sừng thỏ..., thế gian hiện thành ngôn thuyết. Đại Huệ! Chẳng phải tánh, chẳng phải phi tánh, chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, ngôn thuyết có tánh, có tất cả tánh, luận ông ắt hoại.

Phần Kư nói: “Đây là nói các pháp tuy không, mà chẳng ngại ngôn thuyết.”

Đoạn này Phật bảo ngài Đại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn thuyết, nghĩa là ngôn thuyết người nói ra không có thật thể. Phật ví dụ như lông rùa sừng thỏ. Rùa không có lông, thỏ không có sừng, vậy mà người ta đặt điều nói đây là lông rùa kia là sừng thỏ, đem ra nói với nhau, như những chuyện không đâu cộng thêm những câu nói vô nghĩa mà người ta vẫn đặt thành câu nói. Những câu nói như vậy không có thật thể, chẳng qua là người ta tưởng tượng đặt ra, cho nên nói ngôn thuyết không có Tự tánh, tức là không cố định. Nếu cho rằng ngôn thuyết có thật thể th́ lư luận ấy ắt hoại, v́ đó là luận lư không đúng lẽ thật. Nên đoạn kế phần Kư nói tuy nói các pháp không mà chẳng ngại ngôn thuyết.

Đời Đường lại dịch là: “Tuy không các pháp, mà cũng có ngôn thuyết. Đâu chẳng hiện thấy lông rùa, sừng thỏ, con của người thạch nữ v.v..., ở trong đó người đời đều khởi ra ngôn thuyết. Nó chẳng phải có chẳng phải không, mà chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, v́ có ngôn thuyết nên có các pháp, nếu không có các pháp th́ không có ngôn thuyết. Hiện nay sừng thỏ... tuy không có mà chẳng ngại có lời nói. Xét theo đó th́ nghĩa của ông chẳng thành.” V́ vậy nói luận của ông ắt hoại, tỏ ngộ các pháp vốn không, do duyên tụ hội mà sanh. Đă do duyên hội mà sanh, th́ sanh vốn không, dù nói nhân nơi duyên kia sanh, cũng là giả danh. Đây là Pháp tánh vô sanh, ngôn từ cùng lặng, năng sở đều quên, trong lặng thường trụ, không có lời nói.

Tuy không các pháp mà cũng có ngôn thuyết như lông rùa sừng thỏ, con của người thạch nữ; đó là những chuyện không có mà người ta tưởng tượng nói ra. Như vậy những cái không có mà người đời họ cũng nói được chớ không phải đợi có họ mới nói. Đó chỉ là ngôn thuyết đặt ra chớ không phải sự thật. Kế đến là đức Phật bác lư luận của ngài Đại Huệ. V́ theo ngài Đại Huệ th́ có các pháp thật nên có ngôn thuyết. Như có cái bàn, người ta mới kêu tên cái bàn, có cái hoa hồng người ta mới nói tên hoa hồng. Nhưng Phật bảo rằng xét như thế th́ nghĩa của ngài Đại Huệ không thành, v́ như lông rùa sừng thỏ, con của người thạch nữ, không có mà vẫn có ngôn thuyết vậy.

Tóm lại, tất cả Pháp tánh nó là vô sanh, nhưng người đời tùy theo nhân duyên mà đặt tên cho nó, nên có tên gọi, có ngôn ngữ nói năng... chớ không có thật. Đến chỗ tất cả ngôn từ lặng, năng sở quên th́ trở về chỗ thường trụ, tịch tĩnh không c̣n ngôn ngữ.

Thế nên đức Thích-ca Thế Tôn lên pháp ṭa, tự tại không lời, im lặng giây lâu, chính là yếu chỉ trên đây. Đại sư Đạt-ma chín năm ngó vách, ngồi nghiêm trang không nói, cũng đúng như lư này. Người trí quán sâu liền chứng nơi chân thật không tịch. Do đó, thế ngàn non đến đỉnh th́ dừng, muôn sự tiêu về thể th́ b́nh.

Như chúng ta đă biết tất cả ngôn ngữ nhân nơi vọng tưởng mà sanh, hay vọng tưởng là cái nhân sanh ra ngôn ngữ, song vọng tưởng không thật nên ngôn ngữ cũng không thật. Như vậy muốn chỉ cái chân thật không cần ngôn ngữ, cho nên đoạn này nói đức Thế Tôn lên pháp ṭa tự tại không lời, im lặng giây lâu rồi cầm cành hoa đưa lên, ngài Ca-diếp nh́n mỉm cười. Xong! Không có lời nào mà Phật đă chỉ cái chân thật. Cái chân thật là cái không lời, có lời th́ không thật. Sau đây dẫn thêm Tổ Bồ-đề-đạt-ma chín năm ngồi xây mặt vào vách không nói là nhằm ư này. Như vậy để thấy rằng chỗ cứu kính chân thật th́ không có lời nói, v́ lời nói là từ vọng tưởng hư dối. Người trí quán sâu chỗ này liền chứng được chỗ chân thật không tịch. Như ngàn cái núi mà lên đến đỉnh th́ hết lối đi, muôn sự vật ở thế gian trở về thể th́ b́nh đẳng như nhau.

Thế Tôn lại bảo ngài Đại Huệ và các Bồ-tát: “Chẳng phải tất cả cơi nước đều có dùng ngôn thuyết. Ngôn thuyết là Như Lai tùy theo chúng sanh ở cơi Ta-bà. Bởi giáo thể ở phương này dùng âm thanh và nghe, nên giả tạm làm ra văn tự, chương cú, ngôn từ th́ kinh giáo mới được an lập. Ngoài ra những thế giới của chư Phật khác, th́ diệu lư của Phật pháp chẳng liên quan đến văn tự, chẳng dùng ngôn thuyết. Hoặc có cơi Phật dùng mắt nh́n xem mà hiển bày tỏ ngộ Pháp tánh. Hoặc có cơi làm ra tướng, hoặc có cơi nhướng mày, hoặc có cơi chớp mắt, hoặc có cơi mỉm cười, hoặc có cơi hơi há miệng, hoặc cơi cười nói, hoặc cơi nhớ nghĩ cơi nước, hoặc cơi lay động... dùng những pháp như thế mà bày cơ lộ tánh, thảy đều là Phật sự, tiếp hóa chúng sanh.”

Đức Phật lại bảo ngài Đại Huệ rằng chẳng phải tất cả cơi nước đều dùng ngôn thuyết, mà tùy theo cách giáo hóa của mỗi nơi mà dùng hay không dùng. Như cơi Ta-bà của chúng ta v́ dùng âm thanh và nghe âm thanh nên mới dùng ngôn thuyết để nghe mà ngộ đạo. C̣n các cơi khác th́ dùng phương tiện khác như nhướng mày, chớp mắt, há miệng, cười nói v.v... không cố định. Tất cả đều là bày cơ lộ tánh thảy đều là Phật sự để giáo hóa chúng sanh.

Đời Đường lại dịch: “Hoặc có cơi Phật trừng mắt nh́n mà hiển bày pháp, hoặc cơi hiện tướng khác, hoặc nhướng mày hoặc chớp mắt, hoặc hiện mỉm cuời, hoặc hơi há miệng, cười nói nhớ nghĩ, lay động... dùng những việc như thế mà hiển bày pháp, khiến mọi quần sanh tỏ ngộ Bản tánh.”

Đoạn này nói thêm để hiểu được ư ở trước.

Phật lại bảo Bồ-tát Đại Huệ: “Hăy xem thế giới này những loài chúng sanh như ruồi, muỗi, trùng, kiến v.v... không có ngôn thuyết mà đều làm xong việc, đâu đợi có ngôn thuyết mới hiển bày pháp ư?”

Điều đó chứng tỏ, chẳng những các pháp không tánh, hơn nữa ngôn ngữ cũng tánh không. Nghĩa là tướng các pháp vốn tịch diệt, chẳng thể dùng lời nói tỏ bày. Phật Tổ từ trước đến chỗ cùng cực, chỉ bốn mắt nh́n nhau, im lặng ấn chứng. Đạo vô ngôn được truyền ra, bắt nguồn từ chỗ thấy như trên. V́ vậy, ngài Lâm Tế, Đức Sơn gậy hét truyền dạy. Ngưỡng Sơn tướng tṛn, Thạch Củng giương cung, Đạo Ngô múa hốt... Các vị Tổ sư đều cùng chung chứng đến chỗ sâu xa. Đây là chánh định ĺa lời nói. Nghĩa là núi sông quả đất chung chuyển pháp luân căn bản, loài vảy, mai, lông, cánh khắp hiện Sắc thân tam-muội. Thế nên trong chỗ thường dùng hằng ngày của chúng sanh, th́ cửa sáu căn đều là chỗ nhập lư ngộ đạo, đâu hoàn toàn phải đợi ngôn thuyết! Nên đức Thế Tôn đưa cành hoa chỉ cho chúng, ngài Ca-diếp khế hội tâm Phật mỉm cười. Phật trước Phật sau chỉ dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.

Qua đoạn này chúng ta thấy rằng không phải chỉ có ngôn thuyết mới truyền đạo, mới thấu suốt Bản tâm mà chính là những hành động, v́ tất cả hành động hiển bày được tâm. Hơn nữa ngôn thuyết là phát nguồn từ vọng tưởng mà vọng tưởng là cái nghĩ suy phân biệt không thật, nó không phải Tâm thể chân thật, nó không phải là linh giác mà tất cả những hành động như nhướng mày chớp mắt, cử động tay chân... cái nào cũng có hàm ẩn linh giác. Do có linh giác nên mọi hoạt động mới sanh khởi, mà linh giác là tâm. Thế mà lâu nay hễ nói tới tâm là chúng ta nhận cái suy nghĩ là tâm. Song, nhướng mày chớp mắt, co tay duỗi chân nếu không có tâm th́ mấy cái đó làm sao hoạt động? Như vậy, tâm là cái biết trùm hết cơ thể này, con người này, chớ không phải chỉ có cái suy nghĩ. Cái suy nghĩ chỉ là vọng tưởng không thật. Như vậy cái chân thật hiển lộ ở nơi sáu căn, chớ không phải chỉ ở ư căn. Do đó dùng phương tiện nào của sáu căn cũng có thể chỉ bày cái chân thật. Cho nên một tiếng hét, một cái đánh, bốn mắt nh́n nhau đều hiển bày cái chân thật. Không phải kêu lại bảo: “tôi cho ông cái này, giảng nói điều kia”, mới là chỉ cái chân thật, mà cái chân thật hiện sẵn ở các giác quan của chính ḿnh. Hiểu như thế mới thấy trọng tâm của Phật của nhà Thiền là, trước sau chẳng lập văn tự dùng tâm ấn tâm.

Hỏi: - Nếu chẳng lập văn tự, lấy ǵ làm tâm?

Đáp: - Ông hỏi tôi tức đó là tâm ông. Tôi đáp ông, tức là tâm tôi. Nếu ông không tâm, nhân đâu biết hỏi tôi? Nếu tôi không tâm, nhân đâu biết đáp ông? Chính ngay khi ông hỏi tôi, tức là tâm ông. Tâm này từ vô thủy kiếp cho đến hiện giờ, mọi hành động, tạo tác, ở trong tất cả thời cũng như ngay đây, đối diện hiện dùng, tùy cơ thu buông, đối đăi thưa hỏi, chẳng phải tánh là ǵ? Cái ǵ thưa hỏi đây? Nói năng đó là cái ǵ? Cái ǵ hay biết hỏi? Đây chính là tánh linh giác căn bản nơi chính ḿnh của mọi người. Tánh tức là tâm, tâm tức là Phật, Phật tức là đạo, đạo tức là Thiền. Thiền nghĩa là kiến tánh. V́ vậy đưa cành hoa mỉm cười, hội được tông yếu đó là Thiền. Bốn mắt nh́n nhau, lănh nhận ư chỉ, đó là Thiền. Thiền là lặng lẽ, lặng lẽ nhưng thường soi sáng, soi sáng nhưng thường lặng lẽ, thanh tịnh trong lặng nhiệm mầu, tṛn đồng thái hư, trọn không một vật, ứng dụng tự tại; thể tự không tịch, gọi đó là Thiền, gọi đó là Giác.

Đoạn này Ngài chỉ rất là tường tận chúng ta phải khéo nhận ra để khỏi cô phụ Ngài.

Hỏi: Nếu chẳng lập văn tự lấy ǵ làm tâm? Đáp rằng: Ông hỏi, tôi đáp, tức là có tâm rồi. Thật vậy, nếu không có tâm làm sao biết hỏi, nếu không có tâm làm sao biết đáp. Biết hỏi biết đáp đó là tâm, cần ǵ văn tự!

Ngài Tuệ Hải đến tham vấn Mă Tổ. Mă Tổ hỏi:

- Đến cầu việc ǵ?

- Đến cầu Phật pháp.

- Kho báu nhà ḿnh chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi t́m cái ǵ?

- Thế nào là kho báu nhà ḿnh?

- Chính cái ông hỏi ta đó.

Chính cái hỏi đó là kho báu, nó sẵn đó chớ có t́m kiếm đâu xa. Vậy có ai trong chúng ta mà không biết hỏi đáp; dù hỏi đáp cái ǵ. Hễ biết hỏi đáp là có tâm, là có kho báu rồi. Vậy chúng ta t́m kiếm tâm ở đâu, trèo non vượt núi để kiếm t́m Phật tâm của ḿnh phải không? Nó sờ sờ ở sáu căn, t́m kiếm làm ǵ? Đọc đoạn này chúng ta thấy ngài Chân Nguyên thật là tâm Lăo bà, nói hết những ǵ cần nói để cảnh tỉnh mọi người. Ngài nói từ thuở nào đến giờ mọi hành động tạo tác như hỏi đáp, thu vào buông ra, tất cả mọi động dụng nói năng đều là tâm tánh của chính ḿnh. Tánh là tâm, tâm là Phật, Phật là đạo, đạo là Thiền. Tánh Phật Đạo Thiền ngay nơi ḿnh sẵn đủ. Nhưng nói tới Thiền là nói tới kiến tánh. Kiến tánh là nhận được Bản tánh của chính ḿnh. Như Phật đưa cành hoa sen ngài Ca-diếp nh́n mỉm cười, đó là nhận tâm yếu, là kiến tánh, là Thiền. Thầy tṛ nh́n nhau cảm thông đó là Thiền. Như vậy nhận được Bản tâm là ngộ lư Thiền, là nhận ra cái Chân tâm của ḿnh, từ Chân tâm đó phát ra ngôn ngữ, phát ra thưa hỏi, phát ra hành động. Nếu chúng ta nói năng hành động mà đừng chạy theo vọng tưởng là chúng ta biết trở về với Thiền, ngộ được lư Thiền.

Do tâm thường giác nên gọi Đại Giác Thế Tôn, cũng gọi Giác Vương Như Lai hay gọi là chủ hư không. Tức tâm là Phật, trọn không có Phật khác. Tức Phật là tánh, trọn không có tánh khác. Như nắm tay làm thành do bàn tay, tợ nước thành sóng. Sóng tức là nước, bàn tay tức là nắm tay.

Do tâm thường giác, nên gọi Đại Giác Thế Tôn tức là Phật, cũng gọi là ông vua Giác, cũng gọi là chủ hư không, v́ hư không trùm hết mà Tâm thể này trùm cả hư không, cho nên gọi là chủ hư không. Chính cái tâm này là Phật không có ông Phật nào khác. Nhưng nhớ tâm đó không phải tâm vọng tưởng, nếu vọng tưởng là tâm chúng sanh. Vậy quí vị muốn thành Phật hay muốn làm chúng sanh? Chúng sanh th́ mê, Phật th́ giác đều ở nơi tâm ḿnh chớ không ở đâu khác. Kiểm lại coi nơi ḿnh cái ǵ là tâm mê? Cái ǵ là tâm giác? Vọng tưởng là tâm mê, cái biết hiện tiền không dấy vọng tưởng là tâm giác. Chúng ta tu là bỏ vọng tưởng để sống với cái biết hiện tiền thanh tịnh. Vậy tu Thiền là bỏ mê sống với giác chớ không có ǵ lạ hết. Hiểu rồi chúng ta thấy rơ ràng trước mắt, chớ không phải chuyện xa lạ. Ở đây Ngài nói tức tâm là Phật, tức tâm là tánh, cho nên ba từ: Tâm, Tánh, Phật tên gọi tuy khác nhưng không phải khác. Cả ba đều chỉ cho Thể chân thật. Ngài đưa ra ví dụ, sở dĩ có nắm tay là do bàn tay co lại, bỏ bàn tay không có nắm tay. Hoặc, sóng từ nước mà có, rời nước t́m sóng không có. Bàn tay là cái gốc, là cái thể, nắm tay là ngọn, là cái dụng. Cũng vậy nước là thể, sóng là dụng, tất cả cái dụng không rời cái thể mà có. Như vậy mọi cái nghĩ suy phân biệt đều từ cái thể linh giác mà ra, song phải buông hết vọng tưởng mới trở về với tánh linh giác.

Nên kinh Hoa Nghiêm nói:

Nếu người muốn rơ biết,
Ba đời tất cả Phật.
Nên quán tánh pháp giới,
Tất cả chỉ tâm tạo.

Âm:

Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật.
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.

Đến đây Ngài dẫn bài kệ của kinh Hoa Nghiêm. Ư kệ nói rằng: người nào muốn biết rơ ba đời chư Phật th́ phải quán pháp giới tánh, tất cả đều do tâm tạo.

Lại nói: Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ này đều không sai khác. Tất cả Phật pháp, Tự tâm sẵn có, thôi đem tâm t́m kiếm bên ngoài, bỏ cha chạy đi lang thang. Tiếng Phạn gượng gọi Phật, Trung Hoa nói là Tánh giác. Tánh này chẳng ĺa thân ta, nếu người đốn ngộ được cội gốc, người này sẽ chóng được thành Phật.

Tâm, Phật và chúng sanh ba thứ đều không khác, đều cùng cái Thể chân thật đó thôi. Phật pháp đă sẵn có nơi Tự tâm, đừng đem tâm t́m kiếm bên ngoài, đừng làm kẻ cùng tử ở trong kinh Pháp Hoa bỏ cha đi lang thang đói khổ ở xứ người, thời gian sau mới sực nhớ trở về. Ngài lại nói Phật là Tánh giác, Tánh giác đó là nguồn cội của con người, nếu quên nguồn cội khởi vọng tưởng là chúng sanh, nếu trở về nguồn cội là giác ngộ là Phật.

Thế nào là cội gốc?

Chỉ dạy rằng: - Cội gốc chính là tâm tánh linh giác của mọi người. Tâm này là cội nguồn của chư Phật, là đất tánh của chúng sanh. Đất th́ sản sanh muôn vật, ngàn muôn cây cối, cành lá hoa quả, mỗi mỗi đều nhân nơi đất mà sanh. Tâm bao gồm muôn pháp, trăm khéo ngàn hay, huyền cơ diệu lư, mỗi mỗi đều từ tâm dựng lập. Tâm là biển của muôn pháp, từ nơi thật tế mà ứng hóa ra. Tánh là gốc của muôn hạnh, tùy nơi một tâm mà biến dùng. Tuệ giải tṛn thông, linh minh đầy đủ, gồm trọn muôn pháp chỉ một lư, xuyên suốt muôn thuở chỉ một tâm.

Hỏi thế nào là cội gốc? Ngài giải thích cội gốc là tâm tánh linh giác của người; mà tâm tánh linh giác này là tâm của chư Phật. Tâm đó là cội nguồn là gốc rễ của tất cả. Giống như đất sanh ra muôn vật, hay như biển cả trùm hết các loài trong nước. Tánh là gốc của muôn hạnh, tùy nơi một tâm mà biến dùng. Như vậy tâm là gốc, tâm là nguồn cội tất cả pháp.

Buông ra th́ lấy một làm nhiều, thu lại th́ lấy nhiều làm một. Nên lập một tâm làm tông, mở ra th́ có nhiều cửa vô tận. Mới nói: “Ba cơi chỉ là tâm, muôn pháp chỉ là thức, một niệm chẳng sanh, các duyên chóng dứt.” Ngộ diệu lư nơi Bản tâm th́ tội phước đều không, mê viên minh của Tự tánh th́ thiện ác đều ngại.

V́ tâm là gốc của tất cả sự vật nên nhà thiền gọi là Phật tâm tông. Ở đây nói lấy tâm làm tông, mở ra th́ có nhiều cửa nhiều pháp môn không thể kể hết. Cho nên nói ba cơi từ tâm hiện ra, muôn pháp từ thức mà phân biệt sanh, nếu một niệm không sanh th́ các duyên chóng dứt. Như vậy chúng ta tu chỉ cần làm sao đi đứng nằm ngồi một niệm không sanh th́ muôn duyên theo đó dứt sạch. Ở đoạn này có câu:

Ngộ diệu lư nơi Bản tâm th́ tội phước đều không, mê viên minh của Tự tánh th́ thiện ác đều ngại.

Chúng ta phải hiểu chỗ này cho kỹ kẻo lầm. Sở dĩ chư Tổ nói không tội phước, không thiện ác là v́ các ngài đă ngộ được diệu lư của tâm. Tâm không có tướng sanh diệt th́ nói ǵ tội phước thiện ác? Ngược lại nếu mê Chân tánh tức là mê Bản tâm th́ thiện ác tội phước đều có thật. Thế nên đối với người mê, Phật dạy bỏ mười điều ác làm mười điều thiện v.v...

Ngàn ḍng sông riêng khác mà đồng nguồn, muôn xe sai biệt mà đồng lối ṃn; tất cả muôn pháp đều về một tâm, tâm sanh th́ mọi thứ pháp sanh, tâm diệt th́ mọi thứ pháp diệt. Do đó các ngôi sao đều chầu về hướng Bắc, muôn ḍng sông trọn chảy về Đông, hà sa diệu pháp thảy ở nguồn tâm, đạo pháp hiện tiền, một tâm đầy đủ. Nên biết, ngàn pháp muôn pháp, Phật Phật, Tổ Tổ từ trước chỉ lấy tâm truyền tâm, chữ “bát” mở toang; lấy tâm ấn tâm, bốn mắt nh́n nhau, hơn năm ngàn tám trăm quyển, tám mươi bốn ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện, đều từ một chữ tâm ấy lưu xuất, dựng lập. Dù đem tre bằng núi Tu-di làm bút, lấy nước bốn biển cả làm mực, viết một chữ tâm này vẫn chẳng hết.

Kế đến Ngài đưa ra h́nh ảnh ngàn ḍng sông riêng khác chỉ có một nguồn. Nói cho dễ hiểu là ngàn ḍng sông ở khắp mọi nơi đều chảy ra biển. Muôn xe riêng khác cùng đi một lối ṃn, tức là cùng đi trên một lằn xe đi. Tất cả muôn pháp gốc từ tâm mà ra. Nếu tâm sanh th́ muôn pháp sanh, nếu tâm lặng yên th́ muôn pháp diệt, v́ gốc từ tâm. Nói muôn pháp gốc từ tâm, tâm đó là tâm ǵ? - Là tâm linh giác. C̣n cái tâm sanh là tâm vọng tưởng; v́ là tâm vọng tưởng nên có sanh có diệt, chớ tâm linh giác đâu có sanh diệt. Chỗ này rất tế nhị, quí vị học phải hiểu cho kỹ, kẻo lầm lộn.

Ngài lại đưa ra một ví dụ nữa: Tất cả ngôi sao đều hướng về phương Bắc, các nguồn sông đều chảy về phương Đông, nói lên cái ư tất cả đều về một hướng để nói rơ cái nghĩa muôn pháp đều trở về tâm. Do đó nên Phật Tổ lấy tâm truyền tâm chớ không truyền cái ǵ khác, truyền tâm bằng cách bốn mắt nh́n nhau. Song đứng về mặt truyền bá rộng răi th́ năm ngàn tám trăm quyển kinh, tám muôn bốn ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện đó đều từ tâm lưu xuất dựng lập. Tất cả phương tiện gốc từ tâm, chỉ cần trở về tâm là đủ. Cho nên chữ tâm rất là to lớn, dù có lấy tre bằng núi Tu-di làm bút, lấy nước biển làm mực cũng không viết hết chữ tâm này. Chữ tâm sao to quá vậy? V́ Tâm thể sanh muôn pháp, tâm trùm khắp tất cả, cho nên không thể diễn tả được nó.

Kinh nói: “Diễn nói một chữ mà cả biển mực khó chép hết.” Vô lượng thu lại làm một, một buông ra thành vô lượng. Song thái hư dù rộng mà chẳng thể bao gồm thể kia; mặt trời, mặt trăng tuy sáng mà chẳng thể sánh với ánh sáng kia. Tâm ấy rộng bao cả thái hư; tánh ấy, lượng trùm khắp pháp giới, tṛn lặng sáng rực, không có Đông, Tây, Nam, Bắc, không có bốn phía, trên dưới, không vật có thể sánh, gượng gọi là tâm. Buông ra th́ lớn không ǵ ngoài, thu lại th́ nhỏ không ǵ trong. Bởi tâm vương ẩn hiện, gồm chứa tất cả người vật, trước trời đất, suốt xưa nay, một ḿnh tồn tại, một ḿnh chiếu soi, không h́nh không tướng, không xanh, vàng, đỏ, trắng, không vuông tṛn, dài ngắn, không đầu đuôi trước sau, không kiếp số, bờ mé, giống như hư không, không có mặt mày có thể nói phải quấy. Tuy không xanh, vàng, đỏ, trắng, vuông tṛn, dài ngắn, nhưng hay hiện ra xanh vàng đỏ trắng, vuông tṛn dài ngắn.

Kinh nói rằng một chữ tâm mà bút mực khó chép hết. Vô lượng tức là muôn pháp thu về một tâm, và từ một tâm lưu xuất ra muôn pháp. Song thái hư dù rộng mà chẳng thể bao gồm được tâm, ánh sáng của mặt trời mặt trăng chẳng bằng ánh sáng của tâm. Tâm rộng lớn ấy bao hàm cả thái hư, nhưng tạm gọi nó là tâm. Cả một đoạn văn dài ở trên nói lên ư nghĩa Tâm thể của chúng ta trùm khắp và tùy theo duyên ứng hiện. Tuy ứng hiện theo tất cả pháp nhưng không lệ thuộc vào tất cả pháp, nó là chủ mà nó cũng không rời tất cả pháp của nó hiện ra.

Cho nên Thiền sư Xuyên Lăo nói:

Ma-ha Đại pháp vương,
Không ngắn cũng không dài.
Xưa nay không đen trắng,
Tùy chỗ hiện xanh vàng.

Âm:

Ma-ha Đại pháp vương,
Vô đoản diệc vô trường.
Bản lai vô táo bạch,
Tùy xứ hiện thanh hoàng.

Ma-ha Đại pháp vương là chỉ cho Tâm thể lớn nhất, nó không ngắn không dài không đen không trắng, không cố định ở một h́nh tướng, tùy duyên ứng hiện nên có sai khác.

Nhắc lại lần nữa, ngài Chân Nguyên chỉ cho chúng ta biết rơ rằng nơi mọi người ai cũng có sẵn tâm linh giác, chớ không riêng một người nào. Nếu chúng ta không đuổi theo vọng tưởng mà để cho nó hiện trong mọi sanh hoạt, là biết sống với tâm linh giác, th́ khỏi phải nhọc công leo núi, lội sông để t́m kiếm, mà nó hiển hiện ở lúc mở lời nói năng, cử động tay chân, nhướng mày chớp mắt v.v... lúc nào nó cũng hiện hữu không hề thiếu vắng. Câu chuyện của ngài Văn Hỷ đối đáp với ông già ở núi Ngũ Đài cho ta rơ thêm ư nghĩa này.

Ngài Văn Hỷ lên núi Ngũ Đài t́m ngài Văn-thù, nhưng chỉ gặp ông già dắt trâu đi, mời Ngài vào động. Sau khi hỏi thăm, ông già rót nước mời uống. Ông đưa chung trà lên hỏi ngài Văn Hỷ:

- Ở phương Nam có cái này không?

Ngài Văn Hỷ trả lời:

- Dạ không.

Ông già hỏi:

- Hằng ngày lấy cái ǵ uống trà?

Ông già muốn hỏi “cái biết uống trà”, tức là tâm linh giác, chớ đâu có hỏi cái chung trà. Nhưng ngài Văn Hỷ không nhận ra, lại thấy cái chung trà đẹp quá, xứ ḿnh không có nên trả lời không. Nếu không th́ làm sao biết ăn biết uống? Hỏi phương Nam có cái này không? Trả lời có th́ không bị lừa, c̣n trả lời không th́ không nhận ra cái mà ông già muốn chỉ.

Ngài chỉ cho chúng ta thấy, trong tất cả mọi cử động đều hàm ẩn tâm linh giác, nên các Thiền sư muốn chỉ cái ấy cho chúng ta, hễ gặp phương tiện nào là sử dụng phương tiện đó. Ở đây ông già đưa chung trà, ở hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa, đều nhằm chỉ cho chúng ta nhận ra tâm Phật sẵn có nơi ḿnh. Chúng ta thật là người có phước lớn mới biết nơi ḿnh có sẵn ông Phật. Nếu thiếu phước th́ đâu biết ḿnh có Phật. Nhưng phước này ai cho? Tất cả chúng ta đều có sẵn. Song, nếu được chỉ th́ biết, không được chỉ th́ quên.

Như vậy chúng ta tu là có kết quả trước mắt chớ không t́m kiếm đâu xa. Đừng nghĩ rằng tu không biết bao giờ mới thành công, khéo ứng dụng là có kết quả. Trong mọi sanh hoạt hằng ngày, đi, đứng, nói năng, làm việc, quét nhà, nấu cơm v.v... không khởi vọng tưởng là chúng ta đang sống trong Niết-bàn. Chỉ tại chúng ta không khôn ngoan, làm việc này mà tưởng chuyện khác, mê nên luôn sống trong điên đảo lầm. Tự ḿnh chuốc khổ rồi kêu Phật cứu khổ, khổ đó do ai làm mà kêu Phật cứu? - Tự ḿnh làm th́ tự ḿnh giải chớ không ai giải khổ thế cho ḿnh được. Chẳng hạn người thân đi xa chưa về, ḿnh lo sợ ngồi đứng không yên, đầu óc rối bù, bèn đến đốt nhang cầu Phật gia hộ cho người thân đi đường được b́nh yên, tai qua nạn khỏi v.v... Tại ḿnh vọng tưởng quá rồi đâm ra hoảng hốt, cầu xin khấn vái chớ chắc ǵ người thân ḿnh gặp nạn! Đó là một trong những chuyện mà chúng ta tự tạo khổ cho ḿnh. Biết được như thế, hằng ngày chúng ta luôn luôn sống trong tỉnh giác yên lặng th́ cuộc sống được b́nh an tốt đẹp.

Pháp tánh vốn tùy duyên, sắc không đều chẳng ngại. Vào sông th́ tùy khúc uốn quanh; nước th́ thuận theo vật vuông tṛn. Như hạt châu ma-ni, ánh hiện ra năm màu, tùy loại đều hiện, trọn chẳng biến đổi. Dù không h́nh tướng mà hay hiện thành tất cả tướng, chân không mà diệu hữu, bất biến mà tùy duyên. Chân không là ban đầu của tánh, diệu hữu là ban đầu của khí. Nên biết, núi sông, quả đất, sum la vạn tượng, t́nh với vô t́nh, cho đến niệm thô, niệm tế, pháp nhiễm, pháp tịnh, không một vật, một trần nào ra ngoài tâm vương. Đây là diệu hữu.

Đoạn này Ngài giải thích về Pháp tánh tùy duyên. Chúng ta suy gẫm câu tùy duyên mà bất biến để hiểu sâu thêm phần này. Đây nói Pháp tánh vốn tùy duyên, nên nó hiện ra h́nh tướng mà sắc và không đều chẳng ngại nhau. Sắc là h́nh tướng, không là chỉ cho Thể tánh, hai cái đó nó không ngại nhau. Pháp tánh ví như nước, nước ở sông th́ tùy theo con sông mà ngay thẳng hay quanh co. Nước ở b́nh chai, tô chén tùy theo b́nh chai, tô chén mà vuông hay tṛn, không nhất định. Như vậy thể của nước th́ bất động, tùy theo duyên mà nước quanh co hay vuông tṛn. Lại ví như hạt châu ma-ni vốn trong sáng, nhưng ở bên ngoài óng ánh màu đỏ, màu xanh, màu vàng... th́ hạt châu ẩn hiện màu đó. Như vậy hạt châu không có màu, do bên ngoài có màu ǵ th́ thấy hạt châu hiện màu ấy. Hạt châu trong sáng là bất biến chỉ cho Pháp tánh, hạt châu có màu là tùy duyên biến đổi. Qua những ví dụ trên ngài Chân Nguyên muốn chỉ cho chúng ta Pháp tánh sẵn có nơi mọi người, nhưng nó tùy duyên, ở mắt th́ duyên theo sắc, ở tai th́ duyên theo tiếng, ở mũi th́ duyên theo mùi... Bởi nó tùy theo sáu căn duyên với sáu trần mà có muôn h́nh vạn trạng, có nhiều thứ chuyển biến tốt xấu thương ghét đủ thứ. Nguyên Pháp tánh th́ không có một thứ nên nói là chân không, nhưng tùy duyên th́ có đầy đủ muôn sự muôn vật. Thể bất biến th́ không đổi mà tùy duyên nên có khác. Do đó Ngài nói chân không là ban đầu của tánh, diệu hữu là ban đầu của khí. Chân không diệu hữu là lư của nhà Phật, chân không là cái thể không tướng mạo bất di bất dịch không đổi thay. Nhưng khi nó theo duyên biến hiện đủ thứ th́ gọi là diệu hữu. Ở đây Ngài lấy tinh thần của Lăo Trang để phối hợp với ư nghĩa chân không diệu hữu của nhà Phật. Theo tinh thần của Lăo Trang nói về tánh và khí th́, cái tánh của Lăo Trang ví như cái chân không của nhà Phật, cái khí của Lăo Trang ví như diệu hữu của nhà Phật.

Sau đây tôi dẫn một đoạn trong sách Trang Tử để rơ cái ư nghĩa đó. Về Trang Tử Tri Bắc Du có một đoạn viết: “Nhân chi sanh, khí chi tựu giả, tựu tắc vi sanh, tán tắc vi tử. Nhược tử sanh vi đồ, ngô nhược hà hoạn.” Dịch: “Sự sống của con người do khí tựu mà có. Khí tựu th́ sống, khí tan th́ chết. Nếu sống chết là đôi bạn đồng hành th́ ta c̣n bận tâm làm chi?” Như vậy chữ khí chỉ cho sự sanh, khí tựu th́ sanh, khí tan th́ diệt, sự sống chết tùy theo khí tựu và tán, giống như bên nhà Phật nói diệu hữu. Diệu hữu là tùy theo duyên, đủ duyên th́ thành sự vật, thiếu duyên th́ không.

Lại một đoạn của Hoài Nam Tử - Bản Kinh Huấn viết: “Thiên địa chi ḥa hợp, âm dương chi đào hóa, vạn vật giai thạnh nhất khí dă.” Dịch: “Sự ḥa hợp của trời đất, sự đào luyện biến hóa của âm dương, đối với vạn vật đều nhờ vào nhất khí.” Như vậy khí là sự tụ tán mà thành thiên h́nh vạn trạng, cho nên ngài Chân Nguyên dùng chữ tánh và khí của Lăo Trang để phối hợp với cái chân không và diệu hữu của nhà Phật. Ngài nói thêm rằng từ vạn vật hữu t́nh vô t́nh trên thế gian này cho đến các tâm niệm thô tế đều không ra ngoài tâm vương, tức là ngoài cái Tánh giác hay cái chân không. Từ cái chân không theo duyên mà hiện có đủ thứ gọi đó là diệu hữu. Đó là ư nghĩa chân không diệu hữu theo cái nh́n của ngài Chân Nguyên.

Lại nói: - Chẳng phải không, chẳng phải sắc, ứng hóa thành muôn thứ mà chẳng ĺa một chân thật. Tâm vương là thể như như, trong lặng thường trụ; vốn tự viên thành, dường như hư không; ứng vật hiện h́nh, như trăng trong nước. Nghĩa là tâm vương hay ứng hiện vào trong các loài, nên nói là thức ḥa hợp. Bản tánh tâm vương như gương tṛn lớn hiện các thứ h́nh sắc. Tâm vương vốn không h́nh tướng, tuy không