SANH  TỬ

 

Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận
Bát nhă tâm kinh
Tâm kinh

 

 


 

 

NỘI DUNG

Lời tựa

Cảm tạ

01 Giai đoạn khởi đầu

02 Tu Tập

03 Cảm Giác

04 Những mối quan hệ

05 Khổ Đau

06 Lư Tưởng

07 Giới Hạn

08 Sự Lựa Chọn

09 Sự Phục Vụ.

 

.

THIỀN trong T̀NH YÊU CÔNG VIỆC
Nguyên tác: Everyday Zen — Love & Work
Tác giả: Charlotte Joko Beck — Biên tập: Steve Smith
Dịch Việt: Lương Thanh B́nh

Chương 9 : Sự Phục vụ

Ước muốn của các người  (sẽ được) hoàn tất

Trong tuần này, nhiều người trong chúng ta xem chương tŕnh tài liệu từ truyền h́nh về đời sống và việc làm của mẹ Teresa.  Vài người gọi bà là thánh.  Tôi không chắc rằng cái tước hiệu như thế kia có ư nghĩa nhiều ǵ đối với bà; nhưng những ǵ tôi thấy ra đáng quan tâm nhất là bà chỉ làm việc kế tiếp, rồi kế tiếp, rồi lại kế tiếp, hoàn toàn cuốn hút bản thân bà vào trong mổi việc — đó là những ǵ chúng ta cần nên học.  Đời sống của bà là công việc của bà, làm mỗi việc một cách hết ḷng, từng phút giây.

Chúng ta, những người Mỹ sành điệu có khó khăn thấu hiểu lối sống như thế; nó thật là khó, nhưng nó là sự tu tập của chúng ta.  Nó không phải ước muốn của tôi mà là của anh chị được toại.  Đây không có nghĩa là “của anh chị” th́ khác biệt so với của tôi, nhưng nó th́ khác hơn theo cảm giác là: đời sống của tôi là một h́nh thức cá biệt theo thời gian và không gian, c̣n ước muốn của anh chị th́ không theo thời gian và không gian nhưng sự vận hành của chúng: móng tay vẫn mọc, lá gan vẫn lọc trong thân thể, sự nổ tung của một v́ sao — nổi thống khổ và kỳ diệu của vũ trụ.  Chủ nhân ông. 

Vấn đề với sự tu tập của vài tôn giáo là sự cố gắng vội vàng của cá nhân để tu tập một đời sống theo “Ước muốn của anh chị được toại” trước khi có bất kỳ sự hiểu biết thâm sâu ǵ để nhận lănh.  Trước khi tôi có thể hiểu “Ước muốn của anh chị”, tôi phải bắt đầu thấy cái ảo tưởng của “Ước muốn của tôi”:  Tôi phải biết càng thâm sâu bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu rằng cuộc đời của tôi bao gồm “Tôi muốn” và “Tôi muốn” và “Tôi muốn.” Tôi muốn cái ǵ?  Dường như mọi thứ, có khi nó tầm thường, đôi khi “thuộc về tinh thần,” và thông thường nhất cho chúng ta là “lề lối mà chúng ta nghĩ nó nên là thế nào.”

Khó khăn trong đời sống phát sinh bởi v́ những ǵ “Tôi muốn” sẽ luôn luôn va chạm chỉ là sớm hay muộn với những ǵ “Anh chị muốn.”  Đau đớn và khổ đau th́ không thể tránh khỏi theo đến sau.  Khi xem mẹ Teresa th́ rất rơ ràng là, nơi nào không có “tôi muốn” tồn tại th́ có hạnh phúc hiện hữu; hạnh phúc của làm những ǵ cần phải hoàn tất với quá tŕnh không có tư tưởng của “tôi muốn.”

Một điểm mà bà đă biểu hiện được là sự khác biệt giữa công việc của một người và công tác của một người.  Mỗi người trong chúng ta có vài h́nh thức của công việc — chẳng hạn như một bác sĩ, luật sư, học sinh, nội trợ, thợ sửa nhà — nhưng những h́nh thức này không phải là công tác của chúng ta.  Tại sao?  Trong tự điển ghi là, “công tác” bắt nguồn từ từ ngữ Latin “vocatio”, nghĩa là kêu gọi hay mời gọi. Mỗi người chúng ta (dù cho chúng ta có lưu ư hay không) th́ được mời gọi hay kêu gọi bởi bản thể (của anh chị); chúng ta sẽ không có mặt ở trung tâm thiền nếu cái ǵ đó không khuấy động.  Đời sống của mẹ Teresa th́ không giúp đỡ người nghèo, nhưng để đáp lời lại tiếng kêu và sự mời gọi.  Giúp đỡ người nghèo không phải là công việc của bà, nó là công tác của bà.  Truyền đạt kiến thức không phải là công việc của tôi, nó là công tác của tôi. Bạn cũng thế.

Thật ra công việc và công tác của chúng ta vốn là một.  Ví dụ, hôn nhân là nhiều dạng của công việc (kiếm tiền, chăm sóc con cái và nhà cửa, giúp đỡ người hôn phối và cộng đồng), nhưng công tác của hôn nhân vẫn luôn là tâm điểm.  Nó là bản thể của chúng ta, kêu gọi, mời gọi chính ḿnh.  Khi chúng ta rơ ràng về ai là chủ nhân ông, th́ công việc trôi chảy một cách dễ dàng.  Khi chúng ta không rơ ràng về công việc của ḿnh th́ sẽ có sai lầm, mối quan hệ của chúng ta có rạn nứt, bất kỳ hoàn cảnh nào có chúng ta dự phần đều có thiếu sót.

Tất cả chúng ta quay cuồng một cách vui vẻ về phía trước, làm việc làm của ḿnh, nhưng chúng ta có thể mù quáng về công tác của ḿnh.  Vậy th́ làm thế nào để chúng ta bớt đi mù quáng, làm thế nào chúng ta có thể nhận thức ra công tác của ḿnh, chủ nhân ông của ḿnh?  Làm thế nào chúng ta hiểu “Ước muốn của các anh chị được toại”?

Hai giai đoạn tu tập th́ đ̣i hỏi nơi chúng ta (và chúng ta luôn do dự giữa chúng).  Giai đoạn một là nhận thức ra một cách thành thật rằng, tôi không muốn làm “Ước muốn của anh chị” — mà thực tế, quên hẳn nó đi, tôi không có thích thú ǵ cả trong việc làm ấy.  Tôi muốn luôn luôn làm những ǵ tôi muốn thôi: tôi muốn được cái tôi muốn; tôi không muốn những thứ làm cho tôi khó chịu; tôi muốn thành công, lạc thú, sức khỏe, không phải là những thứ khác.  Cảm nhận này về “tôi muốn” tỏa khắp từng tế bào của thân thể tôi; đó là điều không thể nào cho chúng ta để diễn giải tường tận về đời sống nếu không có nó.

Tuy nhiên, khi chúng ta ngồi một cách kiên nhẫn qua nhiều năm với sự chú tâm cao độ, chúng ta có thể tập trung, th́ giai đoạn thứ hai h́nh thành: kiến thức được gầy dựng trong tế bào của chúng ta về chúng ta thật sự là ai, đồng thời, niềm tin trên khái niệm của chúng ta (ước muốn của tôi) từ từ yếu đi.  Vài người thích nh́n thấy tu thiền như là một cái ǵ bí ẩn, xa vời, tách biệt hẳn từ thực tế.  Không! Hoàn toàn không đúng như thế cả.  Thay v́ một sự chuyển đổi chậm ở mức độ vi tế dạy cho chúng ta theo thời gian từ năm này sang năm khác.  Với sự vắng mặt của t́nh trạng cân nhắc triết lư, chúng ta bắt đầu thấy ra ai là Chủ nhân ông.  Ước muốn của anh chị và ước muốn của tôi th́ càng trở nên giống như nhau.

Tôi không cảm thấy buồn ǵ cả cho mẹ Teresa.  Bà đă làm những ǵ đă mang đến cho bà những niềm hoan hỉ lớn lao.  Tôi ngược lại cảm thấy buồn cho tất cả chúng ta, những người đang bị kẹt cứng một cách mù quáng trong lao tù đời sống của “ước muốn của tôi sẽ được thành”, kẹt trong sự bồn chồn và hỗn loạn.

Tất cả đời sống của chúng ta đều mang lại những vấn đề — hoặc là, có phải chúng ta đă được cho những cơ hội?  Chỉ khi nào chúng ta học cách tu tập và có thể chọn (cho ḿnh một cách ứng phó) không trốn chạy những cơ hội của ḿnh, mà chỉ ngồi qua cơn giận, sự kháng cự, nỗi buồn và thất vọng của ḿnh, th́ chúng ta có thể nh́n thấy bề mặt phía bên kia.  Mặt kia th́ luôn luôn: không phải là ước muốn của tôi mà là của anh chị được toại — một đời sống chúng ta thật sự muốn.  Những ǵ cần thiết?  Một đời sống dài 
cho tu tập

Không đổi chác

Sự phân biệt giữa một đời sống có thao tác và một đời sống không bị lôi kéo là ǵ?  Là một thiền sinh, chúng ta có lẽ không nghĩ về bản thân ḿnh như một kẻ thao tác. Hăy thừa nhận sự thật, chúng ta đâu phải đang đánh cướp phi cơ đâu.  Nhưng ở mức độ vi tế, tất cả chúng ta đều là người thao tác, và chúng ta thật ra không muốn như vậy.

Hăy xem xét hai lối mà chúng ta hành xử trong đời sống. Một mặt, hành động có thể bị điều khiển bởi “vọng tâm” của ta: sự ước đoán của tâm, tưởng tượng, tham vọng — cái tâm bé nhỏ mà chúng ta đối mặc trong khi ta tọa thiền.  Ví dụ, chúng ta có vài lư do để không thích một người, và đă đối xử với người đó theo một cách có thành kiến.  Mặt khác, hành động có thể bắt nguồn từ cảm xúc giác quan vào đời sống của ḿnh.  Giả sử là, khi đi ngang qua nhà bếp, tôi làm rơi một quả nho xuống sàn nhà.  Tôi nhận ra đó, cúi xuống, nhặt nó lên.  Đó là hành động bị điều khiển bởi cảm xúc giác quan; nó là hành động không bị thao tác.

Nhưng giả sử rằng, tôi có một khái niệm: nhà bếp th́ phải thật sạch sẽ.  Có cái khái niệm này, tôi luôn luôn t́m cách lau chùi và giữ cho nó thật sạch.  Giờ đây, có cái khái niệm này th́ không thành vấn đề; nó cũng tốt khi có một nhà bếp sạch sẽ.  Nhưng khi cái khái niệm chừng như không c̣n được xem như là một khái niệm nữa — ví dụ, nếu chúng ta sống trong một gia đ́nh mà căn nhà sạch sẽ là điều quan trọng nhất trong đời sống gia đ́nh — chúng ta có một khái niệm để phát sinh ra hành động, thay v́ hành động bắt nguồn từ cái nhu cầu do nhận thức được.  Ví dụ cụ thể, mức độ sạch sẽ của sàng nhà bếp có thể được áp chế tùy vào ta có trẻ nhỏ hay là không.  Nếu bạn có ba hay bốn đứa con vào khoảng sáu tuổi hay nhỏ hơn, cái sàng nhà bếp của bạn sẽ không bao giờ sạch bóng — ngoại trừ khi bạn là mẩu người mẹ nghĩ rằng cái nhà bếp bóng loáng th́ quan trọng hơn gia đ́nh.  Vài người trong chúng ta đă lớn lên trong những gia đ́nh như thế.  Trong trường hợp này, th́ mọi thứ bị trở ngược.  Một khái niệm th́ chừng như không chỉ c̣n là một khái niệm nữa — nó được xem như là một chân lư rồi. “Nhà bếp nên thật sạch.  Đó là một điều tội lỗi nếu nhà bếp th́ không sạch sẽ.” 

Để thành toàn cái khái niệm của chúng ta, chúng ta sẽ tàn phá gia đ́nh, đất nước, mọi thứ.  Tất cả chiến tranh đều dựa vào những khái niệm, vài ư thức hệ mà một quốc gia nói là sự thật (chân lư, đúng).  Cái vọng tâm th́ luôn luôn độc tài, luôn luôn muốn sửa chửa cái thế giới để ép buộc thi hành cái khái niệm, thay v́ cởi mở để nhận thức ra những nhu cầu.  Cho nên khi hành động trái ngược (đi ngược chiều) th́ nó trở nên có tính thao tác.  Chúng ta phải có những khái niệm để vận hành; chúng th́ không phải là vấn đề.  Vấn đề được tạo ra khi chúng ta tin rằng những khái niệm này là chân lư. Nghĩ là một nhà bếp phải sạch sẽ, th́ không phải là một sự thật — nó là một khái niệm.  Vọng tâm thích thú đổi chác chứ không thích kinh nghiệm.  Đó có nghĩa là ǵ?

Nỗi khổ đau của chúng ta đă bám rễ trong cảm giác không thật của bản ngă, một cái ngă cấu thành từ khái niệm.  Nếu chúng ta nghĩ cái ngă này thực sự tồn tại, và tin tưởng vào những khái niệm của nó là chân lư, kể từ đó chúng ta bắt đầu cảm thấy chúng ta phải bảo vệ cái ngă đó, phải thỏa măn tham vọng của nó.  Nếu chúng ta nghĩ, một nhà bếp phải sạch sẽ, rồi chúng ta áp dụng bản thân để tiến hành mệnh lệnh này, ngay cả áp bức kẻ khác để đạt đến mục đích.  Một cái “Ngă” đơn giản là một cá nhân mà người ấy tin tưởng khái niệm của ḿnh là một sự thật, và bị ám ảnh bởi bất cứ việc ǵ có thể thực hiện được để bảo vệ cái ngă với những khái niệm để khích lệ lạc thú và tiện lợi của nó.

Khi chúng ta sống ở trong vũ trụ của ḿnh bằng phương cách hai chữ: “Tôi muốn”.  Nếu chúng ta thật sự nh́n, chúng ta sẽ thấy rằng, Tôi muốn đang điều khiển cuộc sống của chúng ta.  Chúng ta có thể muốn được ủng hộ, muốn thành công, muốn được giác ngộ, muốn được yên tỉnh, muốn được khỏe mạnh, muốn được kích thích, muốn được yêu đương.  “Tôi muốn, tôi muốn, tôi muốn, tôi muốn.”  Luôn luôn chúng ta muốn bởi v́ chúng ta cố gắng chăm sóc cái khái niệm này, cái mà chúng ta nghĩ là “Bản ngă” của ta.  Chúng ta muốn uốn nắn đời sống ăn khớp với cái khái niệm về nó (cuộc sống) của chúng ta.

Ví dụ, nếu chúng ta muốn xuất hiện như một người không ích kỷ, chúng ta sẽ sắp đặt mọi thứ để cho chúng ta trông có nét vị tha. (Nó có lẽ không dính dấp ǵ với nhân cách thật của ta.)  Để được thế, trong sự đánh đổi, th́ không được cử chỉ, không được hành động, không có thứ nào thuộc tư cách của chính ḿnh được tự do thoải mái do sự kỳ vọng (có nét vị tha).  Khi chúng ta làm một hành động chúng ta kỳ vọng điều ǵ đó trở về; giống như trong sự trao đổi cho những ǵ chúng ta kỳ vọng có lại thứ khác.  Trong nghĩa trao đổi thông thường, nếu bạn bán chuối, tôi trả tiền nhiều th́ tôi sẽ có nhiều chuối; đó là trao đổi công bằng.  Nhưng cái tṛ chơi mà chúng ta đang chơi về kỳ vọng có được những ǵ từ sự trao đổi cách xử thế của chúng ta th́ không giống như vậy.

Ví dụ, nếu tôi cho ra một món quà (thời gian, hay tiền bạc, hay sự phấn đấu), tôi kỳ vọng những ǵ?  Bạn kỳ vọng những ǵ? Có lẽ tôi cảm thấy tôi nên có được sự biết ơn.  Nếu chúng ta cho ra bất kỳ thứ ǵ chúng ta kỳ vọng trao đổi cho một thứ khác.  Chúng ta muốn người đó thỏa măn khái niệm cá nhân của chúng ta.  Khi chúng ta cho ra một món quà th́ chúng ta là cao thượng phải không?  Chúng ta đang cho hắn ǵ đó; anh ta ít nhất phải nên biết phải không?  Chúng ta kỳ vọng sự trao đổi cho cái đó.  Nó là một sự đổi chác; chúng ta biến đời sống “ngoài kia” thành những ǵ mà chúng ta đang trao đổi, mua bán.

Nếu chúng ta làm việc cho một tổ chức, chúng ta kỳ vọng sự đổi chác cho đó.  Nếu chúng ta làm một điều ǵ cho tổ chức, nửa phần kia th́ ở đâu, sự trao đổi th́ ở đâu?  Nếu chúng ta tham gia vào một hội đoàn, chúng ta kỳ vọng một thứ ǵ đó: có thể sự thừa nhận, sự quan trọng, tiếp đăi đặt biệt.

Nếu chúng ta kiên nhẫn trong một hoàn cảnh khó khăn, và giữ êm lặng (“Bạn biết, bất cứ ai khác sẽ nổi cơn, nhưng tôi th́ kiên nhẫn”), chúng ta kỳ vọng ǵ trong sự trao đổi này sau đó?  Có ai đó nên nhận ra chúng ta kiên nhẫn ra sao!  Luôn luôn chúng ta t́m kiếm sự trao đổi; chúng ta thậm chí đặt dấu hiệu đồng tiền lên nó.  Hoặc là nếu chúng ta là người hiểu biết và tha thứ (“Rốt ráo th́ mọi người đều biết cô ta là người khó tính như thế nào rồi”) chúng ta kỳ vọng ǵ?  Nếu chúng ta hy sinh bản thân, chúng ta nên có được những ǵ trong sự trao đổi?  Nhiều tṛ giữa bậc cha mẹ và con cái th́ nằm trong phạm vi này. “Ta đă làm mọi thứ cho con — con thật không biết ơn và ..!” Đây là “sự đổi trao” một cách tâm lư: thao túng, một h́nh thức cướp đoạt một cách tế nhị cao cấp.

Những ǵ chúng ta kỳ vọng th́ thường rất ít khi có được.  Nếu chúng ta tu tập đủ lâu th́ sẽ thấy rằng, bất cứ sự kỳ vọng nào qua cách trao đổi đều là sai lầm. Thế gian không bao gồm những đối tượng “ngoài kia”, nhằm mục đích để thỏa măn những khái niệm của tôi. Vào lúc chúng ta thấy rơ ràng rằng, phần lớn mọi thứ chúng ta làm đều không ngoài sự kỳ vọng qua sự trao đổi — một nhận thức đau ḷng nhất.

Khi sự kỳ vọng không thành — khi chúng ta không có được những ǵ chúng ta đeo đuổi — chính phút giây đó th́ sự tu tập có thể khởi đầu.  Sư trưởng Trungpa đă từng viết rằng “Sự thất vọng là một chiến xa tốt nhất để dùng trên con đường phật pháp.”  Sự thất vọng là người bạn chân chính, cẩm nang có thể tin cậy của chúng ta; nhưng dĩ nhiên không một ai thích loại bạn như thế.

Khi chúng ta khước từ làm việc với sự thất vọng của ḿnh, th́ chúng ta đă vi phạm lời dạy: thay v́ kinh nghiệm cơn thất vọng, chúng ta lại dùng tới giận dữ, tham lam, tán gẫu, chỉ trích.  Nhưng phút giây của trạng thái thất vọng th́ rất lợi ích; nếu chúng ta không vui ḷng kinh nghiệm nó, th́ ít nhất chúng ta nên nhận ra là chúng ta không sẳn ḷng để làm thế.  Phút giây thất vọng trong đời là một món quà không ǵ sánh bằng mà chúng ta nhận nhiều lần trong một ngày nếu chúng ta cảnh giác.  Món quà này th́ luôn luôn phơi bày ra trong đời sống của mọi người, ở trong phút giây “Đó không phải là cách tôi muốn nó xảy ra!”

Bởi v́ đời sống hàng ngày trôi qua lẹ quá, chúng ta không luôn luôn có sự tỉnh giác rơ ràng về những ǵ đang xảy ra cho ta.  Nhưng khi chúng ta ngồi yên th́ chúng ta có thể quan sát và kinh nghiệm nỗi thất vọng của ḿnh.  Tọa thiền mỗi ngày là việc cơ bản của chúng ta, chất liệu căn bản của pháp; không có nó chúng ta có khuynh hướng bị lầm lẫn.

Ngay cả sau một khóa tu ngắn hạn như khóa vào tuần rồi của chúng ta, tôi thấy vui ḷng khi nh́n thấy nét mềm dẽo, cởi mở ở mọi người.  Khóa tu th́ đơn giản chỉ là một lời từ chối đối với những kỳ vọng của chúng ta.  Từ khi bắt đầu cho đến phút cuối của một khóa tu đă được trù tính để làm cho ta thất vọng!  Không thể tránh khỏi là nó làm cho ta đau đớn từ thể xác cho đến tinh thần.  Nó kéo dài cái kinh nghiệm về “Đó không phải là cách thức mà tôi muốn nó!”  Khi chúng ta ngồi với những cảm giác đó, luôn luôn có những chuyển biến thặng dư trong chúng ta.  Trong vài trường hợp nó th́ rất rơ ràng.  Nhưng người mà đạt được kết quả tốt nhất th́ thường là người không hay dự nhiều khóa tu.  Những người kỳ cựu có thể tránh khóa tu ngay cả khi họ dự nó! Họ biết cách để tránh cơn đau đớn ở chân cho nên nó không đến nổi quá tệ; họ biết nhiều mánh khóe tế nhị để tránh mọi thứ.  Bởi v́ người mới có ít kỹ năng cho nên khóa tu ảnh hưởng nặng nề hơn và thông thường có những thay đổi rơ rệt.

Chúng ta cảnh giác những kỳ vọng của ḿnh càng nhiều, th́ chúng ta thấy nhiều hơn sự khao khát của ta muốn thao túng cuộc sống hơn là sống với như-nó-là.  Những thiền sinh vững vàng không c̣n giận dữ thường xuyên nữa bởi v́ họ thấy kỳ vọng, tham muốn của họ trước khi họ phát khởi cơn giận.  Nhưng nếu thời kỳ của cơn giận đă đến th́ nó là sự tu tập.  Tín hiệu của chúng ta để tu tập, “đèn đỏ” của ḿnh, là ở phút giây đảo lộn, thất vọng. “Đó không phải là cách thức mà tôi muốn nó!”  Vài kỳ vọng không được hoàn thành và chúng ta cảm nhận sự cáu bẳn, sự chán nản, cái tham vọng để được nó, th́ hoàn toàn trái ngược.  “Tôi muốn” thật là thất vọng.  Ở phút giây này, khi mà “Tôi muốn” th́ thật là thất vọng, chính là cổng “Vô Môn” — bởi v́ con đường duy nhất để thay đổi hoàn toàn “Tôi muốn” trở thành “Tôi là” là quá tŕnh kinh nghiệm bản chất của nỗi thất vọng và t́nh trạng chán nản.

Hành động phát xuất từ kinh nghiệm — nhặt quả nho lên từ sàng nhà bếp — là hành động bắt nguồn từ nhu cầu mà ḿnh nhận thức ra; nó th́ không bị thao túng.  Hành động xuất phát từ vọng tâm của sự kỳ vọng, “Tôi muốn” là chuyên chế, từ tâm của kẻ cướp.  Khi chúng ta tin tư tưởng và khái niệm của ḿnh về người khác và sự kiện, chúng ta có khuynh hướng thao tác, và đời sống của chúng ta có rất ít cảm thông.  Nhưng một đời sống của ḷng bi mẫn th́ không thao tác — đời sống không có sự đổi chác.

Dụ ngôn về Mushin

Ngày xưa trong một phố nhỏ có tên là Hy Vọng, có một người trai trẻ tên là Joe.  Joe học khá sâu Phật pháp, và anh có một pháp danh là Mushin.

Joe sống một cuộc sống b́nh thường như mọi người khác.  Anh đi làm và có một người vợ tử tế; nhưng mặc dù Joe hứng thú với Phật pháp, Joe vẫn là một người cộc cằn, tự cao, và cay cú.  Rồi cũng chính v́ cá tính đó cho nên một ngày kia, sau khi anh tạo ra mọi sự hỗn loạn trong sở làm, người xếp của anh nói, “Tôi chịu đựng anh đủ rồi, Joe.  Tôi đuổi anh!”  Thế rồi Joe rời sở làm.  Thất nghiệp.  Nhưng khi anh về đến nhà, anh t́m thấy một lá thư từ vợ của anh, và trong thư có viết, “Tôi chịu đựng anh đủ rồi, Joe.  Tôi rời xa anh.”  Vậy th́ Joe chỉ c̣n có cái pḥng thuê, bản thân ḿnh, và không c̣n ǵ khác.

Nhưng Joe, Mushin, không phải là người đầu hàng một cách dễ dàng.  Anh nguyện rằng, dù cho anh không c̣n có việc làm và người vợ, anh sẽ có một thứ trong cuộc đời mà thật sự quan trọng — sự giác ngộ.  Anh vội vă chạy đến một tiệm sách gần nhất.  Joe nh́n qua loạt sách cuối cùng về phương thức đạt đến giác ngộ.  Và có một cuốn mà anh t́m thấy đặt biệt thích thú.  Nó có tựa đề “Phương pháp để bắt kịp con tàu giác ngộ”  Cho nên anh mua cuốn sách và nghiền ngẫm nó thật kỹ càng. Khi anh nghiên cứu nó một cách hoàn toàn, anh về nhà và trả lại căn pḥng đang thuê, bỏ tất cả vật dụng của ḿnh trong túi ba lô và bỏ đi tới trạm xe lửa ở ngoại ô của phố nhỏ.  Quyển sách nói rằng, nếu bạn theo tất cả chỉ dẫn của nó — bạn làm cái này, và cái kia, và cái nọ — rồi khi đoàn xe lửa đến, bạn sẽ có thể bắt được nó.  Và anh nghĩ, “Rất tốt!”

Joe tới trạm xe lửa, vốn là một nơi vắng vẻ, và anh đọc lại cuốn sách một lần nữa, ghi nhớ mọi lời chỉ dẫn, và rồi ngồi yên đó để chờ đợi.  Anh đợi và đợi và đợi.  Hai, ba, bốn ngày, anh đợi chờ “Con tàu Giác ngộ” đến, bởi v́ trong sách có nói, chắc chắn nó sẽ đến.  Và anh có ḷng tin mănh liệt với cuốn sách của anh.  Quả thật, vào ngày thứ tư, anh nghe tiếng gầm lớn từ xa, tiếng gầm này thật là to lớn kinh khủng.  Và anh biết đây phải là con tàu.  Cho nên anh chuẩn bị sẳn sàng.  Anh thật quá kích động bởi v́ con tàu đang đến, anh thật khó mà tin tưởng được … và  whoosh .. nó đi qua! Nó chỉ là một cái bóng mờ lướt qua thật nhanh.  Cái ǵ đă xảy ra?  Anh không thể nào bắt được nó!

Joe thật là hoang mang nhưng không nản ḷng. Anh lấy quyển sách ra và một lần nữa nghiên cứu thêm những bài thực tập, và anh làm, làm trong lúc anh ngồi trên cái nền, và đặt tất cả mọi thứ anh có bên cạnh.  Rồi ba hay bốn ngày sau, một lần nữa anh nghe tiếng gầm to lớn từ xa, và lần này anh chắc chắn anh sẽ bắp kịp con tàu.  Rồi đột ngột, kia nó .. whoosh .. nó biến mất.  A! làm ǵ bây giờ?  Bởi v́ rơ ràng là có con tàu, chớ đâu phải là không có.  Anh biết điều đó, nhưng anh không thể nào bắt kịp nó.  Cho nên anh nghiên cứu thêm, và anh cố gắng thêm, anh làm, và là, và rồi sự kiện lại xảy ra lần này sang lần khác.

Rồi thời gian trôi qua, nhiều người khác cũng đến tiệm sách kia và mua quyển sách đó.  Cho nên Joe bắt đầu có người cùng chí hướng.  Ban đầu th́ có bốn hay năm người đến trông chờ con tàu, và rồi ba-mươi hay bốn-mươi người trông chờ con tàu.  Sự kích thích th́ thật là to lớn! Đây là câu trả lời, một cách rơ ràng đến.  Tất cả họ đều có thể nghe tiếng gầm khi con tàu đi qua và dù cho không một ai đă từng bắt kịp nó.  Có một niềm tin vĩ đại là, v́ lư do ǵ đó, một ngày nào đó, ít nhất một người trong họ sẽ bắt được con tàu.  Ngay cả nếu chỉ một người có thể bắt kịp, nó cũng sẽ gieo niềm hy vọng cho những người c̣n lại.  V́ vậy, nhóm nhỏ kia tăng thêm dần, và niềm kích thích cũng rất kỳ diệu.

Theo thời gian trôi đi, Mushin để ư thấy rằng một số trong những người đến đây họ mang theo cả con cái nhỏ cả họ.  Và họ quá măi mê trong việc t́m kiếm con tàu đến đổi khi những đứa trẻ cần sự lưu ư của cha và mẹ, họ bảo chúng, “Đừng có quấy rầy, đi chỗ khác chơi.”  Những đứa trẻ này thật sự bị bỏ bê.  Mushin th́ thật ra không phải là một người đến nỗi tệ như vậy, anh bắt đầu kinh ngạc, “A! Tôi rất muốn t́m thấy con tàu, nhưng phải có người chăm sóc những đứa trẻ.”  Cho nên anh bắt đầu dành ít thời gian cho chúng.  Anh t́m trong túi ba lô của ḿnh và mang ra những bọc đậu, nho khô, kẹo chocolate và chuyền cho những đứa bé.  Vài đứa thật sự đang đói.  Những người cha, mẹ đang t́m nh́n con tàu chừng như không biết đói là ǵ; nhưng con của họ th́ đói.  Chúng bị trầy gối, nên anh t́m những băng cá nhân trong túi ba lô của ḿnh để chăm sóc đầu gối của chúng, và anh đọc những câu chuyện từ những cuốn sách nhỏ của chúng cho chúng nghe.

Sự việc khởi nguồn như thế, trong khi anh vẫn dành ít thời giờ cho con tàu, nhưng bọn trẻ trở thành sự quan tâm chính của anh.  Rồi lại đến nhiều thêm.  Trong một tháng, có những đứa trẻ vị thành niên và với lứa tuổi này, chúng có thật nhiều năng lực và hiếu động.  Cho nên Mushin gom những đứa vị thành niên lại và gầy dựng đội bóng chuyền ở phía sau trạm ga.  Anh khởi sự vườn trồng trọt để giữ bọn chúng bận rộn. Ngay cả việc anh khuyến khích vài đứa vững chạc giúp đỡ anh.  Những ǵ sẽ xảy ra th́ tất phải xảy ra, anh có cả một kế hoạch trù định vận hành và có ít đi thời gian cho con tàu; anh đă giận dữ ḿnh về vấn đề này. Vấn đề quan trọng cần làm cho những người lớn là chờ đợi con tàu, nhưng anh phải chăm sóc tất cả mọi công việc với bọn trẻ, và v́ thế cơn giận và niềm cay đắng của anh thật đang sôi sục.  Nhưng dù cho thế nào đi chăng nữa, anh biết anh phải chăm sóc cho bọn nhỏ, và anh vẫn làm thế.

Trăi qua thêm thời gian, hàng trăm và rồi ngàn người đến để ngắm nh́n con tàu, họ mang theo con cái, người thân. Mushin th́ thật là phiền toái với tất cả những nhu cầu của mọi người cho nên anh phải mở thêm cái trạm xe.  Anh phải làm thêm giường ngũ; anh phải xây lên nhà bưu điện, trường học và anh rất ư là bận rộn; nhưng cơn giận và niềm phẫn uất của anh cũng ở ngay đó.  “Các người có biết không, tôi chỉ hứng thú với sự giác ngộ. Những người kia th́ t́m ngắm con tàu, c̣n tôi, tôi thật sự đang làm cái ǵ?”  Nhưng anh vẫn tiếp tục làm những việc này.

Nhưng rồi một ngày kia anh chợt nhớ là, trong khi anh liệng bỏ đi phần lớn những quyển sách trong căn pḥng anh đă thuê, v́ một lư do nào đó anh vẫn c̣n giữ một quyển nhỏ.  Cho nên anh lục lạo trong túi ba lô của anh.  Cuốn sách có tên “Phương pháp tọa thiền.”  Thế rồi Joe có một phương pháp chỉ dẫn mới để học. Nó dường như cũng không đến nỗi khó khăn lắm; anh ngồi xuống và học cách tọa thiền.  Thật sớm mỗi ngày trước khi mọi người thức giấc, anh ngồi trên tọa cụ và tu tập trong một lúc.  Theo thời gian, cái thời khóa đ̣i hỏi luôn bận bịu mà anh bị ch́m đắm một cách miễn cưỡng kia dường không làm cho anh căng thẳng quá mức nữa.  Anh nghĩ rằng, có thể có sự liên hệ giữa pháp tọa thiền này, thế ngồi này, và trạng thái b́nh yên mà anh bắt đầu cảm nhận.  Một vài người khác ở trạm ga cũng cảm thấy nản ḷng nhiều về con tàu mà họ không thể bắt kịp; cho nên họ bắt đầu ngồi với anh.  Một nhóm tọa thiền mỗi sáng, và cùng thời, hệ thống t́m ngắm con tàu vẫn liên tục lớn dần.  Ở trạm ga kế của lộ tŕnh, một tập đoàn mới cho những người t́m ngắm con tàu được h́nh thành.  Những vấn đề khó khăn được lập lại giống như ở đây, cho nên thỉnh thoảng nhóm người của anh phải đến đó giúp họ giải quyết những khó khăn của họ.  Và rồi một cái trạm ga thứ ba… công việc chừng như vô tận.

Họ thật sự rất bận rộn.  Từ sáng cho đến tối, họ nuôi trẻ em, làm đồ gỗ, điều hành bưu cục, xây dựng nhà y tế mới — cả một cộng đồng cần phải hoạt động và sinh tồn.  Và suốt trong những thời gian này, họ không thể nào t́m ngắm con tàu.  Nó chỉ tiếp tục chớp qua.  Họ có thể nghe tiếng gầm, nhưng những ganh tị và niềm cay đắng th́ vẫn c̣n đó. Tuy thế, họ phải chấp nhận rằng, nó không c̣n giống ngày xưa nữa; nó c̣n đó và đôi khi chừng như nó không c̣n đó.  Cái ngă rẽ của Mushin là khi anh ta cố thử cái điều mà trong cuốn sách nhỏ của anh diễn tả là “khóa tu”.  Anh tập hộp mọi người trong nhóm của anh, trong một góc của cái trạm ga, họ dàn xếp một khoảng trống riêng biệt để họ có thể tọa thiền liên tục trong bốn hay năm ngày.  Thỉnh thoảng họ có nghe tiếng gầm của con tàu từ xa, nhưng họ làm ngơ không chú ư đến nó và tiếp tục ngồi.  Và họ cũng có giới thiệu phương pháp tu tập khó khăn này cho những trạm ga khác.

Mushin giờ th́ đă vào trong tuổi năm mươi. Sự căng thẳng và vất vả theo thời gian đă tác động vào người của anh biểu lộ ra rất rơ.  Trông anh có vẽ rất mệt mơi với chiếc lưng c̣ng.  Nhưng giờ đây, anh không c̣n lo lắng về những ǵ mà anh vẫn thường hay lo lắng trước kia.  Anh đă quên mất những câu hỏi có tính triết học vĩ đại mà thường kẹp chặt anh: “Tôi có thật hiện hữu không?”  “Đời sống có thật không?”  “Cuộc sống phải chăng là một giấc mộng?”  Anh th́ quá bận rộn với tọa thiền và làm việc cho nên mọi thứ đă phai nhạt dần theo năm tháng ngoại trừ những ǵ cần phải làm trong ngày.  Niềm cay đắng cũng mờ phai.  Câu hỏi đại sự cũng lu mờ.  Cuối cùng không c̣n ǵ nữa cả cho Mushin ngoại trừ những ǵ cần phải làm.  Nhưng anh không c̣n cảm thấy phải làm cho xong, anh chỉ làm nó, thế thôi.

Giờ đây, có cả một cộng đồng khổng lồ ở những trạm ga xe, làm việc, mang con cái đến, cũng đồng thời là những người chờ đợi con tàu.  Một số trong nhóm người này dần dần sát nhập vào cộng đồng và số khác vẫn là kẻ đến qua.  Mushin cuối cùng cảm thấy đồng cảm với những người t́m ngắm con tàu nữa.  Ông phục vụ họ, giúp đỡ họ để t́m ngắm.   Theo nề nếp vận hành như thế trong nhiều năm.  Mushin trở nên già hơn và ṃn mơi hơn.  Những câu hỏi ngày xưa của ông đă hoàn toàn biến mất.  Không c̣n ǵ cả.  Chỉ c̣n có một ông già Mushin và đời sống của ông, làm những ǵ cần làm trong từng giây phút.

Vào một đêm, v́ một lư do ǵ không biết, Mushin nghĩ, “Tôi sẽ ngồi trọn đêm nay.  Tôi không biết tại sao tôi muốn thế.  Tôi sẽ chỉ làm thế.”  Đối với ông, ngồi không c̣n là một câu hỏi để t́m ǵ, cố gắng cải thiện, cố gắng trở nên thánh thiện.  Tất cả những ư niệm này đă phai tàn từ nhiều năm tháng xa xôi rồi.  Đối với Mushin, không có ǵ cả ngoại trừ sự ngồi: Nghe vài chiếc xe chạy từ xa trong đêm.  Cảm nhận không khí lạnh về đêm. Thưởng thức sự thay đổi trong thân thể.  Mushin ngồi và ngồi qua suốt một đêm, và vào lúc b́nh minh, ông nghe tiếng gầm của con tàu.  Kế đó, rất là nhẹ nhàng, con tàu đến và dừng lại ngay trước mặt của ông.  Ông nhận thức ra điều đó, từ ngay lúc ban đầu ông đă ở trên con tàu.  Sự thật, ông chính là thực chất của con tàu.  Không cần phải bắt kịp con tàu.  Không có ǵ cần nhận ra.  Không có nơi nào để đi. Chỉ là thực chất của đời sống tổng thể.  Tất cả những câu hỏi cổ xưa mà chưa từng hỏi qua đă tự trả lời.  Rốt cuộc, con tàu tan biến và chỉ c̣n một ông già ngồi đó qua trọn một đêm.

Mushin duỗi thẳng và đứng lên từ tọa cụ.  Ông ngồi và pha ly cà phê buổi sáng, chia cho mọi người vừa mới đến làm việc. Sau đó chúng ta thấy ông đi đến tiệm thợ mộc với những người con trai, chỉ cách họ làm một bộ dụng cụ đánh đu cho sân chơi.  Đó là câu chuyện về Mushin.  Mushin thấy được những ǵ? Tôi sẽ để đó cho bạn nghĩ.

Notes 

Preface
v. an amazingly pure Alan Watts, "Beat Zen, Square Zen and Zen" in This Is It and Other Essays on Zen and Spiritual Experience (New York: vintage, 1973), 106. 
vii. There is another Elihu Genmyo Smith, "Practice: Working With Everything,” unpublished manuscript. 
viii. From the withered Compare The Record of Tung-Shan, translated by William F. Powell (Honolulu, Hawaii: University of Hawaii Press, 1986), 63: ''The blooming of a flower on a sear old tree, a spring outside of kalpas.” See also lsshu Miura and Ruth Fuller Sasaki, Zen Dust: The History of the Koan and Koan Study in Rinzai (Lin-Chi) Zen (New York: Harcourt, Brace & World, 1966), 104: ''In the spring beyond time, the withered tree flowers.”
The Fire of Attention
32. If you can Huang Po, from The Zen Teaching of Huang Po, translated by John Blofeld (New York: Grove Press, 1959), 33. 
33. We cannot solve Compare The Recorded Sayings of Ch'an Master Un-chi Hui-chao of Chen Prefecture, translated by Ruth Fuller Sasaki (Kyoto, Japan: The Institute for Zen Studies, 1975), 9 ff. 
33. On no account Huang Po, in Blofeld, The Zen Teaching, 130. 
No Hope
67. Next, you should Zen Master Ḍgen and Kasha Uchiyama, Refining Your Life: From the Zen Kitchen to Enlightenment, translated by Thomas Wright (New York, Tokyo: Weatherhill, 1983), 5. 
67. He carried a Ibid., 9 ff. 
Love
71. When, through practice ... own conditioned preconceptions. Menzan Zenji, Shikantaza: An Introduction to Zazen, edited and translated by Sḥhaku Okumura, published by Kyoto Ṣṭ-Zen Center (Toyko, Japan: Ṭḳ Insatsu KK, 1985), 106. 
True Suffering and False Suffering 
107. This mind is Huang Po, in Blofeld, The Zen Teaching, 33. 
Renunciation 
110. Renunciation is not Shunryu Suzuki, Roshi, Wind Bell 7, no. 28, 1968. 
Tragedy 
119. a man was "A parable," in Zen Flesh, Zen Bones: A Collection of Zen and Pre-Zen Writings, compiled by Paul Reps (Garden City, New York: Anchor Books, no date), 22 ff. Compare also Leo Tolstoy, "My Confession," in The Complete Works of Count Tolstoy, vol. 13, translated and edited by Leo Weiner (Boston: Dana Estes & Co., Publishers; Colonial Press, 1904), 21 ff. 
The Observing Self
122. Who is There? in Arthur J. Deikman, M.D., The Observing Self: Mysticism and Psychotherapy (Boston: Beacon Press, 1982), 88. See also 91-118, passim. 
Great Expectations
149. Let go of Compare "Sḥji," final paragraphs, A Complete English Tmnslation of Ḍgen Zenji's Sḥḅgenẓ, translated by Ḳsen Nishiyama and John Stevens (Toyko, Japan: Kawata Press, 1975), 22. 

-Hết-

 

 

Xx
 
 

[bottom.htm]