|
PHÁP BẢO ÐÀN KINH
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Dịch và Lược Giải
--- o0o ---
Phẩm Tựa Thứ Nhất
Khi Sư đến chùa Bảo Lâm, có châu trưởng
Thiều Châu tên là Vi Cứ và các quan chức vào núi thỉnh Sư ra chùa Ðại
Phạn ở trong thành vì tứ chúng khai duyên thuyết pháp. Sư thăng toà, Vi
Thứ Sử (châu trưởng) và các quan chức hơn ba chục người, học sĩ nhà nho
hơn ba mươi người, Tăng Ni cư sĩ hơn ngàn người, đồng thời đảnh lễ xin
nghe Pháp Yếu.
Sư nói: Thiện tri
thức, tự tánh của Bồ Ðề vốn thanh tịnh, chỉ dụng tâm này trực liễu thành
Phật. Thiện tri thức, hãy nghe việc đắc Pháp và sự việc của Huệ
Năng. Huệ Năng quê quán ở Phạm Dương, cha bị giáng chức đến Lãnh Nam,
lưu lạc làm dân Tân Châu. Thân thế chẳng may cha lại mất sớm, mẹ là goá
phụ, nhà ở Nam Lộ, nghèo khổ phải đi bán củi ngoài chợ. Lúc ấy có vị
khách mua củi nhờ mang đến nhà, Huệ Năng được tiền đi ra, gặp một vị
khách đang tụng Kinh, Huệ Năng nghe được lời Kinh tâm liền khai ngộ, bèn
hỏi khách tụng Kinh gì? Khách nói là Kinh Kim Cang.
Hỏi: Ở đâu có Kinh Ðiển
này?
Khách nói: Tôi từ Chùa Ðông
Thiền, huyện Huỳnh Mai Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Ðại Sư
chủ hoá, môn đồ hơn ngàn người, tôi đến đó lễ bái lãnh thọ Kinh này. Ngũ
Tổ thường khuyên Tăng tục trì Kinh Kim Cang thì được kiến tánh, trực
liễu thành Phật.
Huệ Năng nghe nói, lại cũng vì xưa kia có
duyên, nên được một người khách cho mười lượng bạc để cho mẹ già được
sinh sống và bảo đi ngay đến Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ. Huệ Năng sắp xếp
cho mẹ xong, liền từ giã lên đường. Trải qua hơn ba mươi ngày đường, đến
huyện Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ.
Tổ hỏi: Ông là người phương
nào, muốn cầu việc gì? Huệ Năng nói: Ðệ tử là dân Tân Châu Lãnh Nam, từ
xa đến lễ bái, chỉ cầu làm Phật, chẳng cầu việc gì khác.
Tổ nói: Ông là người Lãnh
Nam, cũng là người kém văn hoá, làm sao có thể làm Phật được?
Huệ Năng nói: Người có Nam
Bắc, Phật tánh vốn chẳng có Nam Bắc, thân hèn hạ này với thân Hoà Thượng
chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai biệt!
Ý Ngũ Tổ còn muốn nói thêm, nhưng thấy đồ
chúng đứng xung quanh, nên bảo theo chúng làm việc.
Huệ Năng bạch Hoà Thượng:
Tự tâm của đệ tử thường sanh trí huệ chẳng lià tự tánh, tức là phước
điền, chưa rõ Hoà Thượng bảo làm việc gì?
Tổ nói: Tên kém văn hoá này
căn khí lanh lợi, ngươi đừng nói nữa, hãy ra nhà sau đi!
Huệ Năng lui đến nhà sau, có một cư sĩ
sai Huệ Năng bửa củi giã gạo, trải qua hơn tám tháng. Một ngày kia Tổ
thình lình đến gặp Huệ Năng nói:Ta nghĩ cái thấy của ngươi dùng được, vì
sợ có kẻ ác hại ngươi, nên chẳng nói chuyện với ngươi, ngươi có biết
chăng?
Huệ Năng nói: Ðệ tử cũng
biết ý của Thầy, nên chẳng dám đi đến nhà trước.
Một ngày kia, Ngũ Tổ triệu tập môn đồ bảo
rằng: Sanh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng
cầu lià khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu
được? Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí huệ, dùng bổn tâm Bát Nhã của
tự tánh, mỗi người làm một bài kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý,
thì ta sẽ trao truyền y bát cho làm Tổ thứ sáu; hãy mau lên chẳng được
chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng
được. Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy
thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được.
Ðại chúng nghe xong nói với nhau rằng:
Chúng ta chẳng cần nhọc tâm mệt trí làm kệ, đâu có ích gì, vì có Thượng
Tọa Thần Tú hiện làm giáo thọ sư, chắc chắn sẽ được, chúng ta làm kệ chỉ
phí sức thôi, chúng ta về sau y chỉ Sư Thần Tú cũng được rồi. Ngài Thần
Tú suy nghĩ: Ðại chúng chẳng trình kệ, vì ta là giáo thọ sư của họ, ta
phải làm kệ trình Hoà Thượng. Nếu chẳng trình kệ thì Hoà Thượng làm sao
biết được kiến giải sâu cạn trong tâm ta, ý của ta trình kệ vì cầu Pháp
thì tốt, vì mong làm Tổ thì không nên, chẳng khác nào dùng tâm phàm mà
đoạt Thánh vị. Nếu chẳng trình kệ thì làm sao đắc Pháp được, thực khó!
Thực khó!
Nơi hành lang trước Pháp đường, Ngũ Tổ
định mời họa sĩ đến vẽ Biến Tướng Kinh Lăng Già và Ngũ Tổ Huyết Mạch Ðồ,
để cúng dường và lưu truyền đời sau. Khi Thần Tú làm kệ xong, mấy lần
muốn vào trình, nhưng khi đến trước Pháp đường thì trong tâm bấn loạn,
mồ hôi ướt đẵm mình. Như vậy trải qua bốn ngày, mười ba lần muốn vào
trình vẫn chưa trình được, sau cùng Thần Tú suy nghĩ: Chi bằng ghi trên
vách tường hành lang để Hoà Thượng thấy được; nếu Tổ nói tốt thì ta ra
lễ bái nói của Thần Tú làm, nếu nói là chẳng được thì uổng công ta ở núi
mấy năm, lại tu Ðạo gì mà được nhận lễ bái của người! Nửa đêm đó không
cho ai hay, tự cầm đèn viết kệ trên vách hành lang phiá Nam, trình sở
thấy của tự tâm, kệ rằng:
Thân thị Bồ
Ðề thụ,
Tâm như
minh cảnh đài,
Thời thời
cần phất thức,
Vật sử nhạ
trần ai.
Dịch nghiã:
Thân là cây
Bồ Ðề,
Tâm như đài
gương sáng,
Luôn luôn
siêng lau chùi,
Chớ cho
dính bụi trần.
Thần Tú viết kệ xong, liền về phòng,
không ai hay. Tú lại suy nghĩ: Ngày mai, Ngũ Tổ thấy kệ hoan hỷ thì ta
có duyên với Pháp, nếu nói không được thì đó là tại ta còn mê, nghiệp
chướng xưa nặng nề, chẳng đặng đắc Pháp, Thánh ý thật khó lường! Tú ở
trong phòng suy nghĩ, ngồi nằm chẳng yên cho đến gần sáng.
Tổ đã biết Thần Tú chưa được vào cửa,
chẳng thấy tự tánh. Trời sáng, Tổ kêu hoạ sĩ đến hành lang để vẽ, thình
lình thấy kệ, bèn nói với họa sĩ: Thôi, chẳng cần vẽ nữa, làm lao nhọc
cho ông từ xa đến đây.
Kinh nói: Phàm tất cả tướng đều là hư
vọng. Nay chỉ cần để bài kệ này cho người trì tụng, y kệ này tu, khỏi
đọa ác đạo, y kệ này tu, được ích lợi lớn. Bèn kêu môn đồ đốt nhang kính
lễ, bảo cả thảy đều tụng kệ này sẽ được kiến tánh. Môn đồ tụng kệ đều
khen: lành thay!
Nửa đêm Tổ kêu Thần Tú vào phòng hỏi: Kệ
phải do ông làm chăng? Tú nói: Thiệt là Tú làm, chẳng ham vọng cầu Tổ
vị, mong Hoà Thượng từ bi, xem đệ tử có chút ít trí huệ chăng?
Tổ nói: Ông làm kệ này chưa
thấy bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, kiến giải như thế tìm
vô thượng bồ đề chẳng thể được. Vô thượng bồ đề
phải khi vừa nói liền nhận tự bổn tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh
chẳng diệt, với bất cứ giờ nào, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn
pháp, nhứt chơn nhứt thiết chơn, vạn cảnh tự như như, cái tâm như như
tức là chân thật. Nếu thấy như thế tức là vô thượng bồ đề của tự tánh.
Ông tạm đi ra suy nghĩ một vài ngày nữa, làm bài kệ khác cho ta xem, nếu
kệ ông vào được cửa, thì ta sẽ truyền trao y pháp.
Thần Tú đảnh lễ lui ra, trải qua mấy ngày
sau làm kệ chẳng được, trong tâm rối loạn tâm thần chẳng yên, cũng như
trong mộng, đi ngồi chẳng vui.
Qua hai ngày sau, có một đồng tử đi ngang
qua phòng giã gạo, xướng tụng bài kệ, Huệ Năng nghe được liền biết kệ
này chưa thấy bản tánh, dù chưa được sự dạy bảo của Tổ, nhưng đã biết
được đại ý, bèn hỏi đồng tử rằng: Tụng kệ gì? Ðồng tử nói: Kẻ kém văn
hoá này chẳng biết, Ðại Sư nói: Sanh tử là việc lớn, muốn truyền trao y
pháp, nên bảo môn đồ làm kệ trình xem, nếu ngộ đại ý thì sẽ được truyền
trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng Tọa Thần Tú viết kệ Vô Tướng trên
vách tường hành lang. Ðại Sư bảo mọi người đều tụng, y kệ này tu khỏi
đọa ác đạo, y kệ này tu sẽ được lợi ích lớn.
Huệ Năng nói: Thưa Thượng
nhơn, tôi giã gạo ở đây hơn tám tháng, chưa từng đi đến nhà trước, mong
Thượng nhơn dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái. Ðồng tử liền dẫn đến trước
bài kệ, lễ bái xong,
Huệ Năng nói: Huệ Năng
chẳng biết chữ, xin Thượng nhơn đọc giùm. Lúc ấy có quan biệt giá Giang
Châu là Trương Nhựt Dụng, liền lớn tiếng đọc,
Huệ Năng nghe xong bèn nói: Tôi cũng
có một bài kệ, xin Biệt Giá viết giùm. Biệt Giá nói: Ông cũng làm kệ à,
việc này hi hữu!" Huệ Năng nói với Biệt Giá rằng: Muốn học Vô Thượng Bồ
Ðề, chẳng nên khinh bỉ kẻ sơ học, hạ hạ nhơn hữu thượng thượng trí,
thượng thượng nhơn hữu một (chìm mất) ý trí. Biệt Giá nói: Ông hãy tụng
kệ đi, ta viết giùm cho. Ông nếu đắc pháp phải độ ta trước, về sau chớ
quên lời này.
Huệ Năng kệ rằng:
Bồ đề bổn
vô thụ,
Minh cảnh
diệc phi đài.
Bổn lai vô
nhất vật,
Hà xứ nhạ
trần ai?
Dịch nghiã:
Bồ đề vốn
chẳng cây,
Gương sáng
cũng chẳng đài,
Xưa nay
không một vật,
Nơi nào
dính bụi trần?
Kệ viết xong, đồ chúng đều ngạc nhiên tán
thán với nhau: Lạ thay, chẳng nên theo tướng mạo mà đánh giá người,
không ngờ nay có nhục thân Bồ Tát mà chẳng biết!
Tổ thấy đại chúng kinh quái, sợ người ám
hại, nên lấy giày bôi bài kệ, nói rằng: Cũng chưa thấy tánh. Mọi người
cho là phải. Hôm sau Tổ lén đến nhà giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá
giã gạo, nói rằng: Người cầu Ðạo cần phải như thế. Lại hỏi:
Gạo trắng chưa?
Huệ Năng đáp:
Trắng đã lâu,
còn thiếu giần sàng thôi. Tổ lấy gậy
gõ trên cối ba cái rồi bỏ đi. Huệ Năng hiểu ý Tổ, nên canh ba vào thất.
Tổ dùng Ca sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết Kinh Kim Cang,
đến câu: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ tất
cả vạn pháp chẳng lià tự tánh, bèn bạch Tổ rằng:
Ðâu ngờ tự tánh vốn tự
thanh tịnh,
Ðâu ngờ tự tánh vốn
chẳng sanh diệt,
Ðâu ngờ tự tánh vốn tự
đầy đủ,
Ðâu ngờ tự tánh vốn
chẳng lay động,
Ðâu ngờ tự tánh hay sanh
vạn pháp!
Tổ biết Huệ Năng đã ngộ bản tánh, nên nói với Huệ Năng rằng:
Chẳng nhận được bổn tâm, học pháp vô ích, nếu nhận được bổn tâm, thấy
được bổn tánh, tức gọi là Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật. Nửa đêm thọ
pháp chẳng ai biết, Tổ bèn truyền pháp đốn giáo và y bát nói rằng:
Ngươi là Tổ thứ sáu, khéo tự hộ niệm, độ
khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau, đừng để đoạn dứt.Nghe
ta nói kệ đây:
Hữu tình
lai hạ chủng,
Nhơn địa
quả hườn sanh,
Vô tình
diệc vô chủng,
Vô tánh
diệc vô sanh.
Dịch nghiã:
Hữu tình
được gieo giống,
Nhơn gieo
quả ắt sanh,
Vô tình thì
vô chủng,
Vô tánh
cũng vô sanh.
LƯỢC GIẢI:Sinh
vật có hai loại: hữu tình là động vật, vô tình là thực vật. Hữu tình mới
được gieo giống Phật, vô tình thì không; có giống là nhơn, ắt sẽ sanh
quả. Nhơn địa là hữu tình, quả địa là Phật. Vô tình chẳng phải nhơn địa
của Phật nên chẳng phải là giống (vô chủng). Tất cả pháp vốn chẳng có tự
tánh, nên nói vô tánh. Vậy thì hữu tình và vô tình, Phật và chúng sanh
đều chẳng có tự tánh, cũng là pháp vô sanh vậy. Nên nói: Vô tánh diệc vô
sanh. Vì đây là kệ truyền pháp, kệ truyền pháp chẳng được lọt vào tứ cú.
Hỏi: Ðã nói không lọt
vào tứ cú, tại sao nói vô tánh diệc vô sanh? Như vậy là lọt vào cú thứ
nhì rồi?
Ðáp: Nói tất cả pháp vốn
chẳng tự tánh thì làm sao có vô tánh và vô sanh để làm tự tánh! Hành giả
đọc đến chỗ này, chớ nên dùng ý thức để lãnh hội, cho là đúng hay không
đúng: Ðã nói pháp vô sanh thì làm sao sanh ra pháp đúng và pháp không
đúng? Ðây là cửa ải của Thiền môn, cần phải thấu qua (tự ngộ) mới
được.Kệ này lược giải là để phá chấp, còn muốn hiểu ý Tổ, cần phải tự
tham ngộ mới được.
Tổ lại nói: Khi xưa Ðạt
Ma Ðại Sư mới tới xứ này, vì người ta chưa đủ lòng tin, nên mới truyền y
bát để làm tín thể (vật làm tin) đời đời truyền nhau thành pháp tắc, lấy
tâm truyền tâm đều bảo tự ngộ tự giải, từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản
thể, Tổ Tổ mật phó bản tâm. Y bát là mối tranh giành, tới đời ngươi phải
ngưng truyền. Nếu truyền y bát là việc rất nguy hiểm, ngươi phải đi cho
mau, kẻo có người ám hại.
Huệ Năng bạch rằng: Ði xứ
nào?
Tổ nói: Gặp Hoài thì
ngừng, gặp Hội thì ẩn.
Canh ba lãnh y bát xong, Huệ Năng được
Ngũ Tổ đưa đến bến đò Cửu Giang. Xuống thuyền, Huệ Năng giành chèo.
Tổ nói: Ðúng ra ta phải
độ.
Huệ Năng nói: Khi mê thì
Thầy độ, ngộ rồi tự độ." (Ðộ có hai nghiã:
1-Cứu độ. 2-Ðưa đò.) Nói độ là một,
nhưng chỗ dùng chẳng đồng. Huệ Năng sanh nơi biên địa nên giọng nói khó
nghe. Ðược Thầy truyền pháp, nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ vậy.
Tổ nói: Như thế! Như thế!
Về sau Phật Pháp do ngươi được thịnh hành, ngươi cứ hướng về phiá Nam mà
đi, chẳng nên thuyết pháp sớm, vì Phật Pháp phải tùy duyên.
Huệ Năng từ biệt Tổ, hướng về Nam trải
qua hai tháng tới núi Ðại Du Lãnh. Ngũ Tổ trở về, mấy ngày chẳng thượng
đường, đại chúng nghi ngờ hỏi: Hoà Thượng có bệnh gì chăng? Tổ nói: Bệnh
thì không có, nhưng y pháp đã về Nam rồi. Hỏi: Ai được truyền thụ? Ðáp:
Kẻ nào Năng thì được.
Khi ấy đại chúng mới biết, nên có mấy
trăm người đuổi theo để đoạt y bát, trong đó có một Tăng tên tục là Trần
Huệ Minh ngày trước làm Tứ Phẩm tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu
đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng bỏ y
bát trên tảng đá nói rằng: Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà
đoạt được sao? Liền ẩn mình trong đám cỏ. Huệ Minh đến, muốn lấy y bát
mà chẳng nhúc nhích được, liền kêu: Hành
giả! Hành giả! Tôi vì Pháp đến, chẳng vì Y đến. Huệ Năng liền ra
ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi
thuyết Pháp. Huệ Năng nói:Ông
đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm,
ta sẽ vì ông mà thuyết.
Một hồi sau Huệ Năng nói:
Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái
nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại
ngộ, lại hỏi rằng: Ngoài lời mật ý kể trên, còn có ý nào bí mật chăng?
Huệ Năng nói: Ðã nói với ông thì chẳng phải mật rồi, nếu ông phản
chiếu thì mật tại bên ông. Minh nói: Huệ Minh dù ở Huỳnh Mai, thật chưa tỉnh ngộ diện mục
của tự kỷ, nay được khai thị, như người uống nước, lạnh nóng tự biết.
Nay hành giả tức là Thầy của Huệ Minh vậy.
Huệ Năng nói: Nếu ông như thế, thì ta với ông cùng thờ một Thầy
Huỳnh Mai, hãy khéo tự hộ trì.
Huệ Minh lại hỏi: Huệ Minh
về sau đi xứ nào? Ðáp: Gặp Viên thì
ngừng, gặp Mông thì ở.
Minh đảnh lễ giã từ. (Minh trở xuống chân
núi, nói với đại chúng rằng: Chẳng thấy dấu vết nào hết, phải đi hướng
khác mà tìm. Chúng đều tin. Về sau Huệ Minh đổi tên thành Ðạo Minh để
tránh sự trùng tên với Thầy).
Huệ Năng đến Tào Khê, bị bọn ác tìm theo,
nên phải lánh nạn trong đám thợ săn nơi Tứ Hội, trải qua mười lăm năm,
thường vì thợ săn tùy nghi thuyết pháp. Bọn họ bảo giữ lưới, mỗi khi
thấy cầm thú lọt vào đều thả ra hết. Tới bữa ăn, gởi rau trong nồi thịt,
có người hỏi thì trả lời: Chỉ ăn rau luộc bên cạnh thịt mà thôi.
Một ngày kia nghĩ rằng: Ðã đến lúc phải
hoằng Pháp, không nên ẩn hoài", liền ra chùa Pháp Tánh Quảng Châu, gặp
Ấn Tông Pháp Sư giảng Kinh Niết Bàn. Có hai vị Tăng tranh luận về nghiã
gió và lá phướn; kẻ nói gió động, người nói phướn động, tranh cãi không
ngừng, Huệ Năng chen vào nói: Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn
động, mà là tâm các ông động." Cả chúng đều ngạc nhiên. Ấn Tông mời Năng
ra ngồi trên Cao Toà, hỏi những nghiã lý thâm sâu, thấy Huệ Năng lời gọn
mà đúng lý, chẳng do văn tự.
Ấn Tông nói: Hành giả ắt
chẳng phải người thường, lâu nay đã nghe Y Pháp Huỳnh Mai về Nam, có
phải là hành giả chăng?
Huệ Năng nói: Không dám."
Ấn Tông liền đảnh lễ, xin thỉnh Y Bát ra
cho đại chúng xem.
Ấn Tông hỏi rằng: Sự phó
chúc của Huỳnh Mai truyền thọ như thế nào?
Huệ Năng nói: Truyền thọ thì không, chỉ cần kiến tánh, chẳng cần
thiền định giải thoát.
Ấn Tông hỏi: Tại sao
chẳng cần thiền định giải thoát?
Ðáp: Vì đó là
nhị pháp, chẳng phải Phật Pháp. Phật Pháp là pháp bất nhị.
Ấn Tông lại hỏi: Thế nào
là Pháp Bất Nhị của Phật Pháp?
Ðáp: Pháp Sư giảng Kinh
Niết Bàn, đã rõ Phật tánh là Pháp Bất Nhị của Phật Pháp! Như trong Kinh
Niết Bàn nói: Cao Quý Ðức Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: Phạm tứ trọng cấm
(bốn giới trọng nhất trong giới Tỳ kheo,
giống như người thế gian phạm tội tử hình), làm tội ngũ nghịch và
nhất xiển đề, phải bị đoạn dứt thiện căn Phật tánh không?
Phật nói: Thiện
căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh phi thường phi vô
thường, nên chẳng đoạn dứt, gọi là bất nhị. Một là thiện, hai là bất
thiện, Phật tánh phi thiện, phi bất thiện, gọi là bất nhị. Uẩn và Giới,
phàm phu thấy cho là nhị, người trí liễu đạt thì biết tánh ấy bất nhị,
tánh bất nhị tức là Phật tánh vậy. Ấn Tông nghe xong hoan hỷ chắp
tay rằng: Tôi giảng Kinh như gạch nát ngói bể, ông giảng nghiã cũng như
vàng ròng. Do đó, vì Huệ Năng xuống tóc, nguyện thờ làm Thầy.
Huệ Năng bèn ở nơi gốc cây Bồ Ðề khai
giảng Pháp môn Ðông Sơn (Ngũ Tổ):
Huệ Năng đắc pháp nơi Ðông Sơn, chịu nhiều
cay đắng, gặp nhiều nguy hiểm, tánh mạng tựa như chỉ mành, hôm nay được
cùng các quan, các Tăng Ni đạo tục đồng tụ tại hội này, là do quá khứ
nhiều kiếp cúng dường chư Phật, cùng gieo thiện căn mới được nghe cái
nhơn đắc pháp và Pháp Ðốn Giáo kể trên. Giáo Pháp là do bậc Thánh xưa
truyền lại, chẳng phải tự trí của Huệ Năng. Người muốn nghe Giáo Pháp
của bậc Thánh xưa, phải làm cho tâm thanh tịnh (trong
sạch), nghe rồi phải tự đoạn trừ
nguồn gốc nghi ngờ giống như các bậc Thánh xưa chẳng có khác biệt.
Ðại chúng nghe pháp xong hoan hỷ đảnh lễ
lui ra. |