SANH  TỬ

 

Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận
Bát nhă tâm kinh
Tâm kinh

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ 20


 

       

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ 20

DL 1998 - PL 2542


 

LỜI ĐẦU SÁCH

Đây là quyển sách đầu tiên chúng tôi viết về Thiền. Nó đă thai nghén nhiều năm, nay mới ra mắt độc giả. Chúng tôi cho nó ra đời nhằm vào những điểm sau đây:

Để bổ cứu phần nào lối học Phật mất gốc của Phật giáo đồ Việt Nam.

Để giúp cho những người có thiện chí tu thiền biết được lối tu và phân biệt tà chánh.

Để trả lời các học giả nghiên cứu đạo Phật, thấy Thiền tông kỳ quái không liên hệ đến kinh điển.

Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc Cao tăng làm sáng cho Phật giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ 6 măi đến nay đều là các Thiền sư. Cho đến hiện nay (1991) chư Ḥa thượng tịch, bài vị đều để câu “Từ Lâm Tế chánh tông đệ tam đệ tứ thập… thế…”. Thế th́ có Ḥa thượng nào không thừa nhận ḿnh là con cháu nhà Thiền.

Hầu hết chùa Phật hiện có ở Việt Nam, chùa nào trên chánh điện cũng thờ Phật Thích-ca, phía sau thờ Tổ Bồ-đề-đạt-ma hoặc Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Những lá phái của các chùa phát cho tín đồ trước kia đều để Lâm Tế chánh tông, Lâm Tế gia phổ hay tông Tào Động. Thử hỏi đức Phật Thích-ca thuở xưa tu pháp ǵ được thành Phật? Chư Tổ tu pháp ǵ được thành Tổ? Tông Lâm Tế xuất xứ từ tông phái nào? Đức Thích-ca đâu không do tọa thiền dưới cội bồ-đề giác ngộ thành Phật. Chư Tổ đâu không do tu thiền mà thành Tổ. Tông Lâm Tế là một hệ phái của năm hệ phái Thiền tông ở Trung Quốc. Thế mà hiện nay nghe ai nói tu thiền, đa số Tăng Ni cực lực phản đối. Quả là chúng ta đă bỏ gốc theo ngọn, quên Phật, Tổ ḿnh đang thờ đang kính lễ, quên cả hệ phái của Tông Tổ nhà ḿnh. Đích thực ḿnh đă phản bội với Tổ Tông của ḿnh. Riêng trên đất Việt Nam, Phật giáo từ đời Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê và Nguyễn là Phật giáo của hệ phái nào? Gần nhất, phái Nguyên Thiều, Liễu Quán ở Trung, chúng ta đang chịu ảnh hưởng là tông phái nào? C̣n ai không biết Phật giáo qua các đời, cho đến hai vị Tổ Nguyên Thiều và Liễu Quán đều là hệ phái Thiền tông. Tại sao chúng ta hiện nay lại sợ hăi chống đối Thiền tông? Nếu v́ không hiểu, chúng ta cần phải t́m hiểu cho thấu đáo. V́ không hiểu mà trở lại chống đối th́ thật là vô lư. Chúng ta là Tăng sĩ Việt Nam mà không hiểu Thiền tông thật là một điều đáng hổ thẹn, huống nữa là có quan niệm chống đối. Chúng ta có quyền nghi ngờ về sự truyền bá Thiền, song không có quyền chống đối. Bởi nghi nên chúng ta phải theo dơi t́m hiểu cho tường tận, nếu lối dạy Thiền ấy là đúng đường hướng Phật Tổ, chúng ta tùy hỉ tán dương; bằng trái lại là Thiền tà ngoại, cần phải chỉ trích cho Tăng Ni, Phật tử biết để tránh. Đó là thái độ của người tu chân chánh biết tồi tà phụ chánh. Không cần biết đúng hay sai, chỉ nghe nói tu Thiền là một bề phản đối, thử hỏi đây là thái độ thế nào? Và đang làm ǵ cho Phật giáo? Chính v́ để bổ cứu cho sự học Phật thiếu cơ bản, chúng tôi cho quyển sách này ra đời.

Có lắm người Phật tử hâm mộ tu Thiền, song sự có mặt của nhiều lối tu Thiền ở Việt Nam làm họ không biết đâu tà đâu chánh. Nếu người dè dặt đành chịu chùn chân không biết theo ai. Nếu người nhiệt t́nh nóng bỏng nghe đâu theo đó, họ dễ bị lạc vào thiền tà ngoại. Đây là một khuyết điểm lớn lao do không có người giản trạch chánh tà cho họ biết. Người chịu trách nhiệm này chính là Tăng Ni. Tăng Ni là người có bổn phận dẫn đường chỉ lối cho tín đồ tu học. Nếu chỗ sở mộ của Phật tử khác với đường lối hiện tu của ḿnh, bổn phận ḿnh phải chỉ cho họ nơi nào phù hợp với sở mộ mà đúng chánh pháp. Có thế Phật giáo mới trùm hết căn cơ, lợi ích khắp quần sanh. Chúng ta đừng chủ quan, tu theo tôi th́ tôi dạy, không ưng theo tùy ư đi đâu th́ đi. Phật giáo là tùy bệnh cho thuốc, thứ thuốc của chúng ta không hợp với người bệnh, chúng ta cần giới thiệu nơi nào có thuốc hợp với họ, đừng bắt họ một bề phải uống thuốc của ḿnh. Làm thế, vô t́nh khiến người ham tu phải thối Bồ-đề tâm. Chính đây là một trong những mục tiêu chúng tôi nhắm để viết quyển sách này.

Một ít học giả cho Thiền tông là quái thai của Phật giáo. Đó là kẻ đứng ở cổng ngoài Thiền tông, nếu là người vào trong nhà Thiền sẽ nói khác, Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo. Bởi v́ muốn chỉ chân lư hiện hữu nơi con người, song ngại người ta khinh thường và dễ quên, nên kinh Đại thừa nói bằng cách diễn giảng trên trời dưới đất đâu đâu, c̣n Thiền sư dùng thuật xuất quỉ nhập thần khiến người ta mờ mịt không hiểu. Nếu ai tháo gỡ được cây chốt bí mật đó rồi, tự nhiên thấy nó chân thật b́nh dị vô cùng. Chừng đó mới thấy Kinh và Thiền không có hai lối. Tuy nhiên Thiền tông luôn luôn tuyên bố giáo ngoại biệt truyền, cốt dẫn hành giả thấy đến nơi sống chân thật, không mắc kẹt trên văn tự ngữ ngôn, không chết ch́m trong suy tư lư luận. Nếu Thiền tông khác với kinh Phật tức không phải đạo Phật rồi. Chính v́ lẽ đó, chúng tôi mới đối chiếu Thiền và Kinh để độc giả khỏi nghi ngại.

Vạch trần bộ mặt thật của Thiền tông cho độc giả thấy, chúng tôi đă phá vỡ cánh cửa bí mật của nhà Thiền. Việc làm này là có tội với những bậc căn cơ bén nhậy, nhưng có công với những kẻ căn cơ tầm thường như chúng tôi. Thời đại của chúng ta là thời đại khoa học, nặng về lư trí và chân thật, nếu dùng những ngôn từ huyền ảo, những hành động quái dị th́ không bao giờ dân chúng chấp nhận. Buộc ḷng chúng tôi phải nói thật, chỉ thẳng, khả dĩ nhiều người thấy rơ được tinh thần Thiền tông. Có thế Thiền tông mới sống lại trên đất nước Việt Nam. Với tinh thần khôi phục Thiền tông chúng tôi phải làm như thế, không c̣n cách nào khác hơn được.

Tập sách này chúng tôi gom những bài viết và giảng về Thiền chung hợp lại. Đầu tiên bài viết về Cội Nguồn Thiền Tông để độc giả biết rơ nguồn gốc Thiền tông. Kế bài viết về Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20 là nói lên chỗ y cứ và chủ trương tu Thiền trong các Thiền viện. Tiếp bài viết về Yếu Chỉ Thiền Tông để thấy rơ chi tiết về lối tu Thiền tông qua sự hướng dẫn của chúng tôi. Sau cùng ba bài giảng về thiền, từ Vào Cửa Thiền đến Thấy Ông Chủ để độc giả cảm nhận con đường tiến từ bậc đầu đến viên măn. Đă là tổng hợp các bài chung lại, về h́nh thức chắc hẳn thiếu sự mạch lạc, nhưng về tinh thần vẫn nhất quán. Mong độc giả khéo nh́n tường tận tinh thần của quyển sách sẽ có lợi ích trong việc tu hành.

Viết tại Thiền viện Thường Chiếu

ngày cuối Đông năm 1991

THÍCH THANH TỪ


 

CỘI NGUỒN THIỀN TÔNG

Phăng t́m nguồn gốc Thiền tông chúng ta thấy rơ nó xuất phát từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni một cách cụ thể, không c̣n ǵ phải ngờ vực. Lư do xuất gia của Ngài do mang nặng một nghi vấn về “thân phận con người”. Đến khi giác ngộ là giải đáp toàn vẹn nghi vấn ấy bởi Trí tuệ vô sư của ḿnh. Do đó, Ngài dơng dạc tuyên bố: “Ta học đạo không thầy.” Sự giác ngộ của đức Phật là do Ngài khéo khơi dậy được Trí tuệ vô sư bằng cách thao thức trăn trở bởi một nghi vấn, khiến chết dần những tâm niệm lăng xăng tản mạn, cộng thêm chuyên tâm lắng sâu vào thiền định, khiến vọng tưởng bặt dứt. Thấu suốt được toàn bộ kiếp người từ thuở trước kia đến hiện tại và mai sau, cho đến biết tận tường lư do ǵ khiến con người có mặt, lư do ǵ dứt sạch sự tái sanh, đây là chỗ giác ngộ và giải thoát hoàn toàn của đức Phật.

Bởi thế, hầu hết người Phật tử đều tự hào đạo Phật là đạo giác ngộ, đạo giải thoát. Song giác ngộ thế nào, giải thoát cái ǵ, th́ ít ai thấu hiểu. Nếu không hiểu được cái cốt lơi đó, đâu xứng đáng là người Phật tử. Muốn thấu đáo tận nguồn gốc này, chúng ta phải ngược ḍng lịch sử, phăng t́m lư do nào Thái tử Tất-đạt-đa đi tu.

LƯ DO THÁI TỬ XUẤT GIA

Đọc lịch sử Phật, ai cũng nhớ rơ Thái tử dạo bốn cửa thành, thấy cảnh già, bệnh, chết, phát tâm đi tu. Thấy phớt qua như vậy thật hời hợt quá. Chúng ta phải đặt đây là vấn đề chủ yếu, tối trọng đại trong cuộc đời tu hành của Ngài. Chính Thái tử, sau khi chứng kiến cảnh già, bệnh, chết, Ngài đặt thẳng vấn đề: “Tại sao con người từ xưa đến nay chấp nhận già bệnh chết là qui luật bất khả kháng? Có phương cách ǵ giải thoát cái già bệnh chết này?” Đây là vấn đề trọng đại mà từ trước đến giờ cả nhân loại chưa ai dám đặt ra. Vấn đề này đă chi phối hết đầu óc tâm tư của Thái tử. Khi chưa giải quyết được vấn đề này, mọi dục lạc ở trần gian Ngài đều ê chề chán ngán, cung vàng điện ngọc là khám đường nhốt Ngài. Ngài băn khoăn trằn trọc, quên ăn mất ngủ, bởi câu hỏi: “Có phương cách ǵ giải thoát cái già bệnh chết?” Câu hỏi ấy cứ chờn vờn trong tâm năo Ngài, cứ hiện rơ từng chữ trước mắt Ngài. Bao nhiêu người chung quanh lo sợ khổ sầu, mà không rung động được tâm Ngài. Mấu chốt cuối cùng để giải quyết vấn đề này, Ngài phải gạt qua mọi cạm bẫy t́nh cảm dục lạc, thoát ra ngục tù sang trọng cao cả, vượt thành xuất gia. Mục đích Ngài xuất gia v́ câu hỏi “có phương cách ǵ giải thoát già bệnh chết” nung nấu tâm can Ngài. Dù biết rằng, trên con đường t́m giải quyết vấn đề này, hiểm nguy tột cùng, khó khăn đáo để, song Ngài phải đi, phải giải quyết; không làm được việc này, đời Ngài sẽ là cây khô, là ngọn cỏ héo. Ngai vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ, vợ đẹp con yêu chỉ là tṛ vô nghĩa, khi không giải quyết được vấn đề già bệnh chết.

HỌC ĐẠO VÀ GIÁC NGỘ

Bởi vấn đề “có phương cách ǵ giải thoát già bệnh chết” ngự trị trong tâm khảm Ngài, nên Ngài quên hết mọi hiểm nguy, dù gặp hoàn cảnh nào, trường hợp nào, Ngài cũng không mềm ḷng nản chí. Ngài t́m đến những vị tu sĩ nổi tiếng trong thời ấy, như ông Alara Kalama và Uddaka Ramaputta chỉ dạy Ngài tu chứng đến Phi phi tưởng xứ. Không thỏa măn mục đích đă nhắm, dù họ mời mọc mấy, Ngài cũng từ biệt họ ra đi. Ngài tự ứng dụng lối tu khổ hạnh, mong nhờ sự khổ hạnh mà đạt được mục tiêu ḿnh nhắm. Nhưng trải qua sáu năm thật là vô ích, không lóe được tia sáng nào trong mục đích Ngài đuổi t́m. Ngài từ giă tu khổ hạnh, sống lại nếp thường của người tu, đến cội bồ-đề ngồi thiền bốn mươi chín ngày đêm. Đến đêm thứ bốn mươi chín, Ngài tháo tung được cuộn ḅng bong rối nùi từ mười một năm qua. Thấy rơ được mấu chốt sanh tử, thấu triệt được phương pháp giải thoát già bệnh chết, Ngài đă đập tan hoang qui luật già bệnh chết áp đặt trên con người từ vô số kiếp đến giờ. Thật là một nỗi mừng tột cùng vô hạn, Ngài tuyên bố giác ngộ viên măn, gọi là Phật. Thế là Ngài đă giải đáp được hai nghi vấn: “Tại sao con người phải chấp nhận qui luật già bệnh chết tiếp tục măi?” và “Có phương cách ǵ giải thoát già bệnh chết?” Từ đây, Ngài sẽ đem phương pháp giải thoát sanh già bệnh chết chỉ dạy cho mọi người. Bởi vậy, nói đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát.

NGÀI TR̀NH BÀY CHỖ GIÁC NGỘ CỦA M̀NH

Trước nhất Ngài đến vườn Lộc Uyển tŕnh bày chỗ thấy của ḿnh cho năm anh em ông Kiều-trần-như. Cái sanh già bệnh chết gọi là khổ. Khổ không phải ngẫu nhiên sanh ra mà có nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu của nó là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; c̣n bao nhiêu nguyên nhân phụ thuộc nữa, gọi là Tập. Diệt hết nguyên nhân đau khổ gọi là Diệt, là tên khác của Niết-bàn. Muốn tiêu diệt nguyên nhân đau khổ phải có phương pháp Bát chánh đạo v.v… gọi là Đạo. Khổ là quả, Tập là nhân; hai cái này làm nhân quả nối tiếp ḍng sanh tử không chấm dứt. Diệt là quả, Đạo là nhân; hai cái này làm nhân quả để cắt đứt ḍng sanh tử. Bao nhiêu năm Ngài thao thức vấn đề già bệnh chết, tại sao con người phải chấp nhận và tiếp tục măi? Nay Ngài thấy rơ mầm gốc sanh ra nó từ tham, sân, si… Đốn ngă gốc tham, sân, si… th́ cây sanh già bệnh chết không c̣n nữa. Song phải có cây búa bén, ấy là pháp Bát chánh đạo… Chỗ thấy này đúng như thật, là điều giác ngộ của bậc Thánh nên gọi là Tứ đế hay Tứ thánh đế.

Trường hợp khác, Ngài tŕnh bày Mười hai nhân duyên là cái ṿng xúc xích xoay tṛn trong ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) lôi con người sanh tử măi không cùng. Từ vô minh có hành, hành có thức, thức có danh sắc, danh sắc có lục nhập, lục nhập có xúc, xúc có thọ, thọ có ái, ái có thủ, thủ có hữu và hữu có sanh già bệnh chết. Đây là nhân quả, quả nhân của sanh già bệnh chết chập chùng măi măi. Nếu cắt đứt được mắt đầu là vô minh th́ mọi mắt sau theo đó đổ vỡ. Hoặc cắt hai mắt giữa là ái và thủ th́ hai mắt sau đứt luôn, tức là sanh già bệnh chết hết. V́ vậy Mười hai nhân duyên có chia hai thứ “lưu chuyển” là trôi măi trong sanh tử và “hoàn diệt” là dứt ḍng sanh tử. Người khéo tu thiền quán, giác ngộ được lư thật của kiếp người th́ vô minh dứt. Đây là cắt từ mắt ban đầu. Nếu người biết diệt dục khử ái, ái hết th́ thủ không c̣n, là cắt hai mắt chót sau của hiện tại, nhân nối tiếp sanh tử của đời sau sẽ dứt. Thế là phá vỡ ṿng xúc xích của Mười hai nhân duyên.

Qua hai trường hợp trên, Ngài đă tŕnh bày rành rọt đầu đuôi gốc ngọn vấn đề then chốt mà Ngài đă ôm ấp bao nhiêu năm. Ngài khẳng định cái thấy như vậy là đúng như thật, ứng dụng tu hành như vậy là kết quả không sai chạy. Thế là giải đáp xong nỗi băn khoăn thắc mắc của Ngài, và mang nó ra chỉ dạy những người có quyết tâm giải quyết vấn đề sanh tử. Đến đây Ngài đă phát minh một vấn đề tối trọng đại mà muôn kiếp đến nay cả nhân loại không ai dám nghĩ tới. Phát minh vĩ đại không tiền khoáng hậu này chỉ có con người can đảm tột cùng, ư chí sắt đá mới dám nghĩ đến và đặt ra. Chính chỗ hoài nghi thắc mắc tột độ của Ngài là manh mối giác ngộ sau này. Quả thật chiếc ch́a khóa đă bày hiện rành rành, chúng ta sau này chỉ cần nắm lấy là mở được cánh cửa giác ngộ.

ĐỐI TRƯỚC MỘT CẢNH THẤY ĐƯỢC CÁC PHÁP TU

Cùng một cảnh mà nh́n thấy khác nhau tùy theo pháp tu. Chủ yếu phá vô minh dẹp ái thủ, đức Phật dạy mỗi tŕnh độ có lối quán sát khác nhau. Như một hôm Thiền sư Vân Môn thượng đường, đưa cây gậy lên bảo chúng: “Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát th́ đương thể tức không, Thiền gia th́ thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.” Phàm phu thấy cây gậy cho là thật nên khởi tâm phân biệt đẹp xấu, đẹp th́ ái (yêu), xấu th́ tắng (ghét). Nếu ái th́ muốn được về ḿnh, là thủ; có ái có thủ là nhân sanh ra hữu và sanh lăo tử của đời vị lai. Hẳn đây là gốc mầm của sanh già bệnh chết. Để dứt cái ái thủ này, đức Phật dạy hàng Nhị thừa phải dùng trí quán sát thấy cây gậy là vô thường, ngày nay nó như thế, mai kia nó sẽ cũ, sẽ mục, rồi trở thành không. Biết rơ như vậy th́ ḷng tham ái cây gậy sẽ dứt. Đây là dùng trí quán sự vật trôi theo ḍng thời gian biến hoại để dứt ái thủ.

Cũng mục đích phá dẹp ái thủ, đức Phật dạy hàng Duyên giác quán sát cây gậy do nhân duyên sanh. Do đất nước gió lửa chung hợp sanh ra cây gậy, cây gậy đợi duyên hợp mới có, th́ cái có này không thật, như huyễn, như hóa. Hàng Duyên giác thấy cây gậy như huyễn hóa th́ đâu c̣n tâm tham ái. Thế là ái thủ dứt, ḍng sanh tử cũng dừng ngang đây.

Bồ-tát đă thấy tột lư nhân duyên không cần quán sát nữa, thấy cây gậy biết rơ không Thật tánh, nên nói đương thể tức không. Bởi thấy không Thật tánh nên Bồ-tát đâu c̣n tâm luyến ái cây gậy, do đó ḍng sanh tử dứt.

Đến Thiền gia thấy cây gậy là cây gậy. Tại sao? Bởi v́ người thấu đạt lư thiền, tâm không c̣n chạy theo cảnh, đối cảnh tâm như như nên nói cây gậy là cây gậy.

Hơn nữa, thấy cây gậy chạy xuôi theo ḍng thời gian quán sát từ có biến hoại đến không là khái niệm khuôn theo lối Phật vạch sẵn. Nh́n theo khái niệm định sẵn của ḿnh, chối bỏ sự hiện hữu của cây gậy. Chính khái niệm lệ thuộc theo thời gian khiến hàng Nhị thừa dễ bi quan. Tuy đó cũng là trí thấy xa, song nó vượt hẳn thực tế. Đến Duyên giác thấy cây gậy do duyên sanh, tuy có mà không thật, như huyễn hóa. Đây cũng là lối nh́n theo khuôn cũ lối ṃn Phật định sẵn. Khái niệm này nh́n theo sự tập hợp của nhân duyên trong không gian. Đă tập hợp th́ không có chủ, không chủ th́ làm sao có thật. Thế cũng phủ nhận sự hiện hữu của cây gậy. Khái niệm nhân duyên là do huân tập lời Phật dạy, cũng là tướng sanh diệt. Bồ-tát không cần quán sát, v́ tâm đă thuần thục, thấy cây gậy liền biết tức không. Song đây cũng là khuôn đúc đă thành h́nh, ráp từ những lời Phật dạy. Thiền gia không thế, nh́n cây gậy là cây gậy, không bị khái niệm nào chen vào, không bị khuôn cũ lối ṃn nào định sẵn. Nh́n thẳng sự hiện hữu của cây gậy, bằng tâm như như của ḿnh. Cảnh và tâm, tâm và cảnh, không có ǵ gián cách. Tâm không khởi niệm, làm ǵ có thấy thật, thấy giả; đă không thật giả c̣n ǵ tham ái hay chán ghét. Nếu không ái th́ đâu có thủ, đây là giải thoát sanh già bệnh chết chớ ǵ. Chủ yếu của Thiền gia là trực diện đối cảnh, cốt tâm không khởi niệm. Cho nên câu chót bài kệ Cư Trần Lạc Đạo của Trúc Lâm nói “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền), quả là định nghĩa thiền một cách cụ thể. Cái cao siêu tuyệt vời của Thiền là trút sạch khái niệm, dù khái niệm đúng như lời Phật dạy, lột hết mọi kiến giải đă huân tập, nh́n sự vật như sự vật, không v́ một lư do ǵ mà thêm bớt vào. Đây là một con người tự do tự tại, không bị kiến thức nào trói buộc. Bởi vậy nên nói: “Sanh không thích thiên đường, tử không sợ địa ngục. Buông tay đi ngang ngoài tam giới, mặc t́nh vươn bổng nào buộc ràng.” (Thiền sư  Đạo Giai)

Một ví dụ nữa, đóa hoa hồng ở trước mặt, phàm phu nh́n thấy liền khởi niệm so sánh đẹp xấu, so sánh là lôi cái hoa hồng ở hiện tại đối chiếu với bóng dáng những hoa hồng ở quá khứ c̣n ghi trong kư ức, xem cái nào đẹp hơn. Nếu hoa hồng hiện tại thua bóng dáng quá khứ liền cho nó là xấu, hơn bóng dáng quá khứ liền cho nó là đẹp. Làm việc so sánh này luôn luôn phải chạy lùi về quá khứ, lục lạo moi móc trong kư ức những bóng h́nh để đem ra đối chiếu. Nếu kết luận là đẹp th́ tâm yêu thích dấy lên đuổi theo, nếu là xấu th́ tâm chán ghét xua đi. Yêu thích là Ái, do yêu thích muốn ḿnh được là Thủ, đây là nhân sanh già bệnh chết ở đời sau. Thấy hoa hồng là Xúc, nhận đẹp xấu là Thọ, yêu thích muốn được là Ái, Thủ.

Để dẹp tan cái ái, thủ, Phật dạy hàng Nhị thừa khi thấy hoa hồng (xúc) liền quan sát theo thời gian, ngày nay nó nở tṛn, ngày mai nó héo dần, ngày mốt nó rơi rụng lả tả, ngày kia trụi cành. Thế là từ có, theo thời gian biến hoại thành không, có ǵ đâu là thật mà nói đẹp xấu (thọ). Không đẹp xấu th́ làm ǵ có yêu và ghét (ái). Đă không yêu ghét (ái) th́ chấp giữ làm ǵ (thủ). Đây nhờ quán vô thường dứt được ái thủ, cũng là dứt được manh mối sanh tử đời sau.

Hàng Duyên giác thấy hoa hồng (xúc) cũng theo Phật dạy đứng về không gian phân tích. Hoa hồng đang nở tṛn không có thật, từng cánh hoa ráp lại, nhiều chấm nhụy điểm thành, không có chủ thể hoa hồng, do nhiều nhân duyên ḥa hợp. Đă do duyên ḥa hợp mà có, nên không thật như huyễn như hóa. Bởi thấy hoa hồng không có thật, nên không phân biệt đẹp xấu (thọ), không đẹp xấu làm ǵ có yêu ghét (ái), không yêu th́ chấp giữ làm ǵ (thủ). Nhờ quán nhân duyên ḥa hợp mà có, nên dứt tâm yêu mến (ái), không yêu mến nên không chấp giữ (thủ), nhân sanh tử đời sau ngang đây cắt đứt.

Bồ-tát quán pháp nhân duyên đă thành thục, một phen nh́n thấy hoa hồng (xúc) liền biết không Tự tánh, đương xứ tức không; đă không Tự tánh th́ cái ǵ làm chủ mà có đẹp xấu (thọ), không đẹp xấu nên không yêu thích (ái), không yêu thích th́ không chấp giữ (thủ), cũng dứt ngay được ḍng sanh tử.

Qua bốn cái nh́n trên (Phàm phu, Nhị thừa, Duyên giác, Bồ-tát) đều không thấy được bản chất thực tại của hoa hồng. Hoặc thấy theo ảo tưởng quá khứ mà phân định là phàm phu, hoặc thấy phóng theo thời gian vị lai mà phân định là Nhị thừa, hoặc thấy bằng cách phân tích chia chẻ từng mảnh vụn trong không gian mà phân định là Duyên giác, hoặc nh́n theo thói quen đặt sẵn mà phân định là Bồ-tát. Tất cả cái nh́n sự vật theo lối này, tuy mê giác có khác, song không thoát khỏi khuôn cũ lối ṃn đă định sẵn, làm mất đi bản chất thật hữu của sự vật.

Đến cái nh́n của Thiền gia, không phải thế, thấy hoa hồng là hoa hồng, không khởi tâm so sánh, quán sát chi cả. Hiện thân hoa hồng thế nào, thấy đúng thế ấy. Không khởi niệm so sánh th́ đâu có đẹp xấu (thọ), không đẹp xấu th́ làm ǵ có yêu ghét (ái), không yêu ghét th́ đâu có lấy bỏ (thủ), ḍng sanh tử do đâu lôi cuốn được. Thấy có đẹp xấu là thấy hai, yêu ghét là hai, thủ xả là hai; c̣n có hai bên là nguồn gốc sanh tử. Thiền gia khi nh́n sự vật không dấy tâm khởi niệm, nên thấy mọi vật đều chân. Như khi vua Lư Thái Tông đến viếng Thiền Lăo thiền sư, Vua hỏi: “Ḥa thượng trụ núi này đă được bao lâu?” Sư đáp:

Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu.

Chỉ biết ngày tháng này
Ai rành xuân thu trước.

Vua lại hỏi: “Hằng ngày Ḥa thượng làm ǵ?” Sư đáp:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.

Đẹp đẽ thay, nếu chúng ta thấy sự vật đúng với bản chất của nó. Nh́n sự vật với tâm lặng lẽ thanh tịnh, mọi phàm t́nh không có chỗ chen vào, c̣n ǵ là thật giả, đẹp xấu, khó dễ…, đến đây không c̣n ǵ để nói. Cho nên cô Linh Chiếu đúc kết quan niệm của ông bà Long Uẩn bằng hai câu: “Cũng không dễ cũng không khó. Đói đến th́ ăn, mệt ngủ kḥ.” Hằng sống với tâm như như thanh tịnh, khi gặp cảnh th́ hành xử tùy duyên, không so sánh, không phân chia, không áp đặt bất cứ một khái niệm nào, nên nói “đói ăn mệt ngủ”. Cái nh́n đúng thực tại này, gọi là “như thị tri, như thị kiến”.

THAM VẤN, NGHIÊN CỨU CÔNG ÁN

LÀ TRỌNG TÂM PHẬT GIÁO

Tham vấn là thưa hỏi những điều ḿnh đang hoài nghi. Do một hai vấn đề ḿnh xem là trọng đại mà không quyết trạch được, nên đem ra thưa hỏi. Thiền sư không phải là người quyết nghi, mà vun bồi mối nghi thêm to, thêm mạnh hơn. Mối nghi đă lớn mạnh, khiến người học thao thức khắc khoải, cho đến quên cả mọi vật chung quanh, một hôm nào đó đă chín muồi, bỗng nhiên vỡ tung là giác ngộ, là phát minh, giải quyết được vấn đề lâu nay ḿnh ôm ấp. Đây là chỗ ngộ đạo của Thiền giả. Nghiên cứu công án cũng thế, lấy một vấn đề thật khó hiểu từ trong kinh sách hay lời nói của người xưa, nghiền ngẫm măi càng ngày càng sâu, cho đến quên ăn quên ngủ, đến khi nào trong tâm chín muồi, vỡ tung vấn đề, là ngộ đạo, là đáp án. Ví như lấy câu “các pháp trở về một, một trở về chỗ nào” chẳng hạn. Bởi nuôi dưỡng một nghi vấn trong ḷng, lâu ngày trở thành trọng đại, tất cả sự vật chung quanh trở thành vô nghĩa, tâm không c̣n bận một việc ǵ khác, ngoài nghi vấn quan trọng ngự trị nơi ta. Chính đây là chủ yếu đưa Thiền giả đến chỗ giác ngộ.

THỰC HIỆN THÀNH CÔNG THAM

CỨU PHẢI NHỜ THIỀN ĐỊNH

Đức Phật phá vỡ được vấn đề trọng đại đă ôm ấp muời một năm qua, nhờ tu tập thiền định từ lúc học với các danh sư đương thời, cho đến bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề, đâu phải là ngẫu nhiên được giác ngộ, mà phải nhiều năm chuyên tâm dứt niệm. Khi sức định tuyệt mạnh rồi, hướng tâm về vấn đề đang theo đuổi mới đủ sức phá vỡ. Như trong kinh kể lại, lúc Bồ-tát ngồi dưới cội bồ-đề, hướng tâm về quá khứ th́ thấy vô số kiếp đă qua, chứng Túc mạng minh; hướng tâm đến việc sanh tử của con người liền thấy rơ nguyên nhân manh mối dẫn chúng sanh đi sanh cơi này cơi nọ, chứng được Thiên nhăn minh hay Sanh tử trí; hướng tâm đến phương pháp dứt sanh tử, liền biết rành rọt đầu mối và chỗ cuối cùng của sanh tử, chứng được Lậu tận minh hay giải thoát sanh tử. Khi sức định thành tựu th́ trí tuệ dễ phát, như kinh nói “giới định tuệ”.

Giới là phương tiện đầu gỡ bớt những điều phiền nhiễu chung quanh, để dễ bề chuyên tâm vào một việc. Định là chuyên tâm an trụ, không bị gió ngũ dục thổi lung lay, không bị nước lục t́nh lôi cuốn, vững vàng như quả núi không lay động. Đến đây mới đủ sức mạnh phá tung được bức tường vô minh che mờ từ muôn kiếp, thấy tường tận vấn đề chúng ta cần thấy là trí tuệ. Nên nói giới định tuệ là như thế.

Song Thiền gia không nói giới định tuệ theo thứ tự như vậy, mà khi chuyên tâm vào vấn đề ḿnh đặt ra th́ lơ là với mọi việc bên ngoài là giới; chính lúc chuyên tâm không bị ngoại duyên làm xao động là định; ngay trong lúc an định là sống với trí tuệ vô sanh là tuệ. Tuệ đây là nhận được lư vô sanh ngay trong an định (kiến tánh). Cái vô sanh ấy là Ông chủ của chính ḿnh, sống thẳng với Ông chủ này mà nh́n mọi vật, th́ mọi vật đều chân. Cho nên, một hôm Tổ Huệ Khả thưa với Tổ Bồ-đề-đạt-ma: “Tâm con bặt hết các duyên.” Tổ Đạt-ma bảo: “Coi chừng rơi vào không!” Huệ Khả thưa: “Rơ ràng thường biết, làm sao không được!” Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho. Trong lúc đối duyên xúc cảnh hằng ngày, tâm ta không chạy theo, không dính mắc là định, cái định này không thuộc ngồi, không có nhập xuất, nên nói đại định. Chính cái tâm không sanh không diệt mà hằng giác hằng tri ấy là tuệ. Cái tuệ này là Tánh giác sẵn có muôn đời của ḿnh, không phải từ đâu đến, nên gọi là Trí vô sanh. Sau khi nhận được Ông chủ th́ vấn đề đă phá vỡ, ngang đây nh́n mọi vật bằng cách “đối cảnh vô tâm”, là nếp sống của Thiền sư.

THIỀN LÀ PHÁT MINH, LÀ SÁNG TẠO

Thiền là tự thắc mắc một vấn đề quan trọng, t́m ṭi theo dơi luôn đến khi sáng được vấn đề đó mới thôi. Khi sáng được vấn đề là phát minh một kỳ bí mà trước kia ḿnh không hiểu không biết. Bởi thế nên chủ yếu của thiền là phát minh, cũng gọi là giác ngộ. Chỗ trước kia ḿnh không biết mà nay được biết là giác ngộ. Sư giác ngộ này tùy vấn đề lớn nhỏ ḿnh đang theo đuổi, nên kết quả có sai biệt. Như những nhà khoa học, tùy chỗ nghiên cứu t́m ṭi mà sự phát minh có lớn nhỏ.

“Hiéron, vua nước Syracuse có bảo một tên thợ vàng nọ làm cho người một vương miện bằng vàng. Nhưng nhà vua lại nghi ngờ tên thợ nọ có pha bạc vào trong vàng. Nhà vua bèn hỏi ư kiến Archimède làm sao biết được có sự gian lận nói trên mà vẫn giữ nguyên vẹn cái mũ của nhà vua. Archimède suy nghĩ giây lâu nhưng vẫn t́m chưa ra giải pháp. Một hôm Archimède tắm, ông nhận thấy rằng tứ chi của ḿnh trong nước mất bớt một phần nào trọng lượng. Do đó ông đă t́m ra nguyên tắc mà ngày nay gọi là nguyên tắc Archimède: ‘Một vật nào thả vào một chất lỏng cũng bị một sức đẩy từ dưới lên trên bằng trọng lượng của chất lỏng dời chỗ.’ Sung sướng, ông ra khỏi nơi tắm, chạy luôn ra đến ngoài phố và la to ‘euréka, euréka’ nghĩa là ‘tôi t́m ra rồi, tôi t́m ra rồi’.” (Archimède, 287 trước CN - Tự Điển Danh Nhân Thế Giới của Trịnh Chuyết tr. 33)

“Trái bom (táo) của Newton là một câu chuyện t́nh cờ đă giúp tiên sinh t́m ra định luật về sự hút của vạn vật. Một hôm, Newton đang suy nghĩ về toán học, ngồi ở dưới gốc một cây bom. Th́nh ĺnh một trái bom rớt ở trước mặt. Newton tự hỏi sức ǵ buộc mọi vật trên mặt đất đều phải rớt xuống đất mà không rớt ngoài trái đất? Sức ǵ điều khiển mặt trăng quay xung quanh địa cầu? Sức ǵ điều khiển các hành tinh quay xung quanh mặt trời? Đó là những bước đầu của sự khám phá ra hiện tượng ‘vạn vật hút lẫn nhau’ nói trên.” (Newton, 1642-1727 - Tự Điển Danh Nhân Thế Giới tr. 403)

Qua hai câu chuyện trên đủ minh chứng sự phát minh của các nhà khoa học là do dồn hết tâm lực vào một vấn đề, đến khi chín muồi bỗng dưng phát sáng. Người tu thiền cũng thế, khi nhận thấy một vấn đề quan trọng mà không giải quyết được, chú tâm nghiền ngẫm măi đến một phút giây nào đó liền phát ngộ. Sự ngộ này là thực tế khoa học, chớ không phải là tưởng tượng huyền bí. Bởi vậy mục đích người tu thiền là phải ngộ đạo. Ngộ đạo là phát minh là sáng tạo, chớ không phải ù ĺ chai cứng, chờ chết mới biết kết quả tu hành. V́ thế, nói đến tu thiền là phải quyết tâm, gan dạ và bền bỉ, có dám chết mới được sống. Thiền đào tạo những con người hùng dũng, phát minh và sáng tạo, chính là cốt lơi của đạo Giác Ngộ Giải Thoát.

BẤT LẬP VĂN TỰ, GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN

Đặt một nghi vấn, theo dơi lâu ngày cho đến chín muồi, tự phá vỡ liền phát minh, việc tu này không nằm trong kinh sách Phật giảng dạy, nên nói “bất lập văn tự”. Khi ứng dụng tu, không thuộc về quán Tứ niệm xứ, quán Nhân duyên, quán các pháp Tự tánh không… mà chỉ tâm không chạy theo cảnh, đối cảnh tâm không khởi niệm, nên gọi là “giáo ngoại biệt truyền”. Tuy nhiên có nghi vấn là có văn tự, ở đây nói “bất lập văn tự” để giản trạch lối đọc tụng kinh sách làm sở tu. Tâm không chạy theo cảnh hay đối cảnh tâm không khởi niệm, nói là “giáo ngoại biệt truyền”, kỳ thật đây là trọng tâm giáo lư. Bao nhiêu kinh điển chủ yếu dạy người tu, tâm không dính với cảnh, tâm đừng chấp cảnh, đối cảnh tâm được an định. Song muốn được như vậy là nhờ các pháp quán để gỡ tâm nhiễm trước, quán vô thường, quán bất tịnh… là để gỡ tâm dính với sắc… Chỗ cuối cùng của giáo lư dạy là chỗ Thiền tông đang thực hành. Nhưng chỗ thực hành của Thiền tông không đi theo cái khuôn sẵn của giáo lư, mà là một đường lối sáng tạo. Tuy đường lối sáng tạo mà chung qui lại trở về mục đích chung cuộc của giáo lư. Cho nên nói “giáo ngoại biệt truyền”, mà Tổ Đạt-ma truyền bốn quyển kinh Lăng-già cho Tổ Huệ Khả, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn giảng kinh Kim Cang cho Lục Tổ nghe. V́ nhằm thẳng con đường của Phật thực hành ngày xưa, từ khởi nghi vấn “tại sao nhân loại bao kiếp chấp nhận sanh già bệnh chết là qui luật bất khả kháng”, “có phương cách ǵ giải thoát sanh già bệnh chết không”, Ngài ôm ấp dơi theo nghi vấn này măi cho đến ngày giác ngộ được nó. Hiện nay chúng ta có thể nghi vấn về câu “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong kinh, cái ǵ là Phật tánh? Và dơi theo măi cho đến ngày giác ngộ th́ có khác ǵ với Phật ngày xưa. Bởi vậy nên lối tu này gọi là “Phật Tâm tông”. Tuy nói “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” mà lại là trọng tâm của Phật giáo, là truyền Phật Tâm tông, là kế thừa chánh pháp, là truyền đăng tục diệm của Phật pháp.

ĐẠI NGHI ĐẠI NGỘ, TIỂU NGHI TIỂU NGỘ

Tùy vấn đề ḿnh thắc mắc lớn hay nhỏ, chỗ ngộ cũng thành lớn hay nhỏ. Chúng ta thắc mắc “trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là ǵ” đó là một thắc mắc lớn. Nếu ngộ được vấn đề này là thấy được con người sẵn có từ muôn kiếp của ḿnh, hay nói khác hơn là thấy được “Bản lai diện mục”, hay gọi là “kiến tánh”… Hoặc thắc mắc tại sao chúng ta tu phải ăn chay? Tại sao chúng ta tu phải ngồi thiền? Đây là những nghi vấn nhỏ, nếu ngộ cũng là ngộ nhỏ. Song cái nghi và ngộ này không giống những người tu theo thoại đầu hiện giờ ứng dụng. Người tu thoại đầu hiện giờ thường dùng câu thoại đầu rồi đề khởi măi đến độ căng thẳng thần kinh khiến thác loạn. Thế mà họ tự hào rằng đây là chánh truyền Thiền tông, là Tổ sư Thiền v.v… Đức Phật không có đề thoại đầu. Tổ Đạt-ma không có đề thoại đầu, Lục tổ Huệ Năng không có đề thoại đầu. Đây chẳng qua là phương tiện do các Thiền sư ở Trung Hoa đời Tống chế ra. Chúng ta học Phật, phải thấy thâm ư sâu xa của pháp tu, đừng mắc kẹt h́nh thức máy móc.

TRÍ HỮU SƯ, TRÍ VÔ SƯ

Trong giáo lư nhà Phật có chia làm hai loại trí. Do học hỏi giáo lư, hoặc tự xem kinh sách, có những hiểu biết gọi là Trí hữu sư. Trí này nhờ học hỏi từ nơi thầy, bạn, hoặc tự huân tập thành. Nó từ bên ngoài vào, bởi những tác động gây thành ấn tượng ghi nhớ, nên thuộc sanh diệt, không thật của ḿnh. Do tâm an định phát ra, như nói định sanh tuệ, bởi mọi phiền năo lóng lặng, phát sanh trí tuệ, nên gọi là Trí vô sư. Trí này tiềm ẩn sẵn nơi mọi người chúng ta, một khi mây mù phiền năo tan th́ nó hiện. Như nói “đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự sáng” (Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu - Bá Trượng). Chính ngày xưa đức Thế Tôn phát minh được việc lớn cũng từ trí này. Sau bao năm thiền định, tâm Ngài lóng lặng, cuối cùng ngồi thiền định dưới cội bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm, đêm thứ bốn mươi chín liền sáng lên phát minh đại sự. Bởi vậy trong nhà thiền chủ tâm phát khởi trí này, nó mới thật là trí của ḿnh, ngay nơi ḿnh phát ra, là không sanh không diệt. Chúng ta nghe đoạn đối đáp của Thiền sư Toàn Khoát ở Nham Đầu với Thiền sư Nghĩa Tồn ở Tuyết Phong sau đây:

Nghĩa Tồn nói: “Tôi thật c̣n chưa ổn.” Toàn Khoát bảo: “Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ nào phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ v́ ông đuổi dẹp.” Nghĩa Tồn nói: “Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc không liền được chỗ vào.” Toàn Khoát bảo: “Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.” Nghĩa Tồn nói:

- Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông:

Thiết kỵ tùng tha mích,
Điều điều dữ ngă sơ,
Cừ kim chánh thị ngă,
Ngă kim bất thị cừ.

Rất kỵ t́m nơi khác,
Xa xôi bỏ lăng ta,
Va nay chính là ta,
Ta nay chẳng phải va.

Toàn Khoát bảo: “Nếu cùng thế ấy tự cứu cũng chưa xong.” Nghĩa Tồn tiếp: “Sau tôi hỏi Đức Sơn: ‘Việc trong Tông thừa từ trước, con có phần chăng?’ Đức Sơn đánh một gậy hỏi: ‘Nói ǵ?’ Tôi khi đó như thùng lủng đáy.” Toàn Khoát nạt: “Ông chẳng nghe nói ‘từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà’?” Nghĩa Tồn hỏi: “Về sau làm thế nào mới phải?” Toàn Khoát bảo: “Về sau nếu muốn xiển dương Đại giáo, mỗi mỗi tự trong hông ngực ḿnh lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi!” Nghĩa Tồn nhân câu này đại ngộ, liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: “Sư huynh! Sư huynh! Ngày nay mới thành đạo ở Ngao Sơn.” (Thiền sư Trung Hoa tập II tr. 203)

Chẳng những trong nhà thiền chú trọng Trí vô sư mà trong kinh cũng xem trọng như vậy. Chúng ta đại lược một đoạn trong phẩm Tùng Địa Dũng Xuất ở kinh Pháp Hoa như sau:

“Bấy giờ chư đại Bồ-tát ở các cơi khác đến dự, đồng đứng lên chấp tay bạch Phật: ‘Thế Tôn! Nếu bằng ḷng cho chúng con sau khi Phật diệt độ, ở cơi Ta-bà siêng năng tinh tấn thọ tŕ, đọc tụng, biên chép, cúng dường kinh này, khi đó chúng con sẽ ở trong cơi này rộng nói.’ Phật bảo chúng đại Bồ-tát: ‘Thiện nam tử! Thôi đi, chẳng cần các ông hộ tŕ kinh này. V́ sao? V́ cơi Ta-bà của ta tự có chúng đại Bồ-tát nhiều bằng số cát của muôn sông Hằng. Mỗi Bồ-tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những vị đó có thể sau khi ta diệt độ, hộ tŕ, đọc tụng, rộng nói kinh này.’ Sau khi Phật nói như vậy, cơi Ta-bà liền rung động nứt nẻ, chư Bồ-tát ở dưới đất vọt lên vô số…”

Trong kinh Pháp Hoa không nói rơ Trí hữu sư, Trí vô sư, song dùng ẩn dụ để cho chúng ta thấy. Bồ-tát dịch là Hữu t́nh giác hay Giác hữu t́nh, là chúng sanh được giác ngộ lại giác ngộ cho người. Bồ-tát ở các cơi khác là chỉ cho cái giác từ bên ngoài đến, là Trí hữu sư. Phật không chấp nhận hộ tŕ kinh Pháp Hoa ở cơi này. V́ kinh Pháp Hoa là Tri kiến Phật, tức là cái thấy biết Phật của chúng ta, cái thấy biết này không phải từ ngoài đến. Bồ-tát ở trong ḷng đất vọt lên, chỉ cho cái giác từ bên trong phát ra, là Trí vô sư. Chính cái trí này là Tri kiến Phật. V́ thế Phật dành phần hộ tŕ kinh Pháp Hoa ở cơi này cho những Bồ-tát này.

Thế là chúng ta thấy kinh và Thiền đồng chú tâm vào Trí vô sư, chỉ khác nhau lối tŕnh bày thôi. Người học Phật phải khéo thấy rơ điểm này. Tuy nhiên, buổi đầu đến với đạo chúng ta phải nhờ Trí hữu sư, như kinh dạy “Văn Tư Tu” là ba tuệ học. Trí hữu sư hướng dẫn chúng ta biết lối đi và làm cho chúng ta phấn khởi trên đường tu học. Song nó thuộc kiến thức sanh diệt, cuối cùng phải vượt qua nó mới đến trí vô sanh.

THIỀN LÀ MẠCH NGUỒN PHẬT PHÁP

Thiền tông ứng dụng tu đúng theo đường của Phật trước kia đă hành, mà không ứng dụng theo pháp của Phật dạy. Thiền tông không tu theo pháp quán Tứ niệm xứ hay Ngũ đ́nh tâm… của Nhị thừa, cũng không quán Nhân duyên tánh không hay Đại thừa Chỉ Quán của Đại thừa, mà ứng dụng ngay cách tu của đức Phật, từ khi thắc mắc vấn đề nhân sinh: “Tại sao con người phải sanh già bệnh chết? Có phương cách ǵ giải thoát sanh già bệnh chết?” Lấy đó làm mục đích hướng dẫn trọn một đời tu, đến khi vấn đề được nổ tung là giác ngộ, như đức Phật đă giác ngộ. Hoàn toàn thực thi theo đường hướng của Phật, nên nói là “kế thừa Tâm tông của Phật” (kế Phật tâm tông). Điều này chúng ta thấy rơ nơi các Thiền sư sau đây:

Thiền sư Nghĩa Huyền Lâm Tế (?-867) ở trong hội Hoàng Bá đă ba năm mà không thưa hỏi. Trần Tôn Túc, hiện làm Thủ tọa trong chúng, khuyến khích hỏi. Sư thưa: “Hỏi câu ǵ?” Tôn Túc bảo hỏi: “Thế nào là đại ư Phật pháp?” Sư mang câu hỏi này đến hỏi Hoàng Bá. Câu hỏi vừa dứt, liền được ăn ba gậy. Đến ba lượt như vậy, Nghĩa Huyền buồn khổ đến từ giă ra đi. Hoàng Bá bảo đến Thiền sư Chi ở núi Đại Ngu. Đến nơi, Đại Ngu hỏi: “Ở chỗ nào đến?” Sư thưa: “Ở Hoàng Bá đến.” Đại Ngu hỏi: “Hoàng Bá có dạy lời ǵ?” Sư thưa: “Con ba phen hỏi đại ư Phật pháp, ba phen bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?” Đại Ngu bảo: “Bà già Hoàng Bá đă v́ ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi?” Ngay lời nói này Sư đại ngộ, thưa: “Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá rất ít.” Đại Ngu nắm đứng bảo: “Con quỉ đái dưới sàng, vừa rồi nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít. Ngươi thấy đạo lư ǵ, nói mau! nói mau!” Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra nói: “Thầy của ông là Hoàng Bá, chẳng can hệ ǵ việc của ta.” Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá (Thiền sư Trung Hoa II tr. 73).

Vấn đề đại ư Phật pháp Trần Tôn Túc đặt ra cho Nghĩa Huyền là vấn đề trọng đại. Nếu hiểu được đại ư Phật pháp là hiểu cả Tam tạng giáo điển. Hoàng Bá là bậc cao thủ, bắt Nghĩa Huyền phải chết sống với vấn đề này, nên không đáp một lời, chỉ đánh ba gậy. Lần đầu hỏi bị ăn đ̣n là đau khổ tận tim gan, khiến vấn đề càng quan trọng thêm. Qua mấy ngày mất ăn mất ngủ, lại hỏi một lần nữa, thêm một trận đ̣n thứ hai. Đến đây tâm can đă tan nát. Tại sao vấn đề này không được giải đáp? Đây là những vết hằn sâu trong tâm khảm Nghĩa Huyền. Đến lần thứ ba lên hỏi, vẫn được đáp bằng ba gậy. Đến đây đau khổ tột cùng, sống dở chết dở, đành phải từ giă ra đi. Thời gian đi đến Đại Ngu, vấn đề đại ư Phật pháp đă bủa khắp, đă trùm kín con người Nghĩa Huyền. Tại sao hỏi đại ư Phật pháp lại bị đánh? Câu hỏi này đă đánh bật mọi tâm niệm lăng xăng. Tâm năo của Nghĩa Huyền đă khắn chặt câu hỏi này. Đại Ngu chỉ khơi dậy bằng một câu: “Bà già Hoàng Bá đă v́ ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi”. Vỡ tung vấn đề một cách dễ dàng, Nghĩa Huyền thấy được đại ư Phật pháp và biết được thủ thuật của ông thầy, liền thốt câu “xưa nay Phật pháp Hoàng Bá rất ít”. Đây là giải đáp xong vấn đề thắc mắc từ ngày đến hỏi cho đến giờ phút này, nên gọi là ngộ đạo hay giác ngộ.

Thiền sư Tuyên Giám ở Đức Sơn (780-865) sau khi xuất gia học thông kinh điển, Sư tin tuyệt đối vào kinh điển, nghe lối tu thiền đơn giản chóng ngộ đạo nên bực ḿnh nói: “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, c̣n chẳng được thành Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ‘trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật’, ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ân Phật.” Chính chỗ nhiệt t́nh bảo hộ chánh pháp trở thành nghi vấn: “Tại sao nhà Thiền dám nói trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật?” Khi định đi dẹp họ, chính cái nghi của Đức Sơn cũng tăng. Khi sang phương Nam, trước tiên gặp Thiền sư Sùng Tín ở Long Đàm, Sư liền nói: “Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm (đầm) chẳng thấy, Long (rồng) cũng không hiện.” Sùng Tín bảo: “Ông đă gần đến Long Đàm.” Ngang đây kiêu khí của Sư đă tan biến, quan niệm ruồng đuổi bọn ma không c̣n, từ đó phát sanh nghi vấn “thế nào kiến tánh thành Phật” nơi Sư. Sư liền xin nhập chúng để tham vấn. Vấn đề kiến tánh thành Phật khiến Sư thao thức bất an. Một hôm, Sư đứng hầu, Sùng Tín bảo: “Đêm khuya sao chẳng xuống?” Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: “Bên ngoài tối đen.” Sùng Tín thắp đèn cầy đưa cho Sư. Sư vừa tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó, Sư đại ngộ, liền lễ bái. Sùng Tín hỏi: “Ông thấy cái ǵ?” Sư thưa: “Từ nay về sau chẳng c̣n nghi lời nói của chư lăo Ḥa thượng trong thiên hạ.”

Chỗ nghi của Đức Sơn là “kiến tánh thành Phật”. Nghi vấn này nảy sanh từ khi cất gánh kinh lên vai đi về phương Nam để ruồng đuổi giống ma. Khi đă bị chiết phục, tuy hết nghi Thiền sư là ma, Sư vẫn c̣n nghi: “Thế nào là kiến tánh thành Phật?” Cho nên Sùng Tín bảo đi xuống, mà ḷng Sư vẫn bất an, nên nói “bên ngoài tối đen”. Cái tối đen này vừa là trời tối, vừa là tâm nghi ngờ mù mịt. Sùng Tín biết chỗ thao thức của Sư, liền đốt đèn cầy đưa. Sư vừa tiếp liền thổi tắt. Hành động đột ngột này khiến Sư vỡ tan nghi ngờ, gọi là đại ngộ. Tức là thấy được chỗ kiến tánh thành Phật, không phải trông cậy vào bên ngoài. Ngang đây vấn đề kiến tánh thành Phật là sự thật đối với Sư, nên nói “từ nay về sau chẳng c̣n nghi lời của chư lăo Ḥa thượng trong thiên hạ”. Quả thật Sư đă giải đáp xong một nghi vấn trọng đại, nên gọi đại ngộ.

Thiền sư Trí Nhàn ở Hương Nghiêm (724-814) trong hội Qui Sơn Linh Hựu. Một hôm, Qui Sơn bảo: “Ta nghe ông ở chỗ Tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là ông thông minh lanh lợi, ư hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh?” Sư bị câu này mờ mịt không đáp được. Trở về liêu, Sư soạn hết sách vở đă học qua, t́m một câu đáp trọn không thể có. Sư than: “Bánh vẽ chẳng no bụng đói.” Đến cầu Qui Sơn nói phá, Qui Sơn bảo: “Nếu ta nói cho ông, về sau ông sẽ chửi ta, ta nói là việc của ta đâu can hệ ǵ đến ông!” Sư đốt hết sách vở, nói: “Đời này chẳng học Phật pháp nữa, chỉ làm Tăng thường làm việc cơm cháo, khỏi nhọc tâm thần.” Sư từ giă Qui Sơn về Nam Dương ở chỗ di tích Quốc sư Huệ Trung. Một hôm, nhân cuốc cỏ trên núi, lượm ḥn gạch ném trúng cây tre vang tiếng, Sư chợt tỉnh ngộ, phá lên cười. Sư làm bài tụng:

Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu tŕ
Động dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên ki (cơ)
Xứ xứ vô tung tích
Thanh sắc ngoại oai nghi
Chư nhân đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng ki (cơ).

Một tiếng quên sở tri
Chẳng cần phải tu tŕ
Đổi sắc bày đường xưa
Chẳng rơi cơ lặng yên
Nơi nơi không dấu vết
Oai nghi ngoài sắc thanh
Những người bậc đạt đạo
Đều gọi thượng thượng cơ.

Trí Nhàn bị Qui Sơn bắt “nói một câu khi cha mẹ chưa sanh”. Đây là đặt nghi vấn: “T́m cái ǵ trước khi cha mẹ chưa sanh?” Câu này không có sách vở nào giải đáp cho ta. Đặt câu hỏi này là Qui Sơn buộc Trí Nhàn phải thao thức trăn trở măi vấn đề này. Ôm nghi vấn về núi, Trí Nhàn buông hết mọi việc, chỉ theo dơi vấn đề thiết yếu này thôi. Theo dơi không có nghĩa như đề thoại đầu hiện nay, mà ôm ấp trằn trọc suốt tháng năm, đến khi chín muồi, nghe tiếng “cốc” vang từ cây tre do ḥn gạch ném trúng, Trí Nhàn liền ngộ đạo, tức là phá vỡ nghi vấn “cái ǵ trước khi cha mẹ chưa sanh”. Đây là thấy được bộ mặt thật muôn đời của ḿnh (Bản lai diện mục), là thoát khỏi sanh tử. Qui Sơn thấy Trí Nhàn trí lanh lợi, ư thức nhạy bén, biết đó là gốc sanh tử, muốn thoát sanh tử phải gạt chúng qua một bên. Chúng ta hiện nay tự hào với trí lanh lợi của ḿnh, tưởng đó là sáng suốt, là thấu hiểu tột cùng, không ngờ chính nó lại là gốc sanh tử. Trí Nhàn thấy được cái sẵn có muôn đời này không h́nh, không tướng mà hiện tiền nên nói “nơi nơi không dấu vết, oai nghi ngoài sắc thanh”. Ngộ đạo ở đây là thấy được cái không sanh tử của chính ḿnh, gọi là giải thoát sanh già bệnh chết ở vị lai. Quả thật đúng đường Phật đă đi từ thuở trước.

Qua ba câu chuyện trên, chúng ta thấy rơ Thiền ứng dụng đúng nguyên tắc đức Thế Tôn đă ứng dụng. Nhân ban đầu v́ t́m giải quyết sanh tử, quả cuối cùng giải thoát sanh tử. Phật đă hành và đạt như vậy, Thiền sư cũng hành và đạt như thế. Ban đầu Phật đặt nghi vấn, rốt sau vỡ tung nghi vấn là giác ngộ; Thiền sư cũng thế, ôm nghi vấn đi thưa hỏi, rốt sau tự ḿnh phá vỡ nghi vấn là ngộ đạo. V́ thế chúng tôi dám cả quyết “Thiền là mạch nguồn đạo Phật”.

THIỀN KHÔNG CÓ THỨ BẬC TU CHỨNG

Người tu theo Thiền tông, khi c̣n ôm nghi vấn là mê, khi vỡ tan nghi vấn là ngộ. Con đường từ mê đến ngộ không có cấp bậc. V́ thế nói: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật, không có bậc nào trong khoảng giữa đó. Khác với giáo lư Nhị thừa, do huân tu quán chiếu có sâu cạn, nên chứng quả có cao thấp. Đi từ cấp bậc Sơ thiền, Nhị thiền… cho đến Tu-đà-hoàn, cuối cùng là A-la-hán. Bởi có những cấp bậc nên dễ tiến, dễ biết. Đến giáo lư Bồ-tát cũng có Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh… cho đến Thập địa, rốt cùng là Đẳng giác, Diệu giác là Phật. Song nhà thiền vẫn có “Thập mục ngưu đồ” (Mười mục chăn trâu) là diễn tả tâm trạng từ lúc bắt đầu cho đến lúc viên măn. Đây là tạm mượn h́nh ảnh để cụ thể hóa tâm niệm người tu, chớ không có cấp bậc cố định.

THIỀN GIÁC NGỘ CÓ CƠ SỞ

KHÔNG PHẢI THIÊN KHẢI

Thiền đặt thẳng vấn đề để tham vấn, nghiên cứu bằng quyết tâm, nên trăn trở thao thức khi vấn đề chưa được phát minh. Qua thời gian hoặc dài hoặc ngắn, có khi vấn đề ch́m lặng trong tiềm thức, lúc gặp duyên trỗi dậy liền phát ngộ. Cái ngộ này là ngộ vấn đề ḿnh thao thức trước kia. Như đức Phật giác ngộ là ngộ vấn đề sanh tử của con người do Ngài đặt ra từ buổi ban đầu. Giác ngộ là kết quả của bao nhiêu năm nghiên tầm, tu tập. Sự tu tập không ngoài mục đích nhắm buổi ban đầu. Nhưng từ bỗng nhiên giác ngộ hay chợt ngộ… là nói sự đột khởi bất ngờ, song cũng là công phu hằng ngày theo dơi hay tu tập, mới có sự xảy ra đột ngột vào phút chót. Sự giác ngộ không phải do một đấng thần linh nào đem lại, hay ban cho. Chính công phu tu tập của ḿnh mà đưa đến kết quả ấy. Như những nhà bác học chợt phát minh được vấn đề ǵ, cũng là công phu nghiên cứu nhiều năm đưa đến. Sự bộc phát bất ngờ phát minh một điều mới lạ, điều ấy đă ôm ấp nuôi dưỡng từ lâu. Cho nên người biết tu thiền không ôm tâm chờ ngộ, mà phải kiên tâm tỉnh giác, khi thời tiết nhân duyên đến, bỗng nhiên ngộ đạo.

Để kết thúc bài này, Thiền tông có những điểm dường như khác biệt lời Phật dạy, do trong nhà Thiền tuyên bố: “giáo ngoại biệt truyền”… khiến nhiều người hiểu lầm Thiền tông không phải thật của đạo Phật. Hoặc có người cho Thiền tông là “quái thai của Phật giáo”. Nghiên cứu kỹ Thiền tông, chúng ta thấy ngược lại, chính Thiền tông làm sống lại tinh thần đức Phật. Mục tiêu giác ngộ giải thoát đức Phật đề ra, Thiền tông tôn trọng triệt để. V́ chủ đích của Thiền tông không giác ngộ là tu chưa kết quả. Giác ngộ là ngọn hải đăng, các Thiền giả là hoa tiêu phải nhắm đến. Sự tu hành của Thiền tông không theo qui tắc định sẵn trong kinh, mà đi theo lối riêng, phỏng theo lối của Phật ngày trước. Chủ yếu của Thiền tông là khơi dậy Trí vô sư sẵn có nơi mọi người. Nhận ra được trí này là kiến tánh, đạt được viên măn trí này là giác ngộ giải thoát. Trí này là trí đức Phật thành tựu ở dưới cội bồ-đề. Phát minh sáng tạo là trọng tâm của Thiền tông. Nếu thực hành theo công thức đă định sẵn là không có phát minh. Muốn được phát minh phải nghiền ngẫm chú tâm vấn đề mới sáng tột được. Cho nên Thiền định không thể thiếu trên con đường giác ngộ. Bởi phát minh nên Thiền là tinh thần sáng tạo. Phát minh, sáng tạo, tự tín là cốt lơi của Thiền. Ba điều này là đặc điểm của con người văn minh, của xă hội đẹp đẽ.


 

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ 20

Nói đến Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 là nói đường hướng tu thiền của Tu viện Chân Không (1970-1986) ngày trước, hay của Thiền viện Thường Chiếu… hiện nay (1974-1991…) do chúng tôi (Thích Thanh Từ) chủ trương hướng dẫn. Chúng tôi không theo các tông phái chi nhánh Thiền tông Trung Hoa sau này, như tông Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhăn. Chúng tôi chỉ kết hợp ba cái mốc quan trọng trong ḍng lịch sử truyền thừa Thiền tông từ Trung Hoa đến Việt Nam. Mốc thứ nhất là Nhị tổ Huệ Khả, mốc thứ hai là Lục tổ Huệ Năng, mốc thứ ba là Sơ tổ Trúc Lâm. Ḥa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi.

TỔ HUỆ KHẢ (494-601)

Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà ḷng vẫn c̣n thao thức, tại sao tâm măi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: “Bạch Ḥa thượng tâm con chẳng an, xin Ḥa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ Đạt-ma nh́n thẳng bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài sửng sốt quay lại t́m tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: “Con t́m tâm không được.” Tổ bảo: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào.

Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi v́ từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của ḿnh, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này. Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Đạt-ma không dạy phương pháp ǵ, Ngài chỉ bảo “đem tâm ra ta an cho”. Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.

B́nh thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của ḿnh, chịu sự sai sử lôi kéo của nó. Bất thần chúng ta t́m lại nó th́ nó mất tăm mất dạng. Khi nó không c̣n tăm dạng th́ không an là ǵ? Cho nên Tổ nói “ta an tâm cho ngươi rồi”. Ngài Huệ Khả sáng ư nhận ra được lẽ này nên biết đường vào. Như vậy, Tổ Đạt-ma có dạy phương pháp ǵ an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rơ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào th́ nó biến mất. Thuật ngữ nhà Thiền gọi là “Hồi quang phản chiếu”, chúng tôi gọi “Biết vọng không theo”. Chính đây là “Biết được đường vào” của ngài Huệ Khả.

Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi v́, nếu chấp nhận nó làm tâm ḿnh sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:

1. Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, c̣n chúng ta th́ lúc nào cũng hằng hữu. Nếu chấp nhận nó là ḿnh th́ khi không suy nghĩ là không có ḿnh sao?

2. B́nh thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nh́n lại t́m kiếm nó th́ mất tăm mất dạng. Nếu nó là thật ḿnh th́ lúc nào cũng phải có. Trái lại khi t́m th́ mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng mà thôi. Chấp nhận cái bóng làm ḿnh th́ thật là đau khổ cho con người.

3. Chúng ta ai cũng thừa nhận ḿnh trước sau vẫn là ḿnh, ḿnh là một từ bé đến già. Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như Hiền Thánh, có khi nghĩ dữ như cọp sói…, th́ cái nào là ḿnh?

4. Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết ḿnh đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ ấy là đối tượng bị biết của chúng ta. Đă là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài không phải ḿnh. Nếu cái suy nghĩ là thật ḿnh, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Đă có cái biết lúc không suy nghĩ th́ làm sao nhận cái suy nghĩ làm ḿnh được?

Cái không phải ḿnh mà lầm nhận là ḿnh, trong kinh Phật gọi là “nhận giặc làm con”, tai họa không thể lường được. Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục “chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này”. Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định… Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chặn nó, mà dùng trí biết rơ bản chất không thật của nó th́ nó hết tác quái. Chính câu “đem tâm ra ta an cho” của Tổ Đạt-ma đủ thể hiện ư nghĩa này.

“Biết đường vào” chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Đạt-ma: “Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.” Tổ Đạt-ma bảo: “Chớ rơi vào đoạn diệt.” Huệ Khả thưa: “Không rơi.” Tổ Đạt-ma hỏi: “Con làm thế nào?” Huệ Khả thưa: “Con thường biết rơ ràng, nói không thể đến.” Tổ Đạt-ma dạy: “Đây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi.” Đến đây mới thật là người về tới nhà, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa.

Khi Tổ Đạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui. Tổ Đạt-ma nói: “Ông được phần tủy của ta.” Đến chỗ cứu kính không c̣n ngôn ngữ để tŕnh bày, v́ ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối. Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.

TỔ HUỆ NĂNG (638-713)

Chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhă. Sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: “Khi phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác, làm sao an trụ tâm?” Phật đáp: “Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy.” Ngài đại ngộ kêu lên: “Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn không dao động! Đâu ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp!” Ngũ Tổ bảo: “Chẳng biết Bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được Bản tâm ḿnh, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật…” Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu.

Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lư Bát-nhă không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc mà nhảy vọt vào Thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính ḿnh. Chính Thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản lai diện mục, đă có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Đốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện.

Lục Tổ v́ phương tiện lập Tam vô: Vô niệm làm Tông, Vô tướng làm Thể, Vô trụ làm Bản. Theo Lục Tổ giải: Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài ĺa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay ĺa tướng tức là Pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Đối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Định Tuệ). Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ. Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là Thiền định. Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác.

SƠ TỔ TRÚC LÂM (1258-1308)

Vua Trần Nhân Tông lúc c̣n làm Thái tử đă thông suốt Thiền tông do sự giáo dục của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Trúc Lâm Đầu-đà, Ngài ḥa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đă truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam. Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn, đó là bài kệ Hữu Cú Vô Cú:

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Đằng khô thọ đảo                   B́m khô cây ngă

Cơ cá nạp tăng                        Mấy kẻ nạp tăng

Chàng đầu khái năo.               U đầu sứt trán.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Thể lộ kim phong                    Thể bày gió thu

Hằng hà sa số                          Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong.      Va đao chạm bén.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Lập tông lập chỉ                      Lập tông lập chỉ

Đả ngỏa toản qui                     Đập ngói dùi rùa

Đăng sơn thiệp thủy.              Trèo non lội nước.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Phi hữu phi vô                         Chẳng có chẳng không

Khắc chu cầu kiếm                  Khắc thuyền ṃ kiếm

Sách kư án đồ.                         T́m ngựa bản đồ.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Hỗ bất hồi hỗ                          Hồi hỗ hay không

Lạp tuyết hài hoa                    Nón tuyết giày hoa

Thủ chu đăi thố.                      Ôm cây đợi thỏ.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Tự cổ tự kim                           Tự xưa tự nay

Chấp chỉ vong nguyệt             Nh́n tay quên trăng

B́nh địa lục trầm.                    Đất bằng chết ch́m.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Như thị như thị                       Như thế như thế

Bát tự đả khai                         Chữ bát mở ra

Toàn vô bả tỹ.                         Sao không nắm mũi.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Cố tả cố hữu                           Ngó tả ngó hữu

A thích thích địa                     Lau chau mồm mép

Náo quát quát địa.                   Ồn ào náo động.

Hữu cú vô cú                          Câu có câu không

Đao đao phạ phạ                     Đau đáu lo sợ

Tiệt đoạn cát đằng                   Cắt đứt sắn b́m

Bỉ thử khoái hoạt.                   Đó đây vui thích.

Qua bài kệ này chúng ta thấy Ngài phản đối cái chấp hai bên biểu trưng bằng Có và Không. Song cái chấp hai bên có vô số loại: có không, phải quấy, hơn thua, tốt xấu, thắng bại, hay dở, lành dữ v.v… và v.v… Chính cái chấp hai bên là mầm tranh đấu, là nhân phiền năo, kết quả khổ đau không thấy chân lư.

Cho nên chín đoạn trong bài kệ này, Ngài vừa quở trách, vừa chỉ dạy rất đầy đủ. Như đoạn một: “mấy kẻ nạp tăng, u đầu sứt trán”, đoạn hai: “hằng hà sa số, va đao chạm bén”, đoạn ba: “đập ngói dùi rùa, trèo non lội nước”, đoạn bốn: “khắc thuyền ṃ kiếm, t́m ngựa bản đồ”, đoạn năm: “nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ”, đoạn sáu: “nh́n tay quên trăng, đất bằng chết ch́m”, đoạn bảy: “chữ bát mở ra, sao không nắm mũi”, đoạn tám: “lau chau mồm mép, ồn ào náo động”, đoạn chín: “cắt đứt sắn b́m, đó đây vui thích”.

Đoạn một và hai, Ngài quở người chấp hai bên là tự chuốc khổ vào ḿnh. Đoạn ba và bốn, Ngài chê kẻ chấp hai bên là dại khờ, chỉ nhọc nhằn luống công. Đoạn năm và sáu, Ngài trách những phương tiện tạm bợ mà người v́ cố chấp hai bên nên không thấy chân lư. Đoạn bảy và tám, Ngài chỉ thẳng chân lư ngay trước mắt như lỗ mũi nằm sẵn dưới chân mày mà người ta không nhận, cứ lư luận ồn ào vô ích. Đoạn chín, Ngài nói ai dứt chấp hai bên mới thật vui thích. Ngay đoạn chín này, hẳn là chỗ Nhị Tổ tŕnh kiến giải bằng ba lễ mà không có một lời. Không kẹt hai bên là căn bản của Thiền tông, cũng chính là cốt tủy của Phật giáo.

Lại một bài kệ kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Sơ tổ Trúc Lâm là cô đọng những ǵ Lục Tổ đă thấy và ứng dụng:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Ở đời vui đạo hăy tùy duyên
Đói đến th́ ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu, thôi t́m kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.

Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu. Thấy ḥn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên “đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh…”. Thiền là đối cảnh không tâm th́ làm ǵ có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm th́ đâu kẹt cảnh bên ngoài, là ĺa tướng tức vô tướng; không tâm th́ lấy ǵ để dính mắc, là vô trụ. Một câu kết này đă bao gồm cả Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ hay Tông, Thể, Bản của Lục Tổ dạy. Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục Tổ. Ngài Trúc Lâm Đầu-đà đă ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và chỗ hành của Lục Tổ. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hănh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài t́nh đường lối tu hành của người xưa làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta.

DUNG HỢP

Chúng tôi dung hợp pháp tu của ba vị Tổ trên thành một lối tu cụ thể như sau:

* Nơi Nhị Tổ chúng tôi ứng dụng pháp an tâm. Nghĩa là biết rơ tâm suy tưởng lâu nay là hư ảo, không để nó đánh lừa, lôi dẫn chúng ta chạy theo trần cảnh, nên nói “Vọng tưởng không theo”. Mỗi khi nó dấy lên đều biết rơ như vậy. Một khi hành giả nhận diện bản chất hư ảo của chúng th́ chúng tự biến mất. Khi tọa thiền cũng như lúc tiếp duyên xúc cảnh đều thấy rơ, không lầm chúng. Đến bao giờ được như Nhị Tổ nói “đoạn hết các duyên mà rơ ràng thường biết, nói không thể đến” là đạt kết quả.

Tuy nhiên vọng tưởng này không phải dễ lắng, dứt cái này khởi cái khác liên miên không dừng. Hành giả phải bền chí theo dơi, soi sáng măi chúng mới từ từ thưa dần. Nhận vọng tưởng hư ảo làm tâm ḿnh là mê lầm, biết vọng tưởng hư dối không thật là tỉnh giác. Lối tu này là dùng “cái dụng của trí để phá si mê”, chớ không có pháp ǵ dùng để đè bẹp, nên nói “pháp an tâm mà không có pháp”. Khi hết si mê vọng tưởng lặng th́ trí dụng cũng dừng, như trong muời mục chăn trâu, khi trâu mất th́ người chăn cũng không c̣n. Trí dụng hết đối trị, liền hội nhập trí thể.

* Với Lục Tổ, chúng tôi ứng dụng sáu căn không dính mắc sáu trần làm hướng tiến tu. Đó là câu “bất ưng trụ sắc sanh tâm…” trong kinh Kim Cang được Ngũ Tổ giảng cho Lục Tổ. Nhưng làm sao căn không dính trần? Đương nhiên phải dùng Trí tuệ Bát-nhă quán chiếu, thấy các pháp duyên hợp hư dối như huyễn như hóa. V́ thế trong kinh Pháp Bảo Đàn, sau phẩm Hành Do ban đầu là đến phẩm Bát-nhă. Nhờ Trí tuệ Bát-nhă soi rọi thấy rơ các pháp duyên sanh, không có chủ thể (vô ngă), không cố định (vô thường) nên tâm không nhiễm trước sắc… do đó căn, cảnh không dính mắc nhau. Căn, cảnh không dính mắc nhau là Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ, đó là chủ trương của Lục Tổ.

Lại có một cách khác, nếu hành giả kiến tánh như Lục Tổ, hằng sống với Thể tánh bất sanh bất diệt của ḿnh th́ c̣n ǵ bận bịu với vọng tưởng hư dối, với sáu trần giả hợp. Đi đứng nằm ngồi không lúc nào rời Tự tánh chính ḿnh. Được thế th́ ung dung tự tại, nên nói “đói ăn khát uống”.

* Đến Sơ tổ Trúc Lâm, trong bài kệ “Câu Có Câu Không”, đoạn thứ tư nói “nón tuyết giày hoa, ôm cây đợi thỏ” là tinh thần Bát-nhă của Lục Tổ. Các pháp hư giả như nón tuyết, như đôi giày bằng hoa, tạm có rồi tan mất, mới thấy đẹp rồi héo xàu, có ǵ lâu bền. Nếu chấp giữ nó là người ngu, như kẻ “ôm cây đợi thỏ”. Toàn thể pháp đối đăi đều không thật, do phương tiện bày lập, giống như dây sắn dây b́m, một phen cắt đứt chúng mới là an vui tự tại. Đấy là tinh thần hai câu kết của bài kệ “cắt đứt sắn b́m, đó đây vui thích”. Vừa dấy niệm là đối đăi, vừa thốt lời là đối đăi, nếu dứt hết đối đăi th́ c̣n niệm nào để khởi, c̣n lời ǵ để nói. Đây là hằng sống thật với thiền.

Phần sau ở hai câu kệ “trong nhà có báu thôi t́m kiếm, đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền”, là h́nh ảnh Lục Tổ thốt lên “đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh…”. Thấu triệt tánh ḿnh như thấy ḥn ngọc quí vô giá có sẵn trong nhà, c̣n ǵ phải t́m kiếm đâu xa. Thấy tánh ḿnh thanh tịnh, chẳng sanh chẳng diệt, so với thân vô thường tạm bợ và tâm vọng tưởng hư ảo th́ thân tâm này c̣n có giá trị ǵ. Trong không chấp thân, không chấp vọng tưởng làm ḿnh, ngoài đối cảnh không c̣n dính mắc, chính đây là chủ yếu của Thiền tông, cũng là cội nguồn của Phật pháp. Ở đây chúng tôi lấy “Đối cảnh không tâm” làm tiêu chuẩn tu hành. Không tâm là không tâm vọng tưởng chạy đuổi theo ngoại trần, chớ chẳng phải không tâm là vô tri vô giác như cây gỗ. Không tâm hư ảo sanh diệt mà vẫn có tâm hằng giác hằng tri, bất sanh bất diệt. Đây là chỗ giải thoát sanh tử của người tu Phật.

Nhị tổ Huệ Khả sau khi ngộ đạo vẫn được Tổ Đạt-ma giới thiệu bốn quyển kinh Lăng-già để ấn tâm. Lục tổ Huệ Năng nghe giảng kinh Kim Cang ngộ đạo. Thế là đủ minh chứng Thiền tông không rời Kinh, v́ Thiền là tâm của Phật, Kinh là miệng của Phật. Đức Phật tâm miệng không khác th́ Thiền và Giáo làm sao tách rời được. Cho nên chúng tôi chủ trương “Thiền, Giáo đồng hành”.

Để thấy rơ nét lối dung hợp pháp tu qua ba vị Tổ trên, chúng tôi cô đọng lại bằng những lối tu:

1- Biết vọng không theo, v́ vọng tưởng là những tâm niệm hư ảo.

2- Đối cảnh không tâm, v́ nó là tướng duyên hợp giả dối tạm bợ.

3- Không kẹt hai bên, v́ đối đăi là không thật.

4- Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, v́ giả là luân hồi, thật là giải thoát.

Đây là bốn phương tiện chúng tôi tạm lập để hướng dẫn người tu. Tùy theo căn cơ tŕnh độ nhanh chậm, cao thấp của hành giả mà lối ứng dụng có khác. Cũng có thể bốn lối tu này, hành giả linh động ứng dụng theo thứ tự từ pháp thứ nhất đến pháp thứ tư để tu hành cũng tốt. Những nét cô đọng trên là kết thúc bài này của chúng tôi.


 

YẾU CHỈ THIỀN TÔNG

I. MỞ ĐỀ.

Thiền tông có một lối chỉ dạy quá độc đáo, khiến độc giả đọc sách thiền phải ngơ ngác, không t́m ra manh mối nghĩ suy, như người vớ tay vào tấm vách sắt không có chỗ để bám. Thật t́nh chủ yếu Thiền tông không muốn người học mắc kẹt vào ngôn ngữ bên ngoài, cũng không rơi vào tâm suy lự bên trong. Thiền sư chỉ thẳng, người học phải trực giác trực nhận, vừa mắc kẹt ngôn ngữ đă cách xa ngàn dặm, rơi vào suy tư đă cách xa bằng mấy năm ánh sáng. Phút giây tham vấn giữa Thiền khách với Thiền sư là phút xổ cờ khai trận. Sự đối đáp phải nhanh như điện chớp lửa nháng, vừa trầm ngâm suy tư là ăn đ̣n đuổi ra. Cho nên trong khi đối đáp như thế, nhận được liền nhận, không nhận được th́ về không, chớ không có thái độ lưng chừng, nửa hiểu nửa không. Mọi hành động, ngôn ngữ của Thiền sư chỉ dạy đều nhằm chỉ thẳng Bản tâm của chúng ta. Không quay về ḿnh tự nhận, chạy theo ngôn ngữ các ngài là bị các ngài lừa. Bản tâm là cái sẵn có nơi chúng ta, bởi do vọng chấp nên quên mất nó. Hiệu dụng của Thiền sư là phá chấp, cốt khiến chúng ta nhận ra Bản tâm của chính ḿnh. V́ thế, Thiền sư thường nói “ta không có một pháp cho người, chỉ tháo chốt nhổ đinh cho họ thôi”. Chúng ta mang quan niệm cầu pháp học đạo đến với các ngài, rốt cuộc ôm lấy một mối thất vọng lớn lao. Chúng ta cần phải có quan niệm chính xác hơn, “Học thiền là học tâm”, ngoài tâm không có thiền nào để học. Thế mới khỏi kinh ngạc khi nghe lời tuyên bố dưới đây của Tổ Bồ-đề-đạt-ma.

II. CHỦ ĐÍCH THIỀN TÔNG.

Khi sang Trung Quốc, Tổ Bồ-đề-đạt-ma dơng dạc tuyên bố về pháp thiền này rằng: “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, đă nêu rơ chủ đích của Thiền tông.

Văn tự kinh điển là Giáo tích chưa phải Giáo thể. Giáo tích là dấu chân của giáo pháp, Giáo thể là nguyên h́nh của giáo pháp. Ví như người t́m voi thấy được dấu chân voi, tuy biết được hướng đi của nó, song chưa thấy nguyên h́nh của nó. Nếu người t́m voi chỉ biết nghiên cứu dấu chân voi rồi hài ḷng thỏa măn nơi đó, th́ ngàn đời cũng không thấy được con voi. Đây là bệnh của học giả thời đại xưa kia và hiện nay. Thiền tông không nỡ để cho chúng ta sa lầy nơi dấu chân voi, cốt dắt tay chỉ thẳng cho chúng ta thấy nguyên h́nh con voi. Do đó mới tuyên bố “chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lư”. Nói “truyền ngoài” thật sự nào có ngoài. Nếu có pháp truyền ngoài kinh điển, đó là pháp ngoại đạo, đâu phải Phật giáo. V́ kinh điển là tấm bản đồ vẽ dấu chân và hướng đi của voi, nương đó người t́m voi t́m tận đến con voi là đạt được mục đích. Nếu người t́m voi nương bản đồ t́m thấy tận con voi, với người nhờ kẻ khác dắt tay chỉ thẳng con voi, cả hai đều đạt mục đích như nhau. V́ thế câu “chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lư” mang sẵn tính chất trị bệnh và đầy đủ tinh thần chỉ bày sự thật. Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thấy đạo qua mọi phương tiện, đừng mắc kẹt phương tiện mà quên đạo.

Chính v́ thế, nên nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Đạo không phải cái ǵ xa xôi huyền diệu, chính là Tâm thể của chúng sanh. Nếu người nhận ra Tâm chân thật của chính ḿnh, sự tu hành không sớm th́ chầy cũng sẽ thành Phật. Tâm chân thật này cũng gọi là Tánh giác hay Phật tánh. Thấy được Tánh giác th́ thành Phật không nghi, v́ đă biết Phật nhân nhất định sẽ đến Phật quả. Chỉ cho người nhận được Bản tâm ḿnh là chủ đích của Thiền tông. Thế nên, Mă Tổ sai Thiền sư Tự Tại hiệu Phục Ngưu mang thơ sang cho Quốc sư Huệ Trung. Đến nơi, Quốc sư hỏi: “Gần đây Mă đại sư dạy đồ chúng thế nào?” Phục Ngưu thưa: “Tức tâm tức Phật.” Quốc sư bảo: “Là ngữ thoại ǵ?” Giây lâu lại hỏi: “Ngoài cái đó lại c̣n ǵ dạy chúng?” Phục Ngưu thưa: “Phi tâm phi Phật; bất thị tâm, bất thị Phật, bất thị vật.” Quốc sư bảo: “Vẫn c̣n so sánh chút ít.” Phục Ngưu thưa: “Mă đại sư dạy thế ấy, chẳng biết dạo này Ḥa thượng dạy chúng thế nào?” Quốc sư bảo: “Ba điểm như ḍng nước, uốn cong tợ chiếc liềm.” (Tam điểm như lưu thủy, khúc tợ ngăi ḥa liêm.) Thế th́ Mă Tổ dạy chúng cốt nhận ra tâm ḿnh là Phật, Quốc sư Huệ Trung dạy chúng cũng tại một chữ tâm. Chỗ dạy của hai Ngài đều nằm gọn trong câu “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.

Những sắc thái giáo ngoại biệt truyền ứng dụng đầy đủ qua sự đối đáp của các Thiền sư, được đơn cử dưới đây:

Thiền sư Vô Nghiệp đến tham vấn Mă Tổ, Sư lễ bái qú thưa: “Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe thiền môn ‘tức tâm là Phật’ thật chưa hiểu thấu?” Mă Tổ đáp: “Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.” Sư hỏi: “Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Mă Tổ bảo: “Đại đức đang ồn, hăy đi! Khi khác lại.” Sư vừa đi ra, Mă Tổ gọi: “Đại đức!” Sư xoay đầu lại. Mă Tổ bảo: “Là cái ǵ?” Sư liền lănh hội.

Thiền sư Linh Mặc đến tham vấn Thạch Đầu, tự ước hẹn: “Nếu một câu khế hợp th́ ở, chẳng hợp liền đi.” Khi thưa hỏi vẫn không khế hợp, Sư bèn ra đi. Thạch Đầu theo sau đến cửa ngoài, liền gọi: “Xà lê!” Sư xoay đầu lại. Thạch Đầu bảo: “Từ sanh đến tử chỉ là cái ấy, xoay đầu chuyển năo làm ǵ?” Sư liền đại ngộ.

Qui Sơn dạy chúng: “Bậc cao sĩ đi hành cước cần phải ở trong thanh sắc mà ngủ nghỉ, trong thanh sắc mà nằm ngồi mới được.” Sơ Sơn bước ra hỏi: “Thế nào là câu chẳng rơi trong thanh sắc?” Qui Sơn dựng cây phất tử lên. Sơ Sơn thưa: “Đây là câu rơi trong thanh sắc.” Qui Sơn trở về phương trượng.

Thiền sư Huệ Tịch đến tham vấn Nham Đầu. Nham Đầu thấy liền dựng cây phất tử lên. Sư trải tọa cụ. Nham Đầu đưa phất tử lại sau lưng. Sư vắt tọa cụ lên vai đi ra. Nham Đầu bảo: “Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông thâu.”

Thiền sư Huệ Tịch về thăm thầy là Qui Sơn Linh Hựu. Qui Sơn hỏi: “Con đă xưng là thiện tri thức, có biện được những người các nơi đến: biết có hay chẳng biết có, đă kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, nghĩa học hay huyền học, thử nói xem!” Sư thưa: “Con có kinh nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến, liền dựng cây phất tử dậy, hỏi y: - Các nơi có nói cái này hay chẳng nói? Lại hỏi: - Ư Lăo túc các nơi thế nào?” Qui Sơn khen: “Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước.”

Qui Sơn lại hỏi: “Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang, không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có?” Sư thưa: “Con có chỗ kinh nghiệm.” Bỗng có vị Tăng đi ngang qua, Sư gọi: “Xà lê!” Vị Tăng xoay đầu lại. Sư thưa: “Bạch Ḥa thượng, kẻ này là nghiệp thức mênh mang, không gốc có thể tựa.” Qui Sơn khen: “Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa.”

Có người đến hỏi đạo, liền dựng cây phất tử lên, hoặc đưa một vật ǵ khác lên cũng thế, đều là “nanh vuốt trong tông môn từ trước”. Đó là h́nh ảnh “Đức Phật đưa cành hoa sen lên, Tổ Ca-diếp cười chúm chím” trong hội Linh Sơn. Thuật kêu liền dạ, quả là “một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa”. Chính là chỗ Tổ A-nan hỏi Tổ Ca-diếp: “Ngoài chiếc y kim lan, Thế Tôn c̣n truyền cái ǵ cho sư huynh?” Tổ Ca-diếp gọi: “A-nan!” A-nan: “Dạ!” Tổ Ca-diếp bảo: “Cây phướn trước chùa ngă.” Ngài liền ngộ đạo.

Hai diệu thuật này thường được ứng dụng nhiều nhất trong Thiền môn. Nó là h́nh ảnh linh động và cổ truyền nhất, cũng là hiện thân của “Giáo ngoại biệt truyền”. Trong đây không t́m ra được câu nào có tính cách đạo lư hết. Những người quen sống với nghĩa giải, không sao chấp nhận được. Song với bậc xuất cách, nhân đây liền ngộ đạo. V́ thế, người ta nh́n vào Thiền tông dường như có cái ǵ bí mật lạ lùng không thể nào hiểu nổi.

III. YẾU CHỈ THIỀN TÔNG HAY CỐT TỦY KINH ĐIỂN.

Những câu nói bí hiểm, những hành động thần tốc của Thiền sư đều v́ chỉ một việc rất khó chỉ, nói một việc rất khó nói. Trong cái bất thần khó khăn ấy, người học nhận được là ngộ đạo. Thiền khách đến tham vấn với Thiền sư có ngôn ngữ hành động kỳ đặc, gọi là tham “hoạt ngữ” (lời nói sống). Ngược lại, những Thiền sư nói ra có ư thú c̣n suy nghĩ được, gọi là “tử ngữ” (lời nói chết). Cho nên Thiền sư Đức Thành (Hoa Đ́nh Thuyền Tử) nói: “Câu nói hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa.” Một câu nói ra có ư vị, có nghĩa lư là cây cọc cột chặt con lừa muôn kiếp. Chính những kinh điển Đại thừa cũng thế, người đọc thấy như những “mật ngữ”, những h́nh ảnh huyền hoặc ǵ đâu đâu, thiếu sự dễ dàng thực tế. Song với hạng căn cơ bén nhạy đọc đến liền thấy đạo lư siêu thoát, chân lư hiện tiền. Như có Thiền khách đến hỏi: “Thế nào là ư Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Triệu Châu đáp: “Cây bá ở trước sân.” Thiền khách hỏi Động Sơn Thủ Sơ: “Thế nào là Phật?” Đáp: “Ba cân gai.” Những câu đáp này là “hoạt ngữ”. Trong kinh Đại thừa cũng có vô số lối đáp khó khăn chẳng kém. Kinh Kim Cang, ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: “Kẻ thiện nam thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao an trụ, làm sao hàng phục tâm ấy?” Phật bảo Tu-bồ-đề: “Các vị đại Bồ-tát nên như thế hàng phục tâm ấy, có tất cả loài chúng sanh, hoặc noăn sanh, hoặc thai sanh, hoặc thấp sanh, hoặc hóa sanh, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng, hoặc chẳng không tưởng, ta đều khiến vào Vô dư Niết-bàn mà diệt độ; như thế diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật không có chúng sanh được diệt độ…” Qua câu đáp này, thử hỏi chúng ta biết làm sao hàng phục được tâm? Kinh Pháp Hoa trong phẩm Như Lai Thọ Lượng có đoạn nói: “…Thiện nam tử! Thật ta thành Phật đến nay đă vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp… Từ đó nhẫn lại, ta thường ở cơi Ta-bà này giáo hóa, cũng ở trong trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cơi nước khác, dắt dẫn lợi ích chúng sanh…” Chúng ta c̣n ai không biết đức Phật Thích-ca giáng sanh ở Ấn Độ, thọ tám mươi tuổi nhập Niết-bàn. Thế mà kinh nói như vậy làm sao tin được. Do lối nói bí hiểm này khiến kinh điển Đại thừa trở thành huyền hoặc mê tín.

Nay giải thích về Yếu chỉ Thiền tông thật là một điều khó khăn vô kể, v́ chỗ không được giải thích mà đem ra giải thích. Nếu chúng tôi không giải thích toạc ra th́ độc giả cũng thấy khó khăn như các quyển sách thiền xưa. Bằng giải thích trắng ra, chúng tôi mắc phải cái lỗi “tử ngữ”, đă cột độc giả vào chỗ ư tứ so lường. Song với thời đại lư giải này, không cho phép chúng tôi làm theo người xưa, mà buộc ḷng phải giải thích. Nói yếu chỉ Thiền tông là “Kiến tánh khởi tu”.

A. KIẾN TÁNH.

Trong bài tụng Vô tướng của Lục Tổ, mở đầu đă nói: “Thuyết thông và tâm thông, như mặt nhật trong không; chỉ truyền pháp kiến tánh, ra đời phá tà tông…” Chữ kiến tánh có nghĩa là ngộ đạo hay giác ngộ. Song ngộ đạo có chia giải ngộ và chứng ngộ, giác ngộ có chia phần giác và toàn giác. Chữ kiến tánh này tương ưng với nghĩa giải ngộ và phần giác. Cho nên người kiến tánh chỉ gọi là Thiện tri thức hay là Tổ.

Song chữ Kiến tánh dễ khiến người ta hiểu lầm. Bởi mọi người cứ đinh ninh rằng kiến là thấy bằng mắt. Phàm cái ǵ mắt thấy được đều là đối tượng ngoài mắt, có h́nh có tướng. Nếu Tánh giác của chính ḿnh mà mắt ḿnh thấy được th́ không phải của ḿnh nữa, v́ đă thuộc về đối tượng. Hơn nữa, mắt chỉ thấy cái có h́nh tướng, Tánh giác không h́nh tướng làm sao mắt thấy được? Chẳng những thấy mà khởi hiểu tánh ḿnh cũng không được. V́ Tánh giác là cái năng tri, nếu bị hiểu th́ đă biến thành sở tri. Thế nên các Thiền sư, khi bị hỏi đến đó, liền nói “ta không hiểu”, hoặc Thiền khách khi trả lời chẳng hiểu, các ngài bảo “không hiểu là tốt”. Vừa dấy niệm t́m thấy tánh th́ đă cách xa, nên nói t́m th́ không gặp. Muốn đến nó th́ không thể đến, nên nói “thú hướng chân như tổng thị tà”. Chỉ phải thầm hội, khéo nhận ra mà thôi. Ví như con mắt chỉ thấy được cảnh, mà không thấy được con mắt. Muốn biết ḿnh có mắt sáng th́ khéo nhận khi trông thấy cảnh. Nhân cảnh biết ḿnh có mắt sáng, như nói “kiến sắc minh tâm”. Người học đạo mà không kiến tánh là kẻ ở ngoài cổng. Người tu theo Phật mà không được phần giác là kẻ đứng trong đêm đen. Kẻ ở cổng ngoài, đứng trong đêm đen th́ làm sao thưởng thức được mùi vị của đạo, nếu có cố gắng tu cũng chỉ tu trong mờ mịt mê tối. V́ thế, Thiền tông chủ trương “Kiến tánh khởi tu”. Do đó thuở xưa, các Thiền giả phải đi hành cước tham vấn trải một hai mươi năm, bao giờ ngộ đạo mới trụ. Thấy đạo rồi, tu hành dụng công ít mà kết quả nhiều. Ngược lại, người chưa thấy đạo tuy dụng công nhiều mà kết quả ít. Chính v́ thế, sự tu hành có chia ra đốn (nhanh) tiệm (thứ lớp) khác nhau.

Nói đến kiến tánh là nói đến giác ngộ, có giác ngộ là đối với vô minh. Muốn thông suốt chỗ giác ngộ, trước phải hiểu tường tận gốc vô minh.

1. Vô minh: Vô minh là mờ tối, là mê lầm, có chia ba bậc:

a) Vô minh thượng: Ngu si chấp ngă.

Trong tam độc thông thường nói tham, sân, si. Cần đặt đúng vị trí của nó, phải nói si, tham, sân. Si là si mê u tối, ngay nơi thân này do si mê ngu tối chúng ta chấp chặt một cách sai lầm. Chấp sai lầm có hai lớp, chấp thân làm ngă (ḿnh), chấp tâm làm ngă (ḿnh).

Chấp thân này làm ngă là bệnh thông thường của phàm phu. Tất cả người thế gian không ai chẳng chấp thân này là ngă. Bởi chấp thân này làm ngă nên thấy nó thật, nó lâu dài, nó cao cả quí báu, rồi đắm mê tham lam v́ nó. Thân của ta mà bị chê bai, bị xúc phạm liền nổi sân lên, mặc dù sự chê bai xúc phạm ấy rất hợp lư và xác đáng. Ví như thân ta đen điu thấp xấu, có người chê anh chàng “lùn xấu”, liền nổi giận. Thân ta hôi hám bẩn thỉu, nếu có người nói anh chàng “nhớp nhúa” liền nộ khí xung thiên. Ngược lại, thân ta xấu mà có ai khen là “đẹp trai” liền vui vẻ tươi cười. Thân ta nhớp mà có người khen là “sạch sẽ” liền thích thú. Nơi thân này càng được khen, chúng ta càng tham chấp rồi sanh cống cao ngă mạn. Nơi thân này bị chê, chúng ta sanh sân hận oán thù. Bởi do si mê chấp thân nên sanh tham trước, tưởng nó chân thật, nó lâu dài, nó sang quí. Ngược với ḷng tham, liền nổi cơn sân hận thù hằn. Do si mê về thân, mọi sự thật chung quanh thân không bao giờ chúng ta thừa nhận. Đă quí thân ta th́ quí luôn những vật sở hữu của ta. Thế nên những nhu cầu về vật chất của bản thân, chúng ta lúc nào cũng muốn thỏa thuê sung túc. Đó là cái nhân khởi ḷng tham về vật chất. V́ tham vật chất, nên mọi người đua tranh giành giật khổ sở cả đời. Được th́ tham lại thêm tham, mất th́ tham đổi ra thù hận. Do đó, tạo nghiệp trả quả kiếp kiếp đời đời. V́ tham thân nên khi thân sắp hoại, người ta sanh kinh hoàng sợ hăi. Nỗi lo sợ mất thân là sự khủng khiếp nhất của con người. V́ thế, tiếng “chết” coi như một cấm kỵ không bao giờ dám dùng đến. Đă sợ mất thân, khi thân này sắp mất, “cái niệm t́m thân” bùng dậy mănh liệt. Đó là cái nhân dẫn đến thân sau. Bởi si mê chấp thân nên thân trước mất t́m đến thân sau, thân sau mất t́m thân sau nữa, cứ thế măi măi sanh tử luân hồi bất tận.

Chấp tâm làm ngă cũng là bệnh thông thường của mọi người. Mọi sự phân biệt suy tư nghĩ tưởng cảm thọ, cái nào cũng nhận làm ngă hết. Tôi phân biệt thế này, tôi suy tư thế kia, tôi nghĩ tưởng thế nọ v.v… Thừa nhận những cái ấy là tâm của chính ḿnh. Chấp cái suy tư nghĩ tưởng… làm ḿnh rồi, lúc nào cũng cho nó là đúng, tận lực bảo vệ nó. Ai chấp nhận nó th́ chúng ta thương, ai phản đối nó th́ chúng ta giận. Song cái suy tư nghĩ tưởng của ta, không chắc đă trùng hợp với cái suy tư nghĩ tưởng của kẻ khác. V́ mỗi chúng ta, môi trường sanh hoạt khác nhau, vọng tưởng do huân tập mà có. Đă không trùng hợp mà mỗi bên đều cho là đúng th́ sự tranh chấp đối kháng không thể nào tránh được. Sự đối kháng của suy tư nghĩ tưởng… được mệnh danh là ư thức hệ, tuy nhỏ nhiệm song mănh liệt và khốc hại hơn đấu tranh vật chất. Cố chấp bảo vệ ư niệm nghĩ tưởng của ḿnh là bệnh chung của nhân loại. Do đó, mọi người sống chung nhau mà ít ai chịu chấp nhận nhau. Đă không chấp nhận nhau th́ làm ǵ có t́nh thương chân thật đối với nhau. Đây là mối đau khổ muôn kiếp của con người không sao giải tỏa nổi. Từ cái si mê chấp suy tư nghĩ tưởng… làm ḿnh, khởi lên cái tham lam bảo thủ ư kiến ḿnh, nổi sân chống đối mọi ư kiến khác, tạo nên mọi thù hằn đau khổ cho nhau đời đời kiếp kiếp.

Tóm lại, cái si mê chấp thân làm ngă tạo thành thói xấu thích khen ghét chê, tham sống sợ chết, tham mê ngũ dục gây nghiệp thọ khổ không cùng. Cái si mê chấp tâm làm ngă gây nên bảo thủ ư kiến, tranh chấp đối kháng, làm tan biến t́nh thương, đưa nhân loại đến chỗ thù hằn đối địch. Trong kinh nói: “Do Hoặc tạo Nghiệp, do Nghiệp thọ Khổ, quanh quẩn không cùng.” Hoặc tức là Vô minh thượng này vậy.

b) Vô minh trung: Niệm khởi.

Trong tâm chúng ta bất thần dấy niệm là đă che mờ Tánh giác nên gọi là vô minh. Tổ Lâm Tế nói: “Chỗ ông dừng một niệm là cây bồ-đề, ông một niệm không thể dừng được là cây vô minh.” Vô minh là mờ tối, Bồ-đề là Tánh giác. Niệm dấy lên làm mờ tối Tánh giác, nếu dấy măi không dừng th́ Tánh giác bị khuất lấp, nên nói “cây vô minh”. Vọng niệm lặng yên th́ Tánh giác bày hiện, vọng niệm càng lặng th́ Tánh giác càng tỏ, nên nói “cây bồ-đề”. Ví như cái gương sáng, vừa có hạt bụi bám vào là đă mờ đi một tí. Nếu bụi cứ chồng chất bám vào th́ ánh sáng mặt gương bị mờ tối hẳn. Ngược lại, lau đi một tí bụi th́ ánh sáng hiện ra một phần, lau sạch tất cả bụi th́ gương hoàn toàn sáng. Cũng tương tự như thế, niệm khởi lên chúng ta liền theo niệm mà quên Tánh giác. Cho nên trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật ví dụ “chàng Diễn-nhă-đạt-đa soi gương quên đầu” là ư này. Nếu thừa nhận đầu mặt trong gương là ḿnh, nhất định đă quên mất đầu mặt thật hiện hữu này. Chúng ta thừa nhận niệm khởi là tâm ḿnh, nhất định quên mất Tâm chân thật hiện hữu của chúng ta. Bởi nhận lầm như thế, nên gọi là vô minh. Cái vô minh này tế nhị hơn vô minh ở trên, v́ vừa dấy niệm đă là vô minh, không đợi có suy tư nghĩ tưởng… mới là vô minh.

c) Vô minh hạ: Mê Tánh giác.

Mê là quên Tánh giác, gọi là vô minh. Bởi quên Tánh giác mới thừa nhận vọng niệm là ḿnh. Như có người đi đến nhà quen, mà quên hẳn ông chủ nhà, nên thấy khách trong nhà nhận lầm là ông chủ. Khi đă nhận lầm khách làm chủ rồi th́ chủ và khách cả hai đều hỗn tạp. Bởi quên đi mới có nhận lầm, đă nhận lầm th́ muôn ngàn thứ lầm khác tiếp nối phát sanh. Ví như chúng ta v́ quên đường mới đi lạc đường, đă đi lạc đường th́ đi chừng nào càng lạc xa chừng ấy. Cái khổ lang thang không t́m ra lối cũ trở về, gốc từ cái quên ban đầu mà ra. Cái khổ luân hồi của chúng ta hiện giờ cũng v́ quên Tánh giác tạo nên. V́ thế mê là cái vô minh căn bản, chính nó là chủ của sanh tử luân hồi, là nguồn gốc của mọi cái sai lầm trên.

2. Giác ngộ: Giác ngộ là tên khác của Trí tuệ Bát-nhă. Có trí tuệ mới biết chỗ sai lầm, nhận ra điều chân thật. Trí tuệ là ngọn đuốc sáng soi phá vô minh tối tăm. Song giác ngộ cũng có thứ bậc: giác ngộ hạ, giác ngộ trung và giác ngộ thượng.                     

a) Giác ngộ hạ: Giác ngộ hạ là vô ngă đối phá vô minh thượng. Do vô minh lầm chấp thân tâm này làm ngă, rồi tạo nghiệp thọ khổ. Giờ đây, chúng ta dùng trí tuệ soi xét xem thân tâm này có phải thật là ngă không?

Về thân, trước do tinh cha huyết mẹ kết hợp, cộng với thần thức chung họp thành thai. Bào thai lớn lên nhờ sự nuôi dưỡng bằng máu huyết và hơi ấm của bà mẹ. Khi thân này ra khỏi thai mẹ, được hít thở khí trời, bú sữa mẹ, từ từ biết ăn uống, dần dần lớn lên. Bản chất đầu tiên của thân này, do ḥa hợp tinh huyết và thần thức, tức là do duyên mà thành. Thân này lớn lên là do hít thở ăn uống… mà tồn tại. Theo chỗ Phật dạy, thân này sống c̣n là do tứ đại bên trong hợp lại và tứ đại bên ngoài nuôi dưỡng. Nếu có tứ đại bên trong mà thiếu tứ đại bên ngoài cũng không sống, có tứ đại bên ngoài mà thiếu tứ đại bên trong cũng không thành thân. Như vậy sự thành h́nh và sống c̣n của thân này là do tứ đại trong ngoài chung nhau ḥa hợp. Đă chung nhau ḥa hợp th́ cái ǵ là chủ mà chúng ta chấp làm ngă? Hơn nữa, sự sống c̣n hiện nay, chúng ta từng phút giây vay mượn tứ đại bên ngoài; một phút giây không vay mượn là đă tử vong. Song chúng ta lại mê lầm, khi muợn tứ đại của trời đất đem vào thân, liền chấp nhận cái đó của ḿnh. Sự chấp ngang ấy mà tự cho là hợp lư. Ví như chúng ta có cái nhà trống, đến hàng xóm mượn bàn, ghế, giường, tủ… để trang hoàng. Vừa mang vào nhà, chúng ta liền tuyên bố rằng “đây là đồ của tôi”, thử hỏi mọi người nghe thấy có chấp nhận được không? Huống là thân này, lỗ mũi hít thở không khí, khi không khí c̣n ở ngoài là của trời đất, vừa hít vào mũi liền nhận ngang rằng “hơi của tôi”. Miệng uống nước, ăn vật thực cũng thế, nước c̣n ở ngoài là của thiên nhiên, vừa nuốt qua khỏi cổ liền nói “nước của tôi”; thức ăn c̣n ở ngoài là của người này kẻ nọ, vừa nuốt khỏi cổ liền nói “những chất của tôi”. Hơi tạm mượn không đầy một phút liền trả, khi trả ra ngoài là của ai? Nước tạm mượn vài tiếng đồng hồ cũng trả, khi trả ra là nước của ai? Vật thực mượn trong một ngày rồi cũng trả, trả ra là vật thực của ai? Quả là chúng ta mắc phải hai cái lầm lớn: lầm thứ nhất, thân ḥa hợp vay mượn không có chủ, lầm nhận là ta (chủ); lầm thứ hai, chỉ trong phút giây không vay mượn là chết ngay, lầm nghĩ ḿnh sống lâu dài. Bởi hai cái lầm này, chúng ta chấp thân một cách sai lạc đáng thương. Trí tuệ phân tích rơ ràng không cho phép chúng ta chấp ngang như vậy, phải thấy rơ rằng thân này vô ngă (không chủ), thân này vô thường (chẳng lâu dài). Thế là chúng ta thấy đúng sự thật, biết đúng chân lư. Do chỗ thấy đúng biết đúng, phá được cái ngu si chấp ngă về thân.

Về tâm, thừa nhận cái suy tư, nghĩ tưởng, phân biệt, cảm thọ làm ngă. Tôi suy tư, tôi nghĩ tưởng… Song cái suy tư, nghĩ tưởng… đổi thay luôn. Khi có suy tư nói là tôi suy tư, suy tư lặng mất, khởi nghĩ tưởng th́ ai nghĩ tưởng? Chẳng lẽ mỗi tâm trạng khác nhau, mà cái nào cũng là tôi hết. Tôi là chủ, tâm trạng khá nhiều, cái nào cũng là chủ hết sao? Nếu cái nào cũng là chủ th́ quyền năng trong ấy bị hỗn độn. Phương chi những tâm trạng này, khi dấy lên dường như có, cần t́m lại nó th́ vắng bóng mất h́nh. Cái có một cách mờ mờ ảo ảo mà cho là ḿnh (ta), thật là tự ḿnh phủ nhận ḿnh. Những khi chúng ta ngồi chơi, hoặc đi bách bộ, không có nghĩ tưởng chi cả, lúc đó không có ḿnh (ta) hay sao? Cho đến cả đêm, chúng ta ngủ không có mộng, khi ấy không có ḿnh (ta) rồi chăng? Đây là do ngu si lầm chấp cái không thật, tưởng là thật, cái không chủ, tưởng là chủ. Ở đây, chúng ta cần phải dùng trí tuệ nhận thức rơ ràng, để thấy như thật và biết đúng như thật. Thấy rơ nó có nhiều thứ, biết chắc nó không phải chủ (ḿnh). Tướng trạng của nó hư ảo, quyết định nó không phải thật. Cái không phải chủ, không phải thật, khờ dại ǵ nhận nó làm ḿnh (ngă). Thấy đúng và sống đúng như vậy, gọi là giác ngộ tâm vô ngă.

Tóm lại, thân này có tướng mạo, có sanh diệt, cho nên thuộc vô thường. Tâm tuy không có tướng mạo thô, song có trạng thái tế luôn luôn sanh diệt, cũng thuộc vô thường. Thân tâm đều là tướng duyên hợp, không có chủ nên vô ngă. Bởi vô thường, nên biến hoại là khổ, biến hoại đến diệt tận là không. Vô thường, khổ, không và vô ngă là tinh ba của các kinh A-hàm trong Hán tạng, Nikaya trong Pàli tạng. Đạt được lư vô thường, khổ, không, vô ngă ngay nơi thân tâm này, đó là người giác ngộ bậc hạ. Do thấy thân tâm này không phải ngă (ta) nên mọi sự chấp về thân tâm đều xả bỏ, mọi sự do thân tâm tạo nghiệp cũng dừng lại, quả khổ đau do thân tâm gây nên không c̣n nữa. Thế là do giác ngộ mà dứt khổ đau. Cái giác ngộ này cũng gọi là giác ngộ ngũ uẩn phi ngă của Bát-nhă.

b) Giác ngộ trung: Giác ngộ trung là vô niệm, đối phá vô minh trung. Nơi vô minh trung do niệm khởi làm mờ Tánh giác. Ở đây thấy rơ niệm là hư ảo không thật, là bóng dáng của ngoại trần chớ không phải tâm ta. Không phải tâm ta, nên ta không nhận nó và theo nó. Nó là cái làm rối bời, làm mờ tối Tánh giác của ta. Bất cứ niệm thiện niệm ác ǵ cũng đều là vô minh, v́ niệm nào dấy lên cũng che mờ Tánh giác. Ví như bụi rơi vào con mắt bị xốn, mạt vàng rơi vào con mắt cũng thế. Chỉ một thể rỗng lặng mới là chân thật. Ta phải nh́n thẳng thấy niệm khởi là không thật, nó là bóng dáng, nó là tạm bợ, thể nó là không. Niệm lặng mất, thể không hiện tiền là chân thật.

Đây ta hăy nghe câu chuyện Tổ Huệ Khả cầu pháp an tâm nơi Tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Huệ Khả thưa: “Tâm con không an, xin Thầy dạy cho phương pháp an tâm.” Tổ Đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Huệ Khả sửng sốt t́m lại không thấy tâm, thưa: “Con t́m tâm không được.” Tổ Đạt-ma bảo: “Ta đă an tâm cho ngươi rồi.” Tổ Huệ Khả liền tỉnh ngộ.

Niệm khởi là rối bời, là xao xuyến, mà chúng ta lầm chấp nó làm tâm ḿnh, cho nên có lúc nào thấy nó an đâu! Bởi tâm không an nên chạy cầu pháp an tâm. Diệu thuật của Tổ Đạt-ma bắt ta nh́n thẳng lại nó, thử xem nó có thật không mà cầu an. Biết nó không thật, nó tự tan biến lặng lẽ, đấy là an tâm. Chỗ niệm không khởi gọi là không tâm hay vô niệm. Đến đây không c̣n thấy có tướng mạo ǵ nên nói là không. Như kinh Bát-nhă nói “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” và nói “thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt…”, thấy rơ năm uẩn đều không, chữ thấy ở đây là nhận thấy. Nhận thấy tường tận thể xác và tâm hồn của thân này đều nằm gọn trong cái thể không. Thể không của các pháp này là không sanh, không diệt… Đạt được chỗ không tâm hay vô niệm mới nhận ra thể không ấy là chân thật, nên kinh Bát-nhă nói “không tướng là thật tướng”. Phần vật chất do duyên ḥa hợp không có Thật thể, phần tâm hồn cũng là tướng của bóng dáng sáu trần không có Tự thể, cả hai đều là thể không. Nơi thân tâm là tướng duyên hợp thể không, ngoại cảnh là tướng duyên hợp cũng thể không. Cả nhân gian đều là tướng duyên hợp nên tất cả đều là thể không. Thể không mà không phải không, nên gọi là chân không. Đây là tinh thần của sáu trăm quyển kinh Bát-nhă, cũng là cửa vào Thiền tông. V́ thế cửa Thiền thường gọi là cửa Không. Chính Lục Tổ bước vào cửa này bằng bài kệ:

Bồ-đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?

Bồ-đề vốn không cội
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai?

Bởi lẽ thấu triệt được thể không, Lục Tổ hạ hai câu “xưa nay không một vật, chỗ nào dính trần ai”. Đọc qua bài kệ này Ngũ Tổ mới cho Ngài vào thất. Cửa Không là cửa của Thiền tông, Tổ Huệ Khả do nhận được vọng niệm không thật, được pháp an tâm, Tổ Huệ Năng thấy rơ xưa nay không một vật, được cho vào thất. Tất cả những người tu theo Thiền tông trước kia, hiện nay và sau này thảy đều từ cửa ấy mà vào. Đây là bước giác ngộ đầu của người tu Thiền tông, là phần giác ngộ trung trong ba phần giác ngộ. Phần giác ngộ này gọi là tâm không hay vô niệm. Chính ông Bàng Long Uẩn ca tụng chỗ này bằng bài kệ:

Thập phương đồng tụ hội
Cá cá học vô vi
Thử thị tuyển Phật trường
Tâm không cập đệ qui.

Mười phương đồng tụ hội
Mỗi mỗi học vô vi
Đây là trường thi Phật
Tâm không được đậu về.

Chỉ cần tâm không là thi làm Phật được đậu. Các Thiền sư thường ca ngợi chỗ vô tâm, vô tâm là thấy đạo, vô tâm là Bồ-đề… Song cũng một Thiền sư nói:

Mạc vị vô tâm vân thị đạo
Vô tâm du cách nhất trùng quan.

Chớ bảo không tâm gọi là đạo
Không tâm c̣n cách một lớp rào.

Chỗ vô tâm ấy chỉ là vào cửa, chớ chưa thấy mặt thật ông chủ nhà. Cần vào thẳng trong nhà, nhận ra mặt thật của ông chủ nhà mới là cứu kính. Đó là bước sang cái giác ngộ thứ ba.

c) Giác ngộ thượng: Giác ngộ thượng là tri hữu, đối phá vô minh hạ. Bởi quên (mê) Tánh giác nên niệm khởi và chấp ngă sai lầm. Ở đây giác ngộ là nhận ra ḿnh có Tánh giác. Tánh giác là chân thật, là vĩnh cửu, là hiện hữu và cũng chính là Bản thể của ḿnh (Pháp thân). Tánh giác này mang nhiều tên tùy công dụng của nó. Về phương diện thường biết rơ ràng (liễu liễu thường tri) một cách chân thật, gọi là Chân tâm; Thật thể của thân tâm mà không tướng mạo, gọi là Pháp thân; hằng giác không mê gọi là Bồ-đề; vĩnh viễn không sanh không diệt, gọi là Niết-bàn; chân lư tuyệt đối không bàn nói đến được gọi là Đạo; Thể chân thật không đổi thay gọi là Chân như; cái ta chân thật ngàn đời gọi là Bản lai diện mục… Quên Tánh giác là mê, nhận ra ḿnh có Tánh giác là ngộ. Biết có Tánh giác của chính ḿnh gọi là tri hữu.

Một hôm, Tổ Huệ Khả bỗng nhiên đại ngộ, bạch với Tổ Đạt-ma: “Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.” Tổ Đạt-ma bảo: “Chớ rơi vào đoạn diệt.” Huệ Khả thưa: “Không rơi.” Tổ Đạt-ma hỏi: “Con làm thế nào?” Huệ Khả thưa: “Con thường biết rơ ràng, nói không thể đến.” Tổ Đạt-ma dạy: “Đây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hồ nghi.”

Tổ Huệ Năng khi được vào thất, Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang cho nghe. Giảng đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài đại ngộ kêu lên: “Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tánh ḿnh vốn không dao động! Đâu ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp!” Ngũ Tổ biết đă ngộ Tự tánh, bảo: “Chẳng biết Bản tâm, học pháp vô ích; nếu nhận Bản tâm ḿnh, thấy Bản tánh ḿnh, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật…”

Hai vị Tổ nổi bật nhất ở Trung Hoa, chỗ ngộ đạo nào có khác nhau. Tổ Huệ Khả nhận ra ḿnh có cái “thường biết rơ ràng, nói không thể đến”, được Tổ Đạt-ma xác nhận: “Đó là chỗ truyền của chư Phật, chớ có hồ nghi.” Tổ Huệ Năng nhận ra “tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh, tánh ḿnh vốn không sanh diệt…”, được Ngũ Tổ ấn chứng là bậc Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật. Hai vị Tổ đến đây mới thật sự tri hữu, tức là nhận ra Ông chủ thật của chính ḿnh. Nhận ra Ông chủ này là hoàn toàn kiến tánh, cũng gọi là đại ngộ. Giác ngộ ḿnh có Tánh giác và hằng sống với Tánh giác gọi là hằng giác, phá được cái mê từ vô thủy. Hằng giác tức là hằng nhớ Tánh giác, cũng gọi là niệm Chân như. Chỗ này là chủ yếu của Thiền tông, cũng là mục đích của các bộ kinh Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm.

Đă từ muôn ức kiếp, chúng ta quên bẵng Tánh giác của chúng ta, rồi đi lang thang khắp nẻo luân hồi, tạo nghiệp ngập trời, thọ khổ tràn biển. Nhân Phật, Tổ hay Thiện tri thức chỉ dạy, chúng ta nhận ra ḿnh có Tánh giác, liền ngưng bước luân hồi, dừng tay tạo nghiệp. Như người sực nhớ con đường về quê, không c̣n lê bước lang thang, mà phải hối hả trở về quê cũ, khúc nhạc hoàn hương êm ả nhẹ nhàng, âm ba trong veo cao vút, từ quê nhà vọng lại bên tai. Đấy là h́nh ảnh giác ngộ đi đến giải thoát của đạo Phật nói chung, của Thiền tông nói riêng.

d) Làm sao biết ḿnh có Tánh giác?

Tuy nhiên, Tánh giác nơi mọi chúng ta đều sẵn có, chỉ v́ chúng ta quên nó, lầm nhận các vọng niệm, vọng tưởng làm ḿnh. Một khi đă quên và đă lầm rồi, Tánh giác quả thật hiện hữu, mà chúng ta chưa bao giờ biết đến nó. Cả ngày chúng ta chấp nhận là ḿnh, chỉ căn cứ trên thân giả dối, tâm hư vọng mà thôi. Đến đây, chúng tôi bạo gan chỉ thẳng ra một cách tường tận và dễ dàng, để quí vị cùng nhận ra, đồng tu tập. Việc làm này của chúng tôi có thể có lợi ích, nếu người đọc có đủ can đảm, nồng nhiệt, bền chí và lâu dài. Nó sẽ vô ích, c̣n có thể có hại là khác, nếu người đọc có tánh cách khinh xuất, lơ là và tùy hứng. Chúng tôi ước mong độc giả sẽ không làm cho chúng tôi trở thành tội nhân.

Tánh giác và Chân tâm là hai tên mà một thể. Nhận ra Chân tâm là thấy Tánh giác. Muốn nhận ra Chân tâm chúng ta cần phải giải rơ xem tâm là cái ǵ? Thân chúng ta do đất, nước, gió, lửa ḥa hợp thành h́nh. Đất nước gió lửa là vật vô tri, trên thân này có cái tri giác, cái tri giác ấy gọi là tâm. Đă nói là ta, chẳng lẽ ta là cái vô tri? Thế nên hầu hết mọi người đều thừa nhận cái tri giác là ḿnh, tức là chấp nhận tâm làm ḿnh. Song cái tri giác dễ nhận dễ thấy và nổi bật nhất là suy tư nghĩ tưởng…, buồn thương giận ghét…, người ta cho những cái đó là tâm ḿnh. Khi đă chấp nhận những cái đó làm tâm ḿnh rồi, vừa khởi nghĩ cho là ḿnh nghĩ, khởi tưởng cho là ḿnh tưởng; dấy buồn bảo rằng tôi buồn, nổi giận bảo rằng tôi giận. Thế là cả ngày chạy theo cái hỗn tạp lăng xăng, v́ đă thừa nhận nó là ḿnh. Những cái ấy được tạm dừng phút giây, người ta cảm thấy như đă mất ḿnh. Song chúng nó mang sẵn tánh chất phức tạp, dao động, không thật, mà người ta thầm nghĩ nó thật, thường và duy nhất. Ngoài những cái đó ra, người ta tưởng như không c̣n cái ǵ khác nữa. Quả thật là lầm to!

Đă nói tâm là cái tri giác, khi mắt thấy sắc chưa cộng với cái suy nghĩ, tự mắt có tri giác không? Tai nghe tiếng, tự tai có tri giác không? Thân xúc chạm, tự thân có tri giác không?… Không có tri giác làm sao gọi là thấy, không có tri giác làm sao gọi là nghe, không có tri giác làm sao gọi là xúc? Thế là, có thấy, có nghe, có xúc chạm là có tri giác, có tri giác là có tâm. Tại sao không thừa nhận nó là tâm? Tuy nhiên tâm có chia hai loại, tâm vọng và tâm chân. Tâm vọng là tâm mang tánh chất phức tạp, dao động, không thật. Tâm chân là Tâm chân thật, không động và thường hằng. Qua hai tánh chất ấy, chúng ta kiểm điểm lại nơi thân này, tâm nào chân, tâm nào vọng? Những cái suy nghĩ, tưởng tượng, phân biệt, ghét thương… thật là phiền toái, phức tạp, cái này sanh, cái kia diệt, chợt có chợt không, bất thường, khi dấy lên dường như có, t́m lại nó th́ không. Chúng lập ḷe như ánh lửa ma trơi, lúc ẩn, lúc hiện, chợt có chợt không. Qua ánh sáng trí tuệ của ta, chúng đă phơi bày bản chất hư ảo, không thật rồi. Ngược lại, cái tri giác nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân… của ta, chúng luôn luôn có mặt, chưa từng sanh diệt, lặng lẽ bất động, thực tại hiện hữu, như ánh mặt trăng đêm rằm, vằng vặc sáng rỡ, trong veo lặng lẽ. Thế th́ c̣n nghi ǵ không nói chúng là chân thật. Song làm sao biết chúng thường hằng hiện hữu?

Lấy mắt và tai là hai cái dễ nhận thấy nhất, đại biểu cho các thứ kia. Như mắt chúng ta thấy cảnh, cảnh có thể đổi thay trăm ngàn thứ, cái thấy không bao giờ đổi thay. Khi có cảnh, mắt thấy cảnh; khi không cảnh, mắt thấy không cảnh. Cảnh khi có khi không, cái thấy lúc nào cũng có, cho đến khi mở mắt thấy sáng, nhắm mắt thấy tối. Thấy tối thấy sáng, là do sự nhắm mở của con mắt, chớ không can hệ ǵ cái thấy. Ví như bóng đèn với điện, gắn bóng đèn th́ điện cháy, mở bóng đèn th́ điện tắt. Có cháy có tắt là tại gắn bóng đèn hay mở bóng đèn, chớ không can hệ ǵ đến điện. Nhẫn đến con mắt bị mù đi, cái thấy cũng không mất, nó sẽ phát hiện sang các cơ quan khác. V́ thế người mù th́ lỗ tai nhạy, ư nhớ hay, cảm xúc nhanh. Ví như bóng đèn bị đứt, điện không phát được, điện sẽ phát mạnh hơn ở các bóng khác, hoặc bộ phận máy móc khác. Như vậy, cái thấy không thuộc về cảnh, không tại con mắt, nó chính là tâm. V́ có thấy là có biết, biết tức là tâm.

Cái nghe cũng thế, có tiếng th́ nghe tiếng, không tiếng nghe biết không tiếng. Tiếng th́ lúc có lúc không, cái nghe lúc nào cũng có. Cho đến khi ngủ dường như không nghe, song có tiếng động mạnh liền trỗi dậy. Nếu không nghe làm sao hay trỗi dậy? Tiếng động vang lên một lúc nhiều thứ, vẫn nghe rơ ràng tiếng nào ra tiếng ấy. Dù là tiếng có đến trăm ngàn, nhưng cái nghe vẫn là một. Nghe rành rơ tiếng nào ra tiếng ấy, cái nghe quả thật là tâm. Khi lỗ tai điếc, cái nghe sẽ phát mạnh ở con mắt, thấy dáng miệng nói, đoán biết nói cái ǵ. Thế là tâm thấy, tâm nghe vẫn hiện hữu thường trực nơi chúng ta. Song tối kỵ khi có ư thức hợp tác với nó. Khi có ư thức hợp tác với cái thấy, th́ cái thấy đă mất tánh chất chân thật thường hằng bất động rồi. Khi cái nghe hợp tác với ư thức cũng lại như thế. V́ ư thức là cái so lường phân biệt, luôn luôn biến động không dừng. Nó vừa hợp tác với cái nào th́ cái ấy phải chịu ảnh hưởng của nó. Cho nên muốn sống với Tâm chân thật của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chúng ta không nên có ư thức xen lẫn trong ấy. Có ư thức xen vào, tức đă làm băng hoại Tâm chân thật đi rồi.

Tuy nhiên nh́n vào bên trong, chúng ta vẫn có cái Tâm chân thật ở trong. Tâm này thấy sự rong ruổi của ư thức, thấy được vọng niệm khi dấy khi lặng. Nếu không có tâm ấy, chúng ta làm sao biết được khi có vọng, khi không vọng, lúc có ư thức, lúc không ư thức. Cái biết được vọng quyết định cái đó không phải vọng. Vọng th́ khi sanh khi diệt, cái thấy rơ sự sanh diệt của vọng quả là không phải sanh diệt. Vọng dấy lên do vin theo bóng dáng trần cảnh nên có tướng mạo, thuộc về nhân duyên. Cái biết vọng chưa từng dấy lên, chưa từng theo trần cảnh, nên không liên hệ đến nhân duyên. Cái thuộc nhân duyên th́ có hợp có tan, có c̣n có mất, có sanh có diệt. Cái không thuộc nhân duyên không có tướng mạo, nên thường hằng, bất biến, chân thật. Nhận ra được cái đó là thấy Tâm chân thật ở trong.

Mặc dù nói có trong ngoài, thường hiển lộ ở sáu cơ quan khác nhau, song thể “thường biết rơ ràng” trong lặng không tướng mạo th́ không phải là hai. Trên dụng dường như có sáu, Bản thể vẫn là một. Cho nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Từ một tinh minh sanh sáu ḥa hợp.” V́ thể nó rỗng lặng, nên nói Pháp thân thanh tịnh. Thể này hằng giác tri nên gọi là Phật tánh, Chân tâm. Trong sáu cơ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) thường hiển lộ Tánh giác, nên nơi mắt gọi là tánh thấy, nơi tai gọi là tánh nghe, nơi mũi gọi là tánh ngửi… Mỗi nơi đều để chữ “tánh” đứng đầu, chứng tỏ rằng mỗi cái ấy đều từ Tánh giác phát ra. Do đó trong sáu cơ quan, chúng ta nhận được Tự tánh của một cơ quan th́ cả sáu cái đều thông suốt. Cho nên câu “Phản quan tự tánh” của nhà thiền thật tối hệ trọng. Khéo dùng phương tiện gợi cho người tham vấn nhận ra Tánh giác của ḿnh thường biểu hiện ở sáu căn là một xảo thuật của Thiền sư. Trong sáu căn chỉ có hai căn dễ nhận nhất là mắt và tai. Thiền sư dùng cảnh sắc đánh thức Tánh thấy cho người, gọi là “nanh vuốt trong tông môn”, dùng âm thanh đánh thức Tánh nghe cho người, gọi là “một giọt sữa sư tử”. Chúng ta hăy khéo xem những xảo thuật của các Thiền sư đánh thức Tánh thấy:

Một hôm, Thiền sư Linh Hựu đứng hầu Tổ Bá Trượng. Tổ hỏi: “Ai?” Linh Hựu thưa: “Con, Linh Hựu.” Tổ bảo: “Ngươi vạch trong ḷ xem có lửa chăng?” Linh Hựu vạch ra, thưa: “Không lửa.” Tổ đứng dậy, đến vạch sâu trong ḷ được chút lửa, đưa trước Sư hỏi: “Ngươi bảo không, cái này là ǵ?” Linh Hựu liền phát ngộ, lễ tạ.

Tổ Bá Trượng cố t́nh hỏi lửa chăng? - Không. Tổ cố mượn đốm lửa để đánh thức Tánh thấy của Thiền sư Linh Hựu. Quả có hiệu dụng, Thiền sư Linh Hựu nhân đốm lửa nhận ra Tánh thấy của ḿnh, liền sụp xuống lễ tạ.

Thiền sư Lương Giới đến tham vấn Qui Sơn Linh Hựu. Sư hỏi: “Được nghe Quốc sư Huệ Trung nói ‘vô t́nh thuyết pháp’, con chưa hiểu thấu chỗ vi diệu ấy.” Qui Sơn bảo: “Ta trong ấy cũng có, chỉ không gặp được người xứng đáng.” Sư thưa: “Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ dạy.” Qui Sơn dựng đứng cây phất tử, hỏi: “Hội chăng?” Sư thưa: “Chẳng hội, thỉnh Ḥa thượng nói.” Qui Sơn bảo: “Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể v́ người nói.”

Thiền sư Lương Giới cố t́m hiểu “Vô t́nh thuyết pháp”. Tổ Qui Sơn đưa cây phất tử lên, hỏi: “Hội chăng?” Nếu ngay đây mà hội th́ “vô t́nh thuyết pháp” cho Thiền sư nghe rồi. V́ Thiền sư chưa hội, cầu xin Qui Sơn nói, nếu Qui Sơn hứa nói, đă thành “hữu t́nh thuyết pháp” mất vậy.

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quang Dũng: “Văn-thù là thầy của bảy đức Phật, Văn-thù có thầy chăng?” Quang Dũng đáp: “Gặp duyên liền có.” Tăng hỏi: “Thế nào là thầy Văn-thù?” Sư dựng đứng cây phất tử lên. Tăng thưa: “Cái ấy là phải sao?” Sư ném cây phất tử, khoanh tay.

Vị Tăng muốn biết thầy của Bồ-tát Văn-thù, Thiền sư Quang Dũng dựng cây phất tử lên mà ông không nhận. Nếu khi đưa cây phất tử lên mà ông nhận ra th́ đă thấy thầy của Văn-thù. Rất tiếc ông Tăng lầm qua, nên Thiền sư đành ném cây phất tử.

Có Thiền khách đến Kiền Phong hỏi: “Trong kinh Lăng Nghiêm có câu: ‘chư Phật mười phương, chỉ một con đường vào cửa Niết-bàn’ (thập phương Bạc-già-phạm, nhất lộ Niết-bàn môn), xin hỏi đầu đường ở chỗ nào?” Kiền Phong cầm cây gậy vạch ngang trong hư không, nói: “Ở chỗ này.” Thiền khách mờ mịt không hiểu. Sau ông đến Vân Môn, cũng đem câu ấy hỏi. Vân Môn đưa cây quạt lên nói: “Cây quạt nhảy phóc lên cung trời Tam thập tam đập vào mũi Đế Thích, con cá lư ngư ở biển Đông, mưa như cầm chĩnh mà đổ.”

Thiền sư Kiền Phong chỉ đầu đường vào cửa Niết-bàn bằng một vạch trong hư không. Người ta tưởng đầu đường vào cửa Niết-bàn từ hư không, chẳng ngờ từ Tánh thấy. Thiền sư Vân Môn cũng chỉ đầu đường bằng cây quạt đưa lên. Nếu Thiền khách thấy đầu đường ngay khi cây quạt đưa lên, th́ câu nói sau của Vân Môn là câu thần chú. Nếu lầm qua khi cây quạt đưa lên, ṃ theo câu nói th́ suốt đời không t́m ra đầu đường. Thế nên, Vân Môn có làm bài kệ:

Cử bất cố, tức sai hỗ
Nghĩ tư lương, hà kiếp ngộ.

Đưa chẳng đoái, ắt sai lầm
Toan nghĩ suy, kiếp nào ngộ.

Qua những h́nh ảnh được nêu ở trên, nếu Thiền khách khéo nhân cảnh sắc nhận được Tánh thấy của ḿnh, gọi là “kiến sắc minh tâm”.

Đây chúng ta hăy khéo nghe chư Thiền sư sử dụng âm thanh đánh thức Tánh nghe một cách tài t́nh. Quả là “một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa”.

Có Thiền khách hiệu Sư Tổ đến Nam Tuyền hỏi: “Ma-ni châu nhân bất thức, Như Lai tàng lư thân thâu đắc, thế nào là tàng?” Nam Tuyền bảo: “Vương lăo sư cùng ông qua lại, ấy là tàng.” Sư Tổ hỏi: “Thế nào là châu?” Nam Tuyền gọi: “Sư Tổ! Sư Tổ!” Sư Tổ: “Dạ! Dạ!” Nam Tuyền bảo: “Đi! Ngươi không hiểu ư ta.”

Sư Tổ muốn biết hạt châu, Nam Tuyền sẵn sàng chỉ hạt châu bằng cách hai lần gọi, Sư Tổ hai lần dạ mà không nhận ra hạt châu. Buộc ḷng Nam Tuyền bảo: “Đi! Ngươi không hiểu ư ta.” Chỗ Nam Tuyền chỉ nhanh như đá nháng, điện xẹt, Sư Tổ chậm lụt nên không thấy được.

Một hôm Quốc sư Huệ Trung gọi: “Thị giả!” Thị giả: “Dạ!” Lại gọi: “Thị giả!” Thị giả: “Dạ!” Lại gọi: “Thị giả!” Thị giả: “Dạ!” Huệ Trung bảo: “Tưởng ta cô phụ ngươi, không ngờ ngươi cô phụ ta.”

Thị giả ba lần dạ mà không thấy chỗ dạy của Quốc sư. Nếu khi dạ liền nhận ra Tánh nghe của ḿnh, Quốc sư đâu trách “không ngờ ngươi cô phụ ta”. Tất cả việc làm của Thiền sư đều nhằm người học thấy lại cái chân thật của chính ḿnh. Nếu chúng ta cứ nghe và chờ các ngài chỉ dạy cái ǵ, qua mất mục tiêu của các ngài nhắm rồi.

Có Thiền khách vào thất của Thiền sư Qui Tỉnh, nhờ giải nghi về việc vị Tăng hỏi Triệu Châu “thế nào là ư Tổ sư từ Ấn Độ sang”, Triệu Châu đáp “cây bá trước sân”. Thiền sư Qui Tỉnh bảo: “Tôi nói với ông, ông tin chăng?” Thiền khách thưa: “Lời của Ḥa thượng là quí trọng, con đâu dám chẳng tin.” Qui Tỉnh nói: “Ông nghe giọt mưa rơi ở thềm nhà chăng?” Thiền khách bỗng nhiên khai ngộ, bất giác la: “Chao!” Qui Tỉnh hỏi: “Ông thấy đạo lư ǵ?” Thiền khách nói kệ đáp:

Thiềm đầu thủy đích
Phân minh lịch lịch
Đả phá càn khôn
Đương hạ tâm tức.

Giọt mưa mé thềm
Rơ ràng từng giọt
Đập nát càn khôn
Liền đó tâm dứt.

Thiền khách khéo nghe hạt mưa rơi, bỗng thấy cây bá trước sân của Triệu Châu. Cây bá trước sân hay giọt mưa rơi mé thềm nhà đều rơ ràng chỉ cho chúng ta thấy ư Tổ sư từ Ấn Độ sang. Nhận ra được chỗ này, càn khôn biến hoại, mọi vọng tưởng tan tành, thật c̣n ǵ sung sướng bằng.

Một hôm Tướng quốc Bùi Hưu đến chùa Đại An xem thấy bức họa Cao tăng, liền chỉ và hỏi Thiền sư Hoàng Bá: “H́nh có thể thấy, Cao tăng ở đâu?” Hoàng Bá gọi: “Bùi Hưu!” Bùi Hưu: “Dạ!” Hoàng Bá hỏi: “Ở đâu?” Bùi Hưu ngộ được ư chỉ.

Qua tướng mạo, Bùi Hưu muốn thấy Cao tăng. Hoàng Bá chỉ Cao tăng qua tiếng “dạ” của Bùi Hưu. Nhân tiếng dạ của chính ḿnh, Bùi Hưu chẳng những biết Cao tăng, mà c̣n nhận ra bổn mạng của ḿnh từ vô thủy kiếp, như người đă nắm được ḥn ngọc quí.

Để kết thúc hai đoạn trên, chúng ta hăy nghe bài kệ của Thiền sư Nghĩa Trung:

Tức thử kiến văn phi kiến văn
Vô dư thanh sắc khả tŕnh quân
Cá trung nhược liễu toàn vô sự
Thể dụng hà pḥng phân bất phân.

Chính nơi thấy nghe chẳng thấy nghe
C̣n đâu thanh sắc để tŕnh anh
Trong kia nếu liễu toàn vô sự
Thể dụng ngại ǵ phân chẳng phân.

Quả thật chính nơi cái thấy nghe, chúng ta nhận ra Tánh thấy nghe. Đă nhận ra Tánh thấy nghe th́ không mắc kẹt vào thanh sắc, nên nói thấy sắc như mù, nghe tiếng như điếc. Như mù chớ chẳng phải mù, v́ hằng thấy mà chẳng vọng tưởng phân biệt hơn thua, đẹp xấu. Như điếc mà chẳng phải điếc, v́ tiếng nào nghe rơ tiếng ấy, chỉ không phân biệt hay dở, phải quấy. Đă như thế th́ c̣n thanh sắc nào để Thiền sư dạy chúng ta nữa. Nếu ngay nơi thấy nghe mà liễu ngộ được, c̣n ǵ phải phân biệt đây là thể, kia là dụng cho thêm phiền.

Tóm lại, chúng ta muốn nhận ra Tánh giác hay kiến tánh phải từ nơi sáu căn mà nhận. Trong sáu căn, hai phần nổi bật hẳn là mắt và tai, nhận ra một trong hai cái Tánh thấy và Tánh nghe là đă đến đầu đường vào Niết-bàn. Hoặc nhận ra Tánh giác của ư, cái mà biết ư thức có, ư thức không, trong tâm có niệm không niệm, cái giác liễu thường trực không tướng mạo ấy được mệnh danh là Chân tâm thanh tịnh. Vừa dấy niệm là mất chân, niệm lặng Chân thể hiện tiền. Không niệm là chân, niệm khởi là vọng. Chân và vọng dường như hai mà thật không hai. Ví như sóng và mặt biển, bao nhiêu lượn sóng lặn hụp đều không ngoài mặt biển. Khổ nỗi, khi người ta nh́n sóng là quên mặt biển. Nếu người khôn khéo, dù thấy sóng nổi lao xao đều biết chúng ở trong mặt biển. Muốn thấy mặt biển lặng, chỉ cần sóng dừng. Bỏ sóng đi t́m biển là khờ, diệt sóng để thấy biển lặng là dốt. Cũng thế, bỏ vọng tâm đi t́m Chân tánh là khờ, diệt vọng để thấy chân là dốt. Bởi v́ vọng chỉ là cái dụng động của Thể chân, vọng dừng th́ chân hiện. Cái chân ấy nó trùm cả trong lẫn ngoài, thường có mặt mà không tướng mạo, hằng giác tri mà khó nhận biết. Ví như nước trong sông ng̣i và ngoài biển cả. Nơi sông ng̣i, chúng ta dễ thấy tướng nước chảy, ở biển cả chúng ta không thấy có chảy bao giờ. Song thủy triều lên xuống là có đổi dời, tại v́ rộng nên không thấy, chỗ hẹp th́ dễ thấy. Tánh giác tri trùm cả thân, chúng ta khó nhận, niệm khởi vọng tưởng có tướng mạo từng chập, từng hồi nên dễ biết. Bởi tánh cách rộng răi đó nên nhà thiền thường nói “trong da chỗ nào mà không có máu” hay “chết ch́m dưới sông mà kêu khát nước” hoặc “cỡi trâu mà t́m trâu”.

e) Giải ngộ và Chứng ngộ: Giải ngộ là nhân nghe một câu kinh hay một lời chỉ dạy của Thiện tri thức, liền thấy được Bản tánh. Tính cách đạt được rất nhanh, nên cũng gọi là Đốn ngộ. Nhân Phật, Tổ, thầy, bạn mà được ngộ đạo, nó thuộc về Trí hữu sư. Giải ngộ mới là kẻ thấy đường về quê, chưa phải là người về đến nhà. Người tu được giải ngộ, đă thanh toán xong năm mươi phần trăm nghi ngờ trên đường tu của ḿnh. Thế nên Cổ đức đă nói:

Đốn ngộ tuy đồng Phật
Đa sanh tập khí thâm
Phong đ́nh ba thượng dũng
Lư hiện niệm du xâm.

Đốn ngộ tuy đồng Phật
Nhiều đời tập khí sâu
Gió dừng sóng vẫn vỗ
Lư hiện niệm c̣n xâm.

Chỗ thấy không khác chư Phật, song tập khí sâu dày chưa có thể sạch. Cần phải nỗ lực buông xả vọng tưởng lâu ngày khả dĩ lặng, như gió đă dừng mà sóng chưa lặng, phải đợi thời gian từ từ nó mới im. Chân lư đă thấy rơ rồi mà vọng niệm vẫn c̣n xâm lấn măi. V́ thế sau khi giải ngộ cần phải cố gắng tu hành mới được chứng ngộ. Thiền sư Trần Tôn Túc nói: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đă sáng như đưa ma mẹ.” Khi chưa giải ngộ phải tận lực tham vấn nghiên tầm cho giải ngộ, khi đă giải ngộ cũng phải cố gắng tu hành để được chứng ngộ. Chứng ngộ là chỗ viên măn công phu tu tập, an trụ Tánh giác trọn vẹn. Nó là mục thứ mười trong Mười mục chăn trâu của nhà Thiền. Chứng ngộ là do công phu tu hành phát ra, không phải là sự chỉ dạy của thầy bạn, nên cũng gọi là Trí vô sư. Đạt được Trí vô sư hay chứng ngộ th́ mới chống được sanh tử. Trong nhà Thiền thường nói: “tùng môn đắc nhập phi thị gia trân”, nghĩa là từ cửa nhận được không phải của báu trong nhà. Từ cửa mà được là Trí hữu sư, chưa thật là của báu trong nhà. Thật là của báu trong nhà th́ đâu cần người khác chỉ, phải tự ḿnh lấy ra mà dùng.

Tóm lại, giải ngộ là đă tách con đường mê, vào con đường giác, song mới là chia đường thôi. Trên con đường giác đi đến đích mới là chứng ngộ. Buổi đầu người học đạo do thầy bạn chỉ dạy phát khởi trí tuệ là Trí hữu sư. Biết rơ đường lối tu hành, hạ thủ công phu tu tập, phát trí tuệ là Trí vô sư. Trí này tương tự với “Tuệ” trong ba môn “Giới Định Tuệ”. Có Trí vô sư mới thoát khỏi sanh tử, cho nên trong nhà Thiền nói “Kiến tánh khởi tu”.

B. KHỞI TU.

1. Đốn ngộ tiệm tu:

Sau khi “kiến tánh” cần phải “khởi tu” mới đạt chứng ngộ, giải thoát sanh tử, đắc thành Phật quả. Cho nên khi xưa chư Thiền sư được giải ngộ rồi, các ngài vào núi ở một ḿnh đôi ba mươi năm, sau đó mới ra giáo hóa. Nếu không ở núi một ḿnh, các ngài ở tùng lâm theo chúng tu hành. Như Quốc sư Huệ Trung ở núi Bạch Nhai bốn mươi hai năm, sau đó mới ra làm Quốc sư. Thiền sư Tùng Thẩm hiệu Triệu Châu ở trong tùng lâm ba mươi năm, tâm mới thành một khối. Kiến tánh khởi tu cũng gọi là đốn ngộ tiệm tu. Lối tu này có hai:

a) Ứng dụng giác ngộ vô niệm để tu:

Thấy rơ niệm khởi là hư vọng, là vô minh, cần phải buông xả không theo. Niệm dấy lên là phá giới, là tội lỗi, luôn luôn tỉnh giác không để nó dẫn. Cho nên nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm.” Niệm khởi liền giác, giác tức niệm diệt. Thiền sư cả ngày trong bốn oai nghi đều sống giác niệm, không để thưa hở. Bởi v́ từ ngàn đời chúng ta đă chấp nhận niệm là tâm ḿnh, hiện nay biết nó hư giả, nó là tướng vô minh, song nó đă thành thói quen, thành tập quán, không thể tỉnh giác một sớm một chiều mà hết được. Trái lại, phải bền bỉ, lâu dài, kiên tŕ, tỉnh giác, chúng mới thưa dần và từ từ im bặt. Nếu không phải là người kiên tŕ, tỉnh giác, bền bỉ, lâu dài, dù có giải ngộ cũng không giải thoát sanh tử. Thế nên người xưa nói “người tu thiền phải đầy đủ hai tâm kiên cố và trường viễn”. Kiên tŕ tỉnh giác là tâm kiên cố, bền bỉ lâu dài là tâm trường viễn. Có kiên tŕ tỉnh giác mới khỏi bị niệm dẫn, có bền bỉ lâu dài mới chinh phục được chúng. Thiền sư là một chiến sĩ thường cầm kiếm trí tuệ tiêu diệt bọn ma vô minh vọng niệm. Tay không rời kiếm, mắt chẳng ngó lơ, mới là chiến sĩ dũng mănh. Đến khi nào bọn ma vô minh vọng niệm diệt sạch, người chiến sĩ mới ca khúc khải hoàn và sống măi trong thanh b́nh an lạc. Sự tu hành của Thiền sư không hạn cuộc trong thời khóa nghi lễ, mà lấy sự tỉnh giác làm chủ yếu. V́ thế, có khi cả ngày không thấy ngồi thiền hay tụng kinh, mà sự tu hành của Thiền sư rất cẩn mật. Thấy từng tâm niệm của chính ḿnh suốt mười hai giờ, làm sao bảo lơi lỏng được. Chỗ này chỉ người trong cảnh biết được thôi.

b) Ứng dụng giác ngộ tri hữu để tu:

Tri hữu là biết ḿnh có Tánh giác. Tánh giác tức là Ông chủ thật của ḿnh. Quên Tánh giác là đă mất Ông chủ, chính là mất ḿnh. Sống mà mất ḿnh hay không biết ḿnh sống, không phải vô minh là ǵ? Đối trị cái vô minh (mê) này, Thiền sư hằng nhớ Ông chủ của ḿnh. Lối nhớ Ông chủ bằng cách sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không chạy theo sáu trần, hằng sống với sáu đường hào quang sẵn có của ḿnh. Cho nên nói: “Thấy sắc không dính sắc, nghe tiếng không kẹt tiếng.” Bởi thường sống với Ông chủ của ḿnh, nên ngoài không bị năm trần quyến rũ, trong không bị pháp trần cuốn lôi. Đó là chỗ “tâm như nên cảnh như”. Chính chỗ này ông Bàng Long Uẩn có kệ:

Đản tự vô tâm ư vạn vật
Hà pḥng vạn vật thường vi nhiễu
Thiết ngưu bất phạ sư tử hống
Kháp tợ mộc nhân khán họa điểu
Mộc nhân bản thể tự vô t́nh
Họa điểu phùng nhân diệc bất kinh
Tâm cảnh như như chỉ giá thị
Hà lự bồ-đề đạo bất thành.

Chỉ tự vô tâm cùng vạn vật
Ngại ǵ vạn vật thường vi nhiễu
Trâu sắt chẳng sợ sư tử rống
Giống như người gỗ xem chim vẽ
Người gỗ bản thể tự vô t́nh
Chim vẽ gặp người cũng chẳng kinh
Tâm cảnh như như chỉ thế ấy
Nào sợ bồ-đề đạo chẳng thành.

Ông chủ là ḿnh, làm sao ḿnh nhớ? Nghĩa là chúng ta mắt thấy sắc biết ḿnh có Tánh thấy, tai nghe tiếng biết ḿnh có Tánh nghe, mũi ngửi mùi biết ḿnh có Tánh ngửi…, cái ǵ chạm đến đều biết có ḿnh, Ông chủ đang tiếp xúc với sáu trần ấy. Hằng nhớ Ông chủ như vậy th́ đâu có chạy theo sáu trần. Ông chủ khi tiếp xúc với sáu trần tuy thường biết mà không có vọng phân biệt. Thường biết rơ ràng mà lặng lẽ nên gọi là Như. Thường nhớ Ông chủ gọi là “Niệm chân như”, hoặc nói “Nhất niệm vạn niên”, hoặc nói “Bất ly đương niệm”. Chỉ một niệm hiện tiền mà không rơi vào phân biệt. Song chúng ta dễ lầm chữ NIỆM. Ở trên nói niệm khởi hay vọng niệm, chữ niệm này là tâm vọng động vừa dấy lên. Ở đây nói niệm Chân như, chữ niệm này là nhớ, hằng nhớ sống với tâm Chân như, gọi là niệm Chân như hay nhớ Ông chủ. Cũng đồng một chữ niệm mà nghĩa dùng khác nhau. Một h́nh ảnh linh động nhất về lối tu này, như: Thiền sư Sư Nhan mỗi ngày thường ngồi trên tảng đá, lâu lâu tự gọi: “Ông chủ”, tự đáp: “dạ”, tự nhắc: “tỉnh, tỉnh, chớ để người lừa”.

Vừa quên Ông chủ là bị trần cảnh bên ngoài và pháp trần bên trong lôi đi, tức bị người lừa. Phải hằng tỉnh, hằng giác mới khỏi bị người lừa. Hằng sống với Ông chủ đến khi thuần thục rồi, đạo Bồ-đề hiện tiền c̣n ǵ lo ngại.

Lại nữa, đối cảnh tâm không chạy theo cảnh, niệm dấy lên không theo niệm, hằng liễu tri mà lặng lẽ là sống với Ông chủ. Ông chủ là cái hằng liễu tri nơi toàn thân, không bị cảnh dẫn th́ Ông chủ ngồi sờ sờ trong nhà, khỏi cần kiếm t́m, tưởng nhớ chi cả. Sống được như vậy, th́ đi đứng nằm ngồi ǵ cũng thiền, nên nói: “Hái củi, lặt rau, thổi cơm, gánh nước đều là thiền.”

Tóm lại, hai phần “đốn ngộ tiệm tu” trên, tuy nói tu mà không có tu. V́ lẽ tu là sửa sang bồi bổ, Tánh giác không tướng mạo làm sao sửa sang? Hơn nữa Tánh giác chẳng sanh chẳng diệt, nếu c̣n có tu là c̣n tạo tác, tức là c̣n sanh diệt. Đă không tu th́ làm ǵ có chứng. Khi người tu hoàn toàn sống được với Tâm thể như như, gọi là chứng đạo hay thành đạo. Song sự thật có chứng cái ǵ, có thành cái ǵ? Chẳng qua sống viên măn với Tâm thể của ḿnh thôi. Tuy nhiên như thế, nói không tu mà tu. V́ khéo biết buông xả vọng niệm, hằng giác tỉnh luôn nên gọi là tu. Hoặc thường nhớ Ông chủ của ḿnh, không giây phút nào để vọng tâm ngoại cảnh lừa gạt lôi đi gọi là tu. Nói không chứng mà chứng. V́ Tánh giác đă sẵn có nơi chúng ta, mà cả muôn đời bỏ quên mất, nay nhận ra và sống toàn vẹn với nó gọi là chứng. Ví như chúng ta có ḥn ngọc quí, chôn cất nơi nào quên mất, bỗng có người chỉ, sực nhớ lại, đào xới lên, lấy được ḥn ngọc cầm trong tay, gọi là được. Đấy, sự tu chứng của tinh thần Thiền tông là như thế. Nói có tu cũng được, nói không tu cũng được, nói có chứng không chứng cũng phải. Bởi nó chỉ là phương tiện tạm thời, không có thật pháp để tu để chứng. Ví như các pháp môn khác, như Tịnh độ th́ dùng câu niệm Phật làm pháp tu, Mật tông th́ dùng câu thần chú làm pháp tu, thiền Tiểu thừa th́ dùng đề mục làm pháp tu. Chỉ riêng Thiền tông không mượn một pháp nào cả, khéo biết buông xả vọng niệm, hằng tỉnh giác không quên là đủ. Đây là đi đường chim (điểu đạo), thẳng tắt không nương phương tiện, nên nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.

2. Tiệm tu đốn ngộ:

Đúng tinh thần Thiền tông, phải trước kiến tánh sau mới khởi tu, song với người tha thiết tu hành mà chưa kiến tánh th́ sao? Chư Tổ sau này v́ thương người có chí tu mà chưa kiến tánh, nên lập ra những phương tiện sau:

a) Tọa thiền khán công án hay thoại đầu:

Đây là lối tu do các Thiền sư ḍng Lâm Tế đời Tống lập ra. Khán công án hay khán thoại đầu, lối dụng công cũng như nhau, chỉ khác ở điểm công án là một câu của người xưa để lại, thoại đầu tùy thời biến chế. Phương pháp tu này gọi là “lấy độc trừ độc”. V́ có một nghi vấn đặt trong đầu th́ mọi vọng tưởng đều lặng mất. Cho nên người khán công án hay thoại đầu phải tin tưởng tuyệt đối vị thầy ḿnh đến thọ giáo. Ông dạy một câu như: “trước khi cha mẹ chưa sanh, ḿnh là ǵ” v.v… liền phải sống chết với câu ấy, cho đến ngày ngộ đạo mới thôi. Khi khán thoại đầu, nên đề khởi câu thoại đầu lên, sau chữ “ǵ” có một sức mạnh nghi kéo dài im lặng, khi sức nghi yếu dần, liền đề khởi nữa, cứ thế măi. Câu nói đặt thành nghi vấn là thoại, cái nghi kéo dài im lặng là đầu. Hay nói khác hơn, trước khi chưa đặt nghi vấn là đầu, nghi vấn dấy lên là thoại. Chủ yếu dùng cái nghi đập chết mọi vọng tưởng. Khi cái nghi đă thành khối, khỏi cần đề khởi mà lúc nào cũng nghi, gọi là “nghi t́nh”. Một khi cái nghi tan vỡ ra là ngộ đạo. Thế nên nói “đa nghi đa ngộ”. Song tu khán thoại đầu phải gan dạ, chết sống với câu ḿnh nhận nơi thầy, cho đến ngộ đạo, không được học kinh sách hay lư luận ǵ cả. Tu khán thoại đầu, khi tọa thiền khán thoại đầu, lúc ra ngoài hoặc làm công tác cũng vẫn khán thoại đầu, không đổi thay pháp nào khác.

b) Tọa thiền biết vọng:

Thiền giả nên ứng dụng phần giác ngộ hạ ở trên để tu. Khi tọa thiền đúng pháp rồi, Thiền giả để tâm vắng lặng, vừa có vọng tưởng dấy lên liền “biết vọng không theo”. Nếu vọng tưởng quá mạnh, biết vọng mà vẫn c̣n lôi đi, Thiền giả nên thấy vọng ấy vốn không, nói quả quyết rằng: “Mày là không.” Nếu dùng chữ không mà trị chưa nổi, Thiền giả phải quở mắng nó, bảo: “V́ mày nên nhiều đời phải chịu luân hồi, giờ đây mày muốn xuống địa ngục hay sao?” Đó là lối mục đồng dùng roi để trị con trâu ngỗ nghịch. Hoặc hành giả phản quán lại xem cái vọng này từ đâu mà khởi, phăng t́m nguồn gốc đến chỗ tột cùng, chúng liền mất tăm dạng, thế là an tâm.

Biết vọng không theo là lối tu nhẹ nhàng thanh thản, song phải có chí lắm mới khỏi chán. Bởi v́ vọng tưởng quá nhiều, không theo cái này, cái khác lại nổi lên, cứ thế măi khó t́m được phút giây yên tĩnh. Phải bền chí, đừng nản, biết vọng măi rồi vọng sẽ thưa dần. Không theo vọng tưởng là chúng ta phá cái chấp ngă về tâm, đến khi vọng tưởng yếu thế sẽ có cơ kiến tánh giải ngộ. Ngoài giờ tọa thiền ra, Thiền giả thường quán chiếu thân tứ đại này do duyên hợp hư giả, không thật, bất cứ đ̣i hỏi, cố chấp ǵ về thân đều quở trách: “Thân đă giả, c̣n muốn cái ǵ, cầu cái ǵ?” Những suy tư nghĩ tưởng dấy lên cũng biết giả không theo. Nếu có làm việc th́ chỉ biết việc ấy, không cho vọng tưởng dẫn đi nơi khác. Lặng lẽ chăm chỉ trong việc làm, không để chú vọng bén mảng đến trong đầu. Cứ thế hằng tu trong việc làm, hằng tu lúc rảnh rỗi, hằng tu khi tọa thiền. Không theo vọng tưởng là phá ngă chấp về tâm, biết thân duyên hợp hư giả là phá ngă chấp về thân. Đây là bước giác ngộ vô ngă của người tu Phật theo tinh thần Bát-nhă. Lối tu thiền này càng xem kinh học đạo là càng sáng thêm, chớ không trở ngại. Nhờ kinh làm sáng cho thiền, do thiền làm tỏ rạng được kinh.

c) Đối chiếu hai pháp tu:

Hai pháp tu “biết vọng” và “khán thoại đầu” đều gọi là “tiệm tu đốn ngộ”. Dùng cái biết vọng hay câu thoại đầu để đập chết con khỉ ư thức. Khi con khỉ ư thức thật chết, liền ngộ đạo, nên nói “sau khi chết liền tỉnh” (tuyệt hậu tái tô). Người tu đừng sợ hay quên và khờ dại, v́ cố bỏ cố quên mà không quên không dại sao được? Tu thoại đầu có sức mạnh, song phải buông hết mọi học tập, mọi suy luận. Tu biết vọng th́ nhẹ nhàng lại phù hợp với kinh điển, càng nghe kinh càng tin thêm pháp tu. Tu thoại đầu phải ngộ đạo mới sáng, ở giữa chừng coi như chết nơi khờ dại. Tu biết vọng th́ tu một giờ sáng một giờ, càng tu th́ trí tuệ càng tăng, cho đến khi phá tan cái chấp ngă. Tu thoại đầu phải có bậc thầy đạt đạo trong pháp tu này dẫn dắt, mới đến nơi đến chốn. Tu biết vọng nương nơi kinh, chúng ta thấy rơ đường lối tu, có khi nhân nghe kinh liền được kiến tánh. Bởi những lư do trên, chủ trương chúng tôi dạy Tăng Ni và Phật tử sơ cơ tu thiền bằng lối “biết vọng”, đồng thời giảng Kinh, Luận cho họ nghe, mong họ nhận ra Bản tánh, để tiến lên “kiến tánh khởi tu” ở trên. Giả sử Thiền giả chưa được kiến tánh, cứ như thế mà tu vẫn giũa ṃn ngă chấp, Trí tuệ Bát-nhă từ từ phát hiện.

3. Phương pháp tọa thiền:

Cả bốn lối tu trên đều cần tọa thiền, đành rằng hằng tu trong bốn oai nghi (đi đứng nằm ngồi) song tọa thiền là phương tiện thù thắng hơn cả. Chính đức Thích-ca Mâu-ni sau khi thành đạo Ngài vẫn tọa thiền. Có vị Tăng hỏi: “Phật thành đạo rồi, ngồi thiền chi nữa?” Phật bảo: “Ta ngồi thiền để điều ḥa thân thể và răn nhắc đệ tử sau này không lười trễ tọa thiền.” V́ thế chúng ta phải cố gắng tập tọa thiền. Tọa thiền có chia mấy phần dưới đây:

a) Trước khi tọa thiền:

Hành giả khéo tập đi đứng nằm ngồi đều nhẹ nhàng thư thả, buông xả không để tâm bực tức buồn rầu. Muốn tọa thiền phải sắm phương tiện ngồi, một cái “bồ đoàn” đặt trên một tấm nệm mỏng sáu tấc vuông. Nếu không có tấm nệm, trải mền hai ba lớp cũng được. Bồ đoàn may bằng vải, trong dồn g̣n đừng cứng lắm, bề cao một tấc, bề kính hai tấc tây, h́nh tṛn. Nếu không có bồ đoàn nên lấy mền xếp làm tư, khi ngồi chỉ để phân nửa bàn tọa lên mền cho có thế ngả về trước một chút, xương sống dễ thẳng. Ngồi phải lựa chỗ ít gió mà không nực lắm. Nếu ban đêm ngồi trong mùng chớ để đèn sáng lắm, cũng đừng tối ṃ, sáng vừa vừa là tốt.

b) Trong khi tọa thiền:

Đến giờ tọa thiền, trải nệm lót bồ đoàn xong, ngồi lên bồ đoàn, xương cùng đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua nghiêng lại cho an ổn mới kéo chân ngồi. Nếu ngồi bán già, kéo chân trái để lên đùi mặt, hoặc chân mặt để lên đùi trái cũng được, tùy sự thuận tiện của hành giả. Hai thế ngồi ấy, một là kiết tường hai là hàng ma. Nếu ngồi kiết-già, chân trái kéo để lên đùi mặt, chân mặt kéo để lên đùi trái, kéo sát vào thân. Kế nới rộng dây lưng, cổ áo, sửa thân ngay thẳng. Lấy bàn tay trái để lên bàn tay mặt, hoặc ngược lại cũng được. Hai bàn tay để trên hai ḷng bàn chân, những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa đụng nhau, nằm ngay chiều cái rún. Nếu ḷng bàn chân bên nào trũng quá, nên lấy khăn xếp lại chêm cho hai tay ngang bằng nhau. Chuyển động thân ba lần, ban đầu rất mạnh, sau yếu dần. Ngồi lưng thẳng vừa phải, đừng cố gắng, đầu hơi cúi, chiều chót mũi ngay đầu ngón tay cái, hai trái tai ngang bả vai, mắt mở một phần ba, gương mặt b́nh thản, ngồi yên. Dùng miệng thở hơi ô trược ra, khi thở há miệng cho hơi ra, đừng mạnh cũng đừng gấp, thở thật dài và sạch, hơi ra tưởng như tất cả phiền năo bệnh hoạn theo hơi thở ra ngoài hết. Ngậm miệng lại dùng mũi hít hơi vào, dài nhẹ và thật đầy, hơi vô tưởng không khí trong sạch vào khắp châu thân. Như thế ba lần. Thở xong, ngậm miệng lại, môi và răng vừa kề nhau, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều nhẹ nhẹ mà dài. Thân ngồi ngay thẳng như cột trụ, dù có ngứa ngáy cũng không cựa động, nhức mỏi cũng gan dạ chịu đựng đúng giờ mới xả. Vọng tưởng dừng là định, đừng đ̣i hỏi cái định nào khác. Ứng dụng đúng câu Thiền sư Huyền Giác nói: “Tỉnh tỉnh lặng lặng là phải, tỉnh tỉnh vọng tưởng là sai; lặng lặng tỉnh tỉnh là phải, lặng lặng hôn trầm là sai.” Đây là phương pháp nhập thiền.

Đến trụ thiền, tùy tŕnh độ ứng dụng một trong bốn pháp trên để trị tâm. Nếu người sơ cơ nên dùng lối biết vọng để tu. Khi ấy, thở ra vào an ổn đôi ba phút, buông hơi thở để tâm an tịnh, vừa có vọng khởi liền biết vọng không theo, vọng lặng th́ tâm lặng, vọng dấy liền biết vọng. Cứ thế măi cho đến vọng thưa dần và im bặt. Nếu mơ màng ngủ gục, cần mở mắt sáng ra, chấn chỉnh thân nghiêm trang lại, ma ngủ vẫn hoành hành nên trụ tâm tại mé tóc nhọn trên trán, ma ngủ vẫn trầm trọng, nên xả thiền đi kinh hành. Nếu vọng tưởng quá mạnh, nên trụ tâm tại chót mũi hay giữa rún. Song chỉ tạm thời cho qua cơn mănh liệt của chúng thôi. Vọng tưởng b́nh thường nên giữ biết vọng không theo, chẳng cần làm ǵ khác. Như thế ngồi được bao lâu tùy sức tu tập của hành giả. Trong lúc ngồi nghe ngực nặng, tim hơi nhói là ngồi thẳng quá, phải rùn xuống một chút, nghe nhức xương sống gần lưng quần, biết ngồi cong rồi, phải thẳng lên. Khéo léo đừng để thành bệnh.

Khi xuất thiền, trước đọc bài nguyện hồi hướng, kế dùng miệng thở ra, mũi hít vào ba lần như khi mới vào, động hai bả vai lên xuống năm lần, động cái đầu cúi ngước năm lần, và nghiêng sang phải sang trái năm lần. Động hai bàn tay nắm lại duỗi ra năm lần, dời hai bàn tay ra đầu gối, chuyển động toàn thân ba lần, từ nhẹ ra mạnh. Xoa bóp toàn thân từ đầu đến chân, chỗ nào bất an càng bóp nhiều, xoa hai tay ấm áp vào mắt ba lần. Cần nhớ mỗi mỗi hành động đều nhẹ nhàng êm ái, đừng thô ồn. Dời thân khỏi bồ đoàn, ngồi thường yên tịnh khoảng năm phút, sẽ đứng dậy đi.

c) Sau khi tọa thiền:

Nếu hoàn cảnh thuận tiện, hành giả sau khi xả thiền, ra sân hoặc hành lang nhà đi kinh hành thẳng chân độ muời phút. Bước thẳng chân mà chẳng động, tâm vẫn biết vọng không theo. Bắt tay vào việc làm nào đều chỉ biết trong việc làm ấy, có vọng tưởng kéo đi, buông chúng không theo. Đó là biết tu sau khi xả thiền.

d) Trong khi tọa thiền thấy cảnh lạ:

Hành giả trong khi tọa thiền thường có tướng lạ phát hiện, nghe thân nặng nề như có vật ǵ đè lên, thân nhẹ nhàng muốn bay bổng, có những con li ti ḅ ngứa trên mặt, luồng điện từ xương sống chạy lên, có vật ǵ xúc chạm rợn người, thân muốn lay động, đầu lắc lơ, thấy phía trước có ánh sáng, nghe như có người nói bên lỗ tai…, tất cả những tướng ấy đều không nên chấp nhận hay sợ hăi. Phải quán nó là hư giả, vẫn giữ thân làm chủ không cho nó xâm phạm. Cho đến dù thấy ma hay thấy Phật cũng không mừng không sợ, v́ biết đều là tướng hư giả nên không chấp nhận. Nhà thiền nói “gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật” là thế. Vui mừng và sợ hăi là nhân của điên cuồng. Kinh Lăng Nghiêm nói về Ngũ ấm ma, mỗi đoạn kết thúc Phật dạy: “Nếu cho ḿnh chứng Thánh tức rơi vào bọn tà, không nghĩ chứng Thánh là cảnh giới tốt.” (Nhược tác Thánh giải tức thọ quần tà, bất khởi Thánh tâm tức thiện cảnh giới.) Cảnh tà hay tốt đều tại tâm ḿnh chấp mà ra. Đừng quan tâm đến ngoại cảnh, chủ yếu an tâm là đúng. Dù có cảnh dữ hiện ra vẫn là tướng biến hóa không thật, cái không thật làm ǵ hại được ḿnh mà sợ. Trong khi ngồi thiền thấy cảnh lạ, phần lớn là mơ, cần phải mở mắt tỉnh táo nh́n chúng, nếu nh́n mà chúng không mất th́ nhắm mắt lại tưởng năm uẩn này là không, tướng kia cũng không th́ khỏi sợ sệt.

e) Lợi ích tọa thiền:

Tọa thiền là một lối tu căn bản của đạo giác ngộ, đức Thích-ca ngày xưa cũng do tọa thiền được ngộ đạo, Giới Định Tuệ là ba cửa giải thoát của đạo Phật. Tọa thiền đúng pháp sẽ đem lại cho thân chúng ta sự điều ḥa khỏe mạnh, da dẻ tươi tốt, ít sanh bệnh hoạn. Khi nghe uể oải trong người sắp bị cảm, chúng ta ngồi thiền độ một tiếng đồng hồ là tan ngay. Nếu cảm gió hơi nặng, cần ngồi đôi ba lần mới hết. V́ ngồi thiền hơi nóng xông ra, mọi thứ khí lạnh đều bị tan nên hết cảm. Về phần tâm tán loạn, tọa thiền đuổi chúng nhanh hơn b́nh thường. Song có nhiều vị thấy lúc ngồi thiền loạn nhiều hơn ở ngoài, chẳng qua lúc ở ngoài cảnh động nên ít thấy tâm ḿnh động, khi tọa thiền cảnh đă vắng nên dễ thấy tâm động. Tâm động mà xả hết không theo, dần dần tịnh lại, đây là hiệu quả của tọa thiền. Bởi tọa thiền thiết yếu nên Tăng sĩ ít ai không tập tọa thiền. Chúng ta nghe Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương nói kệ:

Bế hộ sơ dung tẩu
Vi tăng nhạo tọa thiền
Nhất tâm vô tạp niệm
Vạn hạnh tự thông huyền
Nguyệt ấn thu giang tĩnh
Đăng minh thảo xá tiên
Kỷ nhân năng đáo thử
Đáo thử kỷ năng chân.

Đóng cửa dáng gầy nhác
Làm tăng thích tọa thiền
Nhất tâm không niệm tạp
Muôn hạnh tự thông huyền
Trăng in ḍng thu lặng
Đèn sáng nhà cỏ tươi
Mấy người hay đến đó
Đến đó mấy kẻ chân.

Tóm lại, phương pháp tọa thiền tuy đă chỉ qua mấy trang giấy này, song quí nhất là hành giả trực tiếp với những vị có thật tu thiền để được chỉ rơ cách tọa thiền và sửa cho những chỗ sai, kết quả sẽ tốt hơn.

C. HIỆU DỤNG.

Ứng dụng lối tu thiền của Thiền tông một cách đúng đắn, đạt hiệu quả không thể kể hết. V́ đây là lối tu siêu thoát tột đỉnh, thẳng tắt vô cùng. Nếu ứng dụng được viên măn th́ một đời giải thoát sanh tử, từ phàm phu tiến thẳng lên Phật quả, như nói: “Mê là chúng sanh, ngộ là Phật.” Bằng ứng dụng được phần nào th́ đă vào hàng Bồ-tát, tuy chưa thoát khỏi sanh tử, song đi trong sanh tử coi như dạo hoa viên. Thiền sư Từ Minh nói: “Sanh như đắp chăn Đông, tử như cởi áo Hạ.” Dưới con mắt các Thiền sư, thật cuộc đời là mộng huyễn không hoa, không có ǵ là chướng ngại. Công dụng hữu hiệu tạm chia làm hai phần:

1. Tánh giác là ḥn ngọc như ư:

Tất cả nhân loại không quí ǵ bằng sanh mạng, sanh mạng được coi trọng nhất trên nhân gian này. Bởi v́ tất cả của cải sự nghiệp, danh vọng tài sắc… đều để tô điểm cho sanh mạng. Mất sanh mạng tất cả cái ấy trở thành vô nghĩa. Song sanh mạng con người thời nay, nếu kéo dài lắm chỉ trong ṿng bảy tám mươi năm. Cái đau khổ nhất của con người là khi nghe ḿnh sắp mất sanh mạng. V́ thế bất cứ sự cầu khẩn, van xin, quị lụy, lạy lục nào miễn là được kéo dài thêm sanh mạng th́ họ sẵn sàng làm. Nhưng cuối cùng con người đành phải trói tay cúi đầu dưới nhát kiếm của con quỉ vô thường. Thật là mối đau khổ truyền kiếp không ai thoát được. Nếu có một phương pháp nào khiến con người thoát được cái chết th́ trên nhân gian này c̣n ǵ quí bằng! Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu quí vị phương thuốc hi hữu duy nhất trên đời, nếu quí vị uống nó vào th́ “bất tử”, chính là Tánh giác của quí vị đấy. Người giác ngộ Tánh giác là nhận ra được cái “bất tử”. V́ thế Tánh giác này được Phật dụ là ḥn ngọc như ư. Được ḥn ngọc này rồi, con người dứt sạch mọi đau khổ, mọi mong cầu đều toại nguyện. Nhưng rất tiếc, ḥn ngọc quí để bên gói bánh kẹo, với đứa bé lên năm bao giờ cũng quí gói bánh kẹo, xem thường ḥn ngọc. Cũng thế, Tánh giác thường hằng, đơn giản, hiện hữu nơi chúng ta, mà bị chúng ta lăng quên. Chúng ta cứ say mê theo cái tưởng tượng, cái nhớ nhung, cái suy tư, cái tính toán, cái so sánh… quên bẵng Tánh giác. Nếu có người chỉ thẳng Tánh giác ấy cho thấy, cũng vẫn xem thường. V́ thương đứa bé, muốn nó nhận ḥn ngọc để sau này no ấm đời đời, người trí phải nói với nó: “Ḥn ngọc này sẽ làm ra nhiều bánh kẹo, có nó th́ muốn bánh kẹo lúc nào cũng có, chẳng những bánh kẹo mà mọi đồ chơi cũng đầy đủ nữa.” Do thích bánh kẹo, ham đồ chơi, đứa bé nhận ḥn ngọc. Cũng vậy, đức Phật diễn tả trong kinh nào là Tam thân, Tứ trí, Ngũ nhăn, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v.v… và v.v…, đều đầy đủ nếu người nào ngộ được Tánh giác. V́ thích thần thông tự tại biến hóa vô cùng, chúng ta phát tâm Bồ-đề hướng về Tánh giác. Hoặc v́ tánh hiếu kỳ, ưa tưởng tượng quái dị, những người này không thích cái ǵ đơn giản b́nh dị, muốn chỉ Tánh giác thực hữu mà giản đơn cho họ, không sao tránh khỏi họ sẽ xem thường. Buộc ḷng đức Phật phải nói một cách khó khăn, quá sức tưởng tượng của họ, có thế họ mới quí trọng kính nể và t́m ṭi tu tập.

Thật sự Tánh giác lồng sẵn nơi con người xác thịt của chúng ta, nó lộ liễu từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư của chúng ta, song nó không phải mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. V́ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là phần vật chất do tứ đại ḥa hợp mà thành; tứ đại thể nó vô tri nên không phải Tánh giác. Ư là cái tâm vọng tưởng quấy động bám vào bóng dáng của trần cảnh, biến động sanh diệt, chợt có chợt không, chẳng phải Tánh giác. Bởi v́ Tánh giác là liễu tri thường hằng, không tướng mạo, không sanh diệt. Cho nên năm căn tiếp xúc với năm trần, liễu tri mà không so sánh phân biệt, đó là hiện tướng của Tánh giác. Nhẫn đến khi không có năm trần, Tánh giác cũng hằng lộ liễu như vậy. Bên trong ư thức dấy động hay dừng nghỉ, biết rơ mọi động tác của ư là Tánh giác. Nếu không Tánh giác, cái ǵ biết ư thức có động hay không động? V́ Tánh giác không động, không tướng mạo nên không sanh diệt. Sống được với Tánh giác là đi vào bất tử (vô sanh), sống với vọng tưởng là đi vào sanh tử. Bất tử là Niết-bàn giải thoát, sanh tử là luân hồi đau khổ. Vọng tưởng là cái động của Tánh giác, vọng tưởng lặng xuống là Tánh giác tṛn đầy. Chúng tôi mượn bài kệ của Thiền sư Thanh Hồng để kết thúc đoạn này:

Chân không trạm tịch duy thường tại
Bất giác lương điền vọng sở mông
Chân tánh hà tằng ly vọng hữu
Hoa khai hoa lạc tự xuân phong.

Chân không lặng lẽ thường c̣n măi
Chẳng biết lương điền vọng che lồng
Chân tánh đâu từng ĺa vọng có
Hoa khai hoa rụng tự gió xuân.

2. Tự tại khi chết:

Người tu thiền cốt yếu được sanh tử tự tại, khi sống cũng như khi chết ḿnh hoàn toàn làm chủ. Muốn làm chủ khi chết, chính lúc c̣n sống này ḿnh phải làm chủ cả thể xác lẫn tâm hồn. Như Thiền sư Đạo Giai nói: “Muốn biết khi chết được tự tại (hay) không tự tại, chỉ xem hiện tiền tự do (hay) chẳng tự do.” Tự do đây có nghĩa là ḿnh làm chủ ḿnh hoàn toàn, không phải tự do đối với xă hội. Đối với danh vọng tài sắc… không quấy nhiễu được ta, đối với khổ vui sống chết… không phiền lụy đến ta, ta sống trong cuộc đời phồn tạp mà vẫn không vướng bận, như cây bá hiên ngang đứng sừng sững giữa trời. Trong khi sống tự tại như vậy, đến lúc chết làm ǵ chẳng tự do. Tại sao được như vậy? Bởi v́ chúng ta đă thấy rơ cái không sanh tử ở trong cái sanh tử, có cái chân thật nằm trong cái giả dối. Các Thiền sư v́ sống với cái chân thật nên không màng đến cái giả dối, sống với cái không sanh tử nên làm chủ được cái sanh tử. Chúng ta hăy xem cái chết của Thiền sư:

Trước khi sắp tịch, Thiền sư Đặng Ẩn Phong hỏi chúng: “Tôi thường thấy các vị tiền bối khi tịch hoặc ngồi, hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?” Chúng thưa: “Có.” Sư hỏi: “Có vị nào lộn ngược tịch chăng?” Chúng thưa: “Chưa từng thấy.” Sư bèn lộn ngược mà tịch, nhưng y phục vẫn nguyên vẹn như đứng… (Đặng Ẩn Phong là đệ tử Mă Tổ).

Vua Đường Mục Tông sai Lưỡng nhai tăng lục là Linh Phụ đến thỉnh Thiền sư Vô Nghiệp về triều. Linh Phụ đến làm lễ thưa: “Hoàng Thượng ân chỉ phen này chẳng giống lúc thường, xin Ḥa thượng hăy thuận thiên tâm, không nên nói bệnh.” Sư cười chúm chím nói: “Bần đạo có đức ǵ làm phiền thế chủ. Mời các Ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.” Sư bèn tắm gội, đến giữa đêm bảo đệ tử Huệ Âm v.v…: “Các ngươi! Tánh thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sanh, chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng…” Nói xong Sư ngồi yên thị tịch. (Cũng là đệ tử Mă Tổ.)

Ông Bàng Uẩn sắp tịch, bảo con gái là Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vô cho ông hay. Linh Chiếu ra xem, vào thưa: “Mặt trời đă đúng ngọ mà có nhật thực.” Ông ra cửa xem. Linh Chiếu lên ṭa của ông, ngồi kiết-già chấp tay thị tịch. Ông vào xem thấy cười, nói: “Con gái ta lanh lợi quá!” Ông bèn chậm lại bảy ngày sau. Đến ngày thứ bảy Châu mục Vu Công đến thăm, ông bảo: “Chỉ mong các cái có đều không, dè dặt các cái không đều thật, khéo ở thế gian đều như bóng vang.” Nói xong ông nằm gác đầu trên đầu gối Vu Công mà tịch.

Thiền sư Lương Giới Động Sơn cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giă từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc măi không dứt, Sư mở mắt bảo: “Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích ǵ?” Sư bảo Chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn quyến luyến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Khi thọ trai Sư cũng theo chúng thọ. Thọ trai xong, Sư bảo chúng: “Tăng già vô sự, sắp đến giờ ta ra đi, chớ làm ồn náo.” Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. (Sư là đệ tử Vân Nham.)

Chỉ Y Đạo Giả đến tham vấn Tào Sơn Bổn Tịch. Tào Sơn hỏi: “Đâu chẳng phải Chỉ Y Đạo Giả ư?” Đạo Giả thưa: “Chả dám.” Tào Sơn hỏi: “Thế nào là việc của Chỉ Y?” Đạo Giả thưa: “Chiếc áo cừu vừa khoác ngoài thân, muôn pháp thảy đều như.” Tào Sơn hỏi: “Thế nào là dụng của Chỉ Y?” Đạo Giả lại gần: “Dạ!” Liền đứng tịch. Tào Sơn bảo: “Ngươi chỉ giỏi đi thế ấy, sao chẳng giỏi đến thế ấy?” Đạo Giả mở mắt hỏi: “Một Chân tánh linh khi chẳng nương bào thai th́ thế nào?” Tào Sơn bảo: “Chưa phải diệu.” Đạo Giả hỏi: “Thế nào là diệu?” Tào Sơn bảo: “Chẳng mượn! Mượn!” Đạo Giả trân trọng liền tịch. (Đệ tử Động Sơn.)

Một hôm Phổ Hóa ở trong chợ đến mọi người xin chiếc áo dài, mọi người đều cho, Phổ Hóa đều chẳng nhận. Lâm Tế dạy Viện chủ mua chiếc quan tài, Phổ Hóa về đến, Lâm Tế bảo: “Tôi đă v́ ông sắm chiếc áo dài rồi!” Phổ Hóa liền tự vác đi. Phổ Hóa đi quanh phố chợ rao: “Lâm Tế cho tôi chiếc áo dài rồi, tôi sang cửa Đông tịch.” Người trong chợ đua nhau đến xem. Phổ Hóa bảo: “Tôi ngày nay chưa tịch, ngày mai sang cửa Nam mới tịch.” Như thế đến ba ngày, mọi người đều chẳng tin. Đến ngày thứ tư không ai theo xem, một ḿnh Phổ Hóa tự chun vào quan tài, nhờ người đi đường đậy nắp lại. Tin truyền đi, mọi người trong chợ đua nhau đến giở quan tài xem, không thấy thi hài Phổ Hóa đâu, chỉ nghe trong hư không tiếng mơ xa dần, xa dần rồi mất. (Đệ tử Bàn Sơn.)

Thiền sư Thiện Chiêu bị Y Lư Hầu ba phen thỉnh trụ tŕ chùa Thừa Thiên mà Sư không đi. Sứ giả bị phạt. Y Lư Hầu lại sai sứ đi phen nữa. Sứ giả đến thưa: “Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầy không đi tôi liều chết mà thôi.” Sư cười bảo: “Bởi nghiệp già bệnh không thể xuống núi, giả sử đi có trước có sau, tại sao quyết đồng?” Sứ giả thưa: “Thầy chịu đi th́ trước sau tùy lựa chọn.” Bảo chúng sửa soạn hành lư xong, Sư gọi chúng lại nói: “Lăo tăng đi, có người nào theo được?” Có vị Tăng ra thưa: “Con theo được.” Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Năm mươi dặm.” Sư bảo: “Ngươi theo ta chẳng được.” Lại có vị Tăng ra thưa: “Con theo được.” Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Bảy mươi dặm.” Sư bảo: “Ngươi theo ta cũng chẳng được.” Thị giả ra thưa: “Con theo được, Ḥa thượng đến đâu th́ con đến đó.” Sư bảo: “Ngươi theo Lăo tăng được.” Nói xong, Sư bảo Thị giả: “Ta đi trước nghe!” Sư dừng lại rồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. (Sư là đệ tử Thiền sư Tỉnh Niệm ḍng Lâm Tế.)

Tạm dẫn bấy nhiêu cũng khá rườm lắm rồi, chúng tôi làm sao kể hết sự ra đi tự tại của các ngài. Tuy nhiên đối với các Thiền sư có những cái kỳ đặc, song đấy chẳng phải quan trọng, v́ đều là diệu dụng. Cái quan trọng nhất trong nhà Thiền là sống được Tánh giác của ḿnh, nó mới là Bản thể. Bản thể là cái gốc, diệu dụng là cái ngọn. Chỉ lo không bám được gốc, đừng sợ mất ngọn. Khi sống được với Thể giác rồi th́ mỗi hành động nào cũng là thần thông diệu dụng cả. Ông Bàng Long Uẩn nói kệ:

Nhật dụng vô biệt sự
Duy ngô tự ngẫu hài
Đầu đầu phi thủ xả
Xứ xứ vật trương quai
Châu tử thùy vi hiệu
Khưu sơn tuyệt điểm ai
Thần thông tịnh diệu dụng
Vận thủy cập ban sài.

Hằng ngày không việc khác
Chỉ tôi tự biết hay
Vật vật chẳng lấy bỏ
Chỗ chỗ nào trái bày
Đỏ tía ǵ làm hiệu
Núi g̣ bặt trần ai
Thần thông cùng diệu dụng
Gánh nước bửa củi tài.

Thần thông ở đây là gánh nước bửa củi, v́ mọi hành động ấy đều từ Thể giác phát xuất. Chúng ta lại nghe một bà già tŕnh thần thông:

Thiền sư Nam Tuyền, Qui Tông, Ma Cốc đi hành cước đến một cái quán của bà lăo. Quí vị kêu bà đem trà, bà bảo: “Quí Thầy tŕnh thần thông rồi sẽ uống trà.” Quí vị đưa mắt nh́n nhau. Bà bảo: “Quí Thầy xem già này tŕnh thần thông đây.” Bà liền tay cầm b́nh trà, tay bưng chung trà, nghiêng rót vào chung để xuống.

Quả là thần thông trong hành động, đừng nghĩ thăng thiên độn thổ mới là thần thông. Bởi bất cứ một tác động nào lưu xuất từ Bản thể đều là diệu dụng. Khổ nỗi, người tu hiện giờ chỉ trọng thần thông diệu dụng mà quên Bản thể. V́ thế nên dễ lạc vào đường tà, chính quỉ thần vẫn được Ngũ thông, làm sao giản trạch được đâu tà đâu chánh. Chỉ một bề trở về Tánh giác là muôn đời không lầm.

Tóm lại, hiệu dụng của người tu Thiền tông là nhận ra Tánh giác của chính ḿnh, Tánh giác này không sanh diệt, không tướng mạo mà hằng giác. Bởi hằng giác nên chẳng phải không, không tướng mạo nên chẳng phải có. Sống được với Tánh giác là thoát ly sanh tử, tuổi thọ của Tánh giác đồng với hư không. Cho nên trong kinh nói tuổi thọ của Phật không biết bao nhiêu tính kể. Đạt được tuổi thọ vô lượng vô biên ấy, c̣n ǵ hạnh phúc bằng, c̣n ǵ quí báu bằng. Sống với cái vĩnh cửu chẳng sanh chẳng diệt này mới thật là đến chỗ chân thật tuyệt đối. C̣n cái ǵ ở thế gian có thể so sánh với Tánh giác? Tánh giác này mới thật là ta (chân ngă), Tánh giác không bao giờ mất (chân thường), Tánh giác là chân thật hạnh phúc (chân lạc), Tánh giác không có ǵ nhiễm ô được (chân tịnh). Sống đến chỗ chân ngă, chân thường, chân lạc, chân tịnh này mới là điểm cứu kính Thiền tông.

Trong khi trở về cái chân thật th́ mọi cái giả dối giảm thiểu khả năng lôi cuốn chúng ta. Từ từ ta làm chủ lại chúng, ta điều khiển chúng theo chỗ muốn của chúng ta. Mọi khổ đau buồn thảm tự suy thối, không c̣n là điều quan trọng đối với chúng ta nữa. Với cái thân giả tạm, cái vọng tưởng hư ảo, sắc trần không hoa này, c̣n sức mạnh ǵ trói buộc chúng ta được. Bởi thấy được Ông chủ thật của ḿnh, mọi khách trần đều là tṛ đùa nên Thiền sư tự tại khi ra đi.

IV. ĐỨC PHẬT QUA CÁI NH̀N CỦA THIỀN TÔNG.

Thiền tông nh́n đức Phật khác cái nh́n của Phật tử thường. Mọi người Phật tử đều thừa nhận đức Phật là người Ấn Độ, sanh ra từ cung vua Tịnh Phạn, có đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đi xuất gia tu thành Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni. Song Thiền tông không thấy như thế.

A. THIỀN TÔNG NH̀N THẲNG PHÁP THÂN PHẬT.

Con mắt Thiền tông thấy Phật là Phật Pháp thân. Bởi ba thân Phật - Pháp thân - Báo thân - Hóa thân, Pháp thân là căn bản. Từ Pháp thân mới có Báo thân, Hóa thân hay Ứng thân. Báo thân, Hóa thân là tướng sanh diệt, Pháp thân mới là thân Kim cang bất hoại. Pháp thân tức là Tánh giác. Đức Thích-ca ngộ Tánh giác được thành Phật. Chúng ta mê Tánh giác nên làm chúng sanh. Phật khác với chúng sanh chỉ tại ngộ Tánh giác và mê Tánh giác. Tánh giác là Thể chân thật của Phật, đạt Tánh giác là thoát ly sanh tử luân hồi, vĩnh viễn bất tử. Đó là mục đích Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia tầm đạo. Tánh giác không tướng mạo nên không sanh diệt, thường c̣n, bất hoại. Tuy không tướng mạo mà hằng giác nên gọi là Phật. Bởi thấy Phật như thế nên nói: “Phật thường c̣n ở thế gian.” Nếu thấy Phật là thân ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, thân ấy đă hoại diệt mất rồi, thế là Phật không c̣n sao? Thái tử Tất-đạt-đa tầm đạo khổ tu, cuối cùng đi đến chỗ hoại diệt, làm sao gọi Ngài thành đạo? Làm sao gọi Ngài thoát ly sanh tử luân hồi? Do đó Thiền tông chỉ thấy Tánh giác hay Pháp thân là Phật, chớ không chấp nhận thân tướng tứ đại ḥa hợp làm Phật.

Bởi thấy Tánh giác không lệ thuộc vào thân tướng, nên Thiền tông thờ Phật không căn cứ vào thân Phật ở Ấn Độ, tùy người xứ nào liền tượng h́nh Phật giống người bản xứ ấy. Tánh giác lồng sẵn trong mỗi người, sùng thượng Tánh giác đâu cần bám vào h́nh thức người Ấn Độ mới gọi là Phật. Thờ Phật với quan niệm biểu trưng để nhắc nhở mọi người nhớ lại Tánh giác của ḿnh. Đức Phật ngồi trên bàn là giả, chính Tánh giác của ḿnh mới là ông Phật thật. Thế mà người ta quên Tánh giác đi, chỉ biết ông Phật ở ngoài, quên hẳn ông Phật nơi ḿnh. Thiền sư Tùng Thẩm nói: “Phật vàng không độ được ḷ đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi ở trong.” Những h́nh tượng Phật chúng ta thờ, đều là tướng duyên hợp, đă duyên hợp làm sao không bị duyên tan. Phật thật đang ngồi lồ lộ nơi thân ta, chúng ta bỏ quên ông Phật thật, chạy theo ông Phật giả. V́ thế Thiền sư Đơn Hà Thiên Nhiên mới làm việc kỳ quái này:

Sư đến chùa Huệ Lâm gặp tiết đại hàn, bèn lên chùa thỉnh tượng Phật gỗ đốt để hơ. Viện chủ Hướng trông thấy quở trách: “Sao đốt tượng Phật của tôi?” Sư lấy gậy bới trong tro nói: “Tôi thiêu để lấy xá-lợi.” Viện chủ bảo: “Phật gỗ làm ǵ có xá-lợi?” Sư nói: “Đă không có xá-lợi, thỉnh hai vị nữa thiêu.” Viện chủ nghe câu này, tất cả chấp đều tan vỡ. Người sau nói “Đơn Hà thiêu mộc Phật, Viện chủ lạc mi mao” (Đơn Hà thiêu Phật gỗ, Viện chủ rụng lông mày).

Xá-lợi là cái tinh ba cô đọng lại sau khi thiêu thân Phật. Thân Phật đă hoại hơn hai ngàn năm rồi, mà xá-lợi vẫn c̣n. So sánh trong tương đối, thân Phật là giả, xá-lợi là thật. Nương cái giả để thấy cái thật mới đúng tinh thần thờ Phật. Chỉ biết cái giả mà không thấy cái thật, tướng giả ấy trở thành vô nghĩa. V́ thế Thiền sư Đơn Hà bảo: “Đă không có xá-lợi, thỉnh hai vị nữa thiêu.” Viện chủ liền nhận được ư này.

B. PHÁP THÂN CÓ SẴN NƠI MỌI CHÚNG TA.

Quay lại Tánh giác sẵn có nơi mọi chúng ta là biết trở về với Phật. Chạy sang Tây thiên Đông độ cầu Phật, càng cầu, càng xa. Chính v́ chúng ta quên Tánh giác của ḿnh nên xem thấy Phật cao siêu xa vời, quá tầm vóc của ḿnh. Nếu mọi người nhận được Tánh giác th́ đâu c̣n thấy Phật ngoài chúng ta. Lỗi lầm to lớn nhất là tại chúng ta có Phật mà không dám tự nhận. Hăy nghe ông Sa-di Cao đối đáp với ngài Dược Sơn:

Dược Sơn hỏi: “Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?” Sa-di Cao thưa: “Nước con an ổn.” Dược Sơn hỏi: “Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?” Sa-di thưa: “Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.” Dược Sơn hỏi: “Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, tại sao chẳng được?” Sa-di thưa: “Chẳng nói họ không được, chỉ v́ họ không chịu thừa nhận.”

Bởi không dám thừa nhận Tánh giác của ḿnh, nên người ta chạy cầu Phật bên ngoài. Càng chạy ra ngoài, người ta càng sa lầy trong mê lầm. Phật bên ngoài chỉ là đối tượng để cảnh giác chúng ta thức tỉnh. Trái lại, chúng ta không thức tỉnh mà đi xin xỏ, ỷ lại vào Phật bên ngoài. Thế là đă mê lại thêm mê. Cần phải thức tỉnh, nhận Tánh giác hay Pháp thân Phật ngay nơi thân năm uẩn này, mới thật người đạt đạo. Chúng ta hăy nghe bà ni Liễu Nhiên nói kệ Pháp thân:

Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường
Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang
Nhược năng ư thử phi đồng dị
Tức thị Hoa nghiêm biến thập phương.

Trên đầu núi năm uẩn là ngôi nhà Phật xưa
Phật Pháp thân đêm ngày hằng phóng hào quang ra sáu cửa
Nếu người khéo ở nơi đây không khởi tâm phân biệt
Tức là Hoa nghiêm (Pháp thân) khắp cả mười phương.

Tóm lại, Thiền tông nh́n Phật bằng Tướng chân thật Pháp thân, cho nên thấy Phật đă có từ vô lượng kiếp, tuổi thọ của Phật bằng tuổi hư không. Phật Pháp thân nằm sẵn trong nhà năm uẩn của mọi chúng ta. Chúng ta tu hành cốt trở về với ông Phật sẵn có của chính ḿnh. Sống trọn vẹn với ông Phật của ḿnh gọi là thành đạo chứng quả.

V. THIỀN TÔNG VỚI CÁC KINH ĐẠI THỪA.

Thiền là tâm của Phật, kinh là miệng của Phật. Đức Phật tâm miệng tương ưng, cho nên đem kinh đối chiếu với Thiền là một cuộc tao phùng kỳ thú. Kinh Đại thừa quá nhiều, ở đây chúng tôi chỉ đơn cử năm ba bộ, thường được Phật tử đọc tụng và hiểu biết. Mỗi bộ chúng tôi chia: liên hệ Thiền sử, chủ đích, đối chiếu chi tiết và toát yếu toàn bộ.

A. KINH LĂNG-GIÀ.

1. Liên hệ Thiền sử:

Tổ Bồ-đề-đạt-ma sau khi truyền y bát cho Tổ Huệ Khả, Ngài c̣n trao cho bốn quyển kinh Lăng-già để làm tâm ấn. Cho nên kinh Lăng-già trong nhà Thiền được coi là một bộ kinh để tâm ấn.

2. Chủ đích:

Câu: “dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn” của kinh Lăng-già đă nói lên chủ đích của kinh này rồi. “Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa pháp” là toát yếu toàn thể bộ kinh. Cửa vào của kinh Lăng-già là Trí tuệ Bát-nhă thấy các pháp như huyễn, cứu kính của kinh là nhận ra Bản tâm chân thật. Câu này cũng là tông chỉ của Thiền tông. Chúng ta nghe bài kệ của Bồ-tát Đại Huệ tán thán Phật trong phần Tự:

Thế gian ĺa sanh diệt
Ví như hoa hư không
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Tất cả pháp như huyễn
Xa ĺa nơi tâm thức
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Xa ĺa chấp đoạn, thường
Thế gian hằng như mộng
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi.
Biết nhân, pháp vô ngă
Phiền năo và sở tri
Thường thanh tịnh không tướng
Mà khởi tâm đại bi.
Tất cả không Niết-bàn
Không Niết-bàn của Phật
Không có Phật niết-bàn
Xa ĺa giác, sở giác
Hoặc có, hoặc không có
Cả hai thảy đều ĺa.
Quán Mâu-ni tịch tĩnh
Thế là xa ĺa sanh
Ấy gọi là chẳng thủ
Đời này đời sau tịnh.

Trong bài tán Phật này, thấy rơ chủ yếu của kinh Lăng-già. Bốn câu đầu, thấy thế gian này chẳng thật có sanh, chẳng thật có diệt, ví như hoa đốm trong hư không, trí Bát-nhă chẳng kẹt nơi có nơi không mà khởi tâm đại bi. Bốn câu kế, thấy tất cả pháp như huyễn, nên xa ĺa vọng thức phân biệt, trí Bát-nhă chẳng dính vào có và không, mà khởi tâm đại bi. Bốn câu tiếp, thấy thế gian như mộng chẳng thật, phá được cái chấp đoạn kiến và thường kiến, trí Bát-nhă chẳng mắc có và không, mà khởi tâm đại bi. Bốn câu kế, thấy người vô ngă, pháp vô ngă, nên phiền năo chướng và sở tri chướng thường được thanh tịnh không dấy khởi, mà phát tâm đại bi. Sáu câu tiếp, không thấy thật có Niết-bàn th́ đâu có Niết-bàn của Phật, cũng không thấy Phật vào Niết-bàn, tức là ĺa được chấp có Phật năng giác và Niết-bàn sở giác, tất cả cái chấp hai bên thảy đều ĺa. Bốn câu chót, phải nhận ra Pháp thân tịch tĩnh, là xa ĺa sanh tử, đó gọi là không chấp, muôn đời được thanh tịnh.

Suốt bài kệ có hai mươi bốn câu, hai mươi hai câu trên là chỉ thẳng cửa Không, bốn câu chót chỉ ra Tâm thể. Mâu-ni tịch tĩnh là chỉ Phật pháp thân, Pháp thân này nằm sẵn trong chúng sanh, gọi là Chân tâm hay Phật tánh. Đối chiếu với Thiền tông th́ hai mươi hai câu trên nằm trong hai phần giác ngộ hạ và trung, “vô ngă” và “vô niệm”, bốn câu sau là phần giác ngộ thượng “tri hữu”. Tóm lại, kinh Lăng-già và Thiền tông đă đồng hóa nhau, chủ đích kinh Lăng-già là chủ đích Thiền tông, không c̣n ǵ phải so sánh đối chiếu.

3. Đối chứng chi tiết:

Qua một trăm lẻ tám câu hỏi của Bồ-tát Đại Huệ, đức Phật chỉ trả lời bằng một chữ “phi” hay chữ “bất”. Để rơ ràng câu trả lời Phật lặp lại câu hỏi rồi đặt vào một chữ “phi” đáp cho tất cả. Cũng thế, Thiền sư Vô Nghiệp khi có Thiền khách đến hỏi bất cứ câu ǵ, Ngài cũng trả lời bằng câu: “Chớ vọng tưởng”. Hơn nữa Thiền sư Vân Môn, mỗi khi đáp câu hỏi của người, Ngài thường dùng một chữ hoặc “cố” hoặc “giám” hoặc “di”.

Đến phần “chỉ Phật giác tự chứng, không thể nói bày”, Phật toát yếu bằng bài tụng:

Ta đêm ấy thành đạo
Đến đêm ấy niết-bàn
Ở trong khoảng giữa này
Ta trọn không có nói
Duyên tự đắc pháp trụ
Nên ta nói thế ấy
Phật kia cùng với ta
Thảy không có sai biệt.

Trong chỗ tự chứng không thể nói ra được, có nói ra đều không đúng sự thật. Pháp thân không có tướng mạo, không có danh tự, dùng danh tự diễn tả, mượn tướng mạo so sánh, đều trái với Tự thể. Cho nên đức Phật nói: “Từ khi thành đạo đến nhập Niết-bàn, trong khoảng giữa chưa từng nói một câu.” Chỗ không nói một câu đó, để chỉ Pháp thể tự chứng ngoài ngôn ngữ văn tự. Có vị Tăng đến hỏi Thiền sư Bảo Triệt: “Thế nào là đại ư Phật pháp?” Sư lặng thinh. Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi Hoàng Bá: “Thế nào là đại ư Phật pháp?” Hoàng Bá liền đánh. Lâm Tế ba phen hỏi là ba phen ăn đ̣n. Đến đây chúng ta thấy yếu chỉ Phật, Thiền sư nào có khác nhau. Trên phương tiện, Phật c̣n dùng lời, Thiền sư chỉ im lặng hoặc đánh, đều thầm chỉ cái phi ngôn ngữ ấy.

Đoạn nói về Thuyết và Tông, đức Phật kết thúc bằng bốn câu tụng:

Ta nói hai thứ thông
Tông thông và ngôn thuyết
Thuyết là dạy đồng mông
Tông v́ người tu hành.

Thuyết là giáo, tông là thiền; hoặc thuyết là lời nói, tông là tâm. Ở đây Phật đă nói rơ, người sơ cơ Ngài dùng thuyết để dạy họ, người đạt đạo tu hành Ngài dùng tông chỉ cho họ. Thế th́ Giáo và Thiền ở trong kinh Lăng-già này, chúng ta thấy hệ trọng dường nào.

Đoạn chỉ Như Lai chẳng sanh chẳng diệt, không đồng với ngoại đạo, phần kết đức Phật nói tụng, đoạn chót của tụng:

Như thầy trị các bệnh
Không có bao nhiêu luận
V́ bệnh có sai biệt
Nên lập các thứ trị
Ta v́ chúng sanh kia
Phá hoại các phiền năo
Biết căn kia hơn kém
V́ nói độ môn kia
Phi gốc phiền năo khác
Mà có các thứ pháp
Chỉ nói pháp Nhất thừa
Ấy tức là Đại thừa.

Phật không lập một pháp cố định nào hết, chỉ v́ bệnh phiền năo của chúng sanh có nhiều thứ, tạm bày các độ môn khác nhau. Như ông thầy thuốc, chỉ tùy bệnh nhân mà cho nhiều toa thuốc khác nhau. Đến tột cùng gốc của phiền năo không có nhiều thứ, chỉ một cái mê thôi, nên Phật cũng chỉ dạy một thừa là Đại thừa hay giác ngộ. Thiền sư Đức Sơn thượng đường nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp dạy người.” Thiền sư Lâm Tế nói: “Ta không có một pháp để chỉ dạy người, cốt v́ họ nhổ đinh tháo chốt thôi.” Thế th́, chúng ta thấy Phật và Thiền sư chỗ dạy nào có khác nhau.

4. Toát yếu toàn bộ:

Nội dung kinh Lăng-già, đức Phật tạm dựng lập: tám thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngă… Trước giải thích tám thức: 1. Nhăn thức, 2. Nhĩ thức, 3. Thiệt thức, 4. Tỹ thức, 5. Thân thức, 6. Ư thức, 7. Ư căn, 8. Tàng thức. Để thấy rơ ư nghĩa của tám thức, chúng ta hăy nghe bài tụng đức Phật trùng tuyên:

Ví như sóng biển cả
Đây do gió mạnh thổi
Sóng to vỗ biển rộng
Không có khi đoạn dứt
Biển tàng thức thường trụ
Gió cảnh giới nổi dậy
Lớp lớp các sóng thức
Ào ạt mà chuyển sanh.
Các thứ sắc xanh đỏ
Kha, sữa và đường phèn
Vị lạt các hoa quả
Nhật nguyệt cùng ánh sáng
Chẳng khác không chẳng khác
Nước biển nổi sóng ṃi
Bảy thức cũng như vậy
Tâm cùng ḥa hợp sanh
Ví như nước biển đổi
Lớp lớp sóng ṃi chuyển
Bảy thức cũng như vậy
Tâm cùng ḥa hợp sanh.
Là chỗ tàng thức kia
Bao nhiêu các thứ chuyển
Là do ư thức kia
Suy nghĩ nghĩa các tướng
Tướng chẳng hoại có tám
Vô tướng cũng vô tướng
Ví như biển sóng ṃi
Thế là không sai biệt
Các thức tâm như thế
Khác cũng không thể được.
Tâm tên gom góp nghiệp
Ư tên rộng gom góp
Các thức, thức sở thức
Cảnh hiện thấy nói năm.

Tám câu kệ đầu, Phật nói nguyên nhân có thức dấy khởi tương tục. Biển cả dụ tàng thức, gió mạnh dụ trần cảnh, sóng to vỗ dụ cả bảy thức. Biển tàng thức nguyên không có sóng, do ư thức duyên theo trần cảnh nên sóng bảy thức đều nổi dậy tiếp tục không dứt. Biển tàng thức là thường trụ, sóng bảy thức nổi dậy lớp lớp khác nhau ào ạt, dấy động là vô thường.

Mười hai câu kệ kế, bốn câu trước nói tên các trần cảnh, tám câu sau nói tuy có cảnh, thức dường như khác nhau, song vẫn không khác nhau, v́ cùng tàng thức ḥa hợp sanh. Ví như các lượn sóng khác nhau, mà đồng một thể nước.

Bốn câu tiếp nói, tàng thức là biển chứa các sóng thức, gốc tại ư thức suy nghĩ phân biệt các tướng, nên các sóng thức kia nổi dậy.

Sáu câu tiếp nói, tám thức trên giả tướng th́ hoại, mà trên Thật thể th́ không hoại, v́ đồng một thể từ tàng thức phát sanh. Ví như bao nhiêu lượn sóng trên mặt biển có khi nổi, khi lặn, tướng có to có nhỏ, song thể nước của các lượn sóng nào có khác nhau và có mất bao giờ.

Bốn câu kệ chót nói, tàng thức là gom chứa chủng tử các nghiệp, Ư căn mang chủng tử vào tàng thức nên rộng gom góp, các thức kia duyên theo năm trần cảnh là cái bị phân biệt.

Tóm lại, đức Phật phân chia làm tám thức là tùy tướng dụng riêng biệt của mỗi cái, Thật thể vẫn không khác nhau. Mọi sự dấy động ào ạt của sóng thức, đều do ư thức chạy theo phân biệt trần cảnh. Một khi ư thức dừng phân biệt, sóng bảy thức dừng lặng trở về mặt biển tàng thức trong veo, tướng bất sanh bất diệt hiện tiền. Thế là, thấy rơ trong tướng sanh diệt, có cái thể bất sanh diệt ngay nơi tám thức. Trở về thể bất sanh diệt gọi là Như Lai tàng.

Năm pháp tức là: danh, tướng, phân biệt (giác tưởng), chánh trí, như như. Bởi phân biệt danh và tướng nên tạo nghiệp thọ khổ trong sanh tử luân hồi. Biết rơ danh, tướng không thật, duyên hợp, như huyễn hóa, vọng tưởng phân biệt cũng hư giả, là chánh trí. Do chánh trí thấy rơ Thật tướng của danh, tướng và phân biệt, nên không duyên chấp, trở thành như như. V́ thế, danh, tướng và phân biệt là chiều mê; chánh trí, như như là lối giác. Phân biệt là động cơ chính của mê, chánh trí là động cơ chính của giác.

Ba tự tánh chính là: Biến kế sở chấp tánh, Y tha khởi tánh và Viên thành thật tánh. Biến kế sở chấp tánh là chạy theo danh tướng, bám chặt vào nó. Danh tướng không thật mà lầm chấp là thật, đeo đuổi măi không thôi. Y tha khởi là biết danh tướng, do duyên hợp mà có, mỗi pháp đều không có tự tánh, phải nương pháp khác mới sanh khởi được. Bởi biết các pháp do duyên khởi nên dứt cái lầm chấp của biến kế, trở về Viên thành thật. Trong ba tánh, biến kế là chấp sai lầm, y tha thấy được duyên khởi, viên thành hoàn toàn chân thật. Chúng ta hăy nghe bài tụng của Phật, liên hệ cả năm pháp và ba tự tánh:

Danh, tướng giác tưởng
Chánh trí, như như
Tự tánh hai tướng
Ấy là thành tướng.

Bài kệ này, hai câu trên chỉ cho năm pháp, hai câu dưới chỉ cho ba tự tánh. Ba tự tánh không ĺa năm pháp, biến kế tương đương với giác tưởng, y tha tương đương với chánh trí, viên thành tương đương với như như. Biến kế sở chấp là chấp cái ǵ? - Tức là chấp danh, tướng. Y tha khởi là biết cái ǵ? - Cũng biết danh, tướng. Thế là năm pháp và ba tự tánh không rời nhau.

Hai vô ngă tức là: nhân vô ngă, pháp vô ngă. Nơi người không chấp thật ngă, nơi pháp không chấp thật ngă. Phá được hai thứ chấp ngă này, quả là người giác ngộ. Phật toát yếu hai vô ngă như sau:

Khéo biết hai vô ngă
Hai chướng phiền năo đoạn
Hằng ĺa hai thứ tử
Ấy gọi tri giác Phật.

Người khéo biết hai thứ vô ngă, tức ĺa được hai chướng, phiền năo và sở tri, dứt hẳn được hai thứ tử, phần đoạn và biến dịch. Thấy biết được như vậy là cái thấy biết của Phật.

Tóm lại bộ kinh Lăng-già là tâm ấn của Thiền gia, bao nhiêu lời kinh là bao nhiêu ư thiền, kinh và thiền c̣n chỗ nào không tương ưng nhau? Chỉ tại người tu thiền cũng như kẻ học kinh không nỗ lực nghiên cứu trở thành mờ mịt ấy thôi.

B. KINH KIM CANG.

1. Liên hệ Thiền sử:

Lục tổ Huệ Năng khi c̣n là cư sĩ, gánh củi vào nhà người mua, nghe nhà bên cạnh tụng kinh Kim Cang, Ngài liền có tỉnh. Sau đó Ngài đi xuất gia t́m đến Ngũ Tổ. Khi được Ngũ Tổ cho vào thất, cũng đem kinh Kim Cang giảng cho Ngài nghe. Nghe đến câu: “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền đại ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bát và tiễn đi trong đêm ấy.

2. Chủ đích:

Chủ đích kinh Kim Cang chỉ nằm trong hai câu hỏi của Tôn giả Tu-bồ-đề: “Khi người nam lành, người nữ lành phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao an trụ? làm sao hàng phục tâm ấy?”

Đức Phật trả lời hàng phục tâm tóm lược bằng cách độ tất cả chúng sanh (vọng tưởng) vào Vô dư Niết-bàn, mà không thấy có chúng sanh (vọng tưởng) được diệt độ, v́ không c̣n thấy có bốn tướng. Nói một cách dễ hiểu hơn, đưa tất cả vọng tưởng vào chỗ vô sanh, v́ mọi chấp ngă đều sạch.

Phật trả lời về an trụ tâm rằng: “Bồ-tát nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là không trụ sắc bố thí, không trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.” Nói một cách dễ hiểu, Bồ-tát nên buông xả, không dính mắc, buông xả sáu trần không dính mắc tướng. Chữ bố thí là buông xả, chữ trụ là dính mắc.

Thế là, người phát tâm cầu thành Phật, muốn hàng phục và an trụ, cần phải đưa tất cả vọng tưởng vào vô sanh, buông xả sáu trần không dính mắc tướng. Tóm lại, ngoài không dính mắc năm trần, trong không theo vọng tưởng, đó là hàng phục tâm và an trụ tâm. Thế th́, chủ đích kinh Kim Cang với chủ đích Thiền tông nào có khác. Người tu thiền muốn được hằng sống với Tánh giác th́ trong không theo vọng tưởng, ngoài không mắc năm trần. Bởi lẽ đó, Lục Tổ nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ đạo.

3. Đối chứng chi tiết:

Trong phần mười bảy “Cứu kính vô ngă”, có đoạn Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề: “Này Tu-bồ-đề! Thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu-bồ-đề! Nếu có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác th́ Phật Nhiên Đăng không thọ kư cho ta…” Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn thượng đường, có vị Tăng hỏi: “Ḥa thượng ở chỗ Đức Sơn (thầy của Tuyết Phong) được pháp ǵ về đây dạy chúng?” Tuyết Phong đáp: “Ta khi xưa đi tay không, về tay không.” Quả thật, nếu thấy có pháp sở đắc tức là có ngă nhân rồi. Thế nên, chỗ thấy của Thiền sư nào có khác chỗ thấy của Phật. Chẳng những không có pháp sở đắc, cũng không có pháp để nói.

Trong phần hai mươi mốt “Phi thuyết sở thuyết”, Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề: “Này Tu-bồ-đề! Ông chớ nói Như Lai nghĩ thế này: ‘ta sẽ có pháp để nói’, chớ nghĩ thế ấy. V́ cớ sao? Nếu người nói Như Lai có pháp để nói, tức là phỉ báng Phật, không thể hiểu chỗ ta nói. Này Tu-bồ-đề! Nói pháp, không pháp để nói, ấy gọi là nói pháp…” Đây thật phù hợp với tinh thần Thiền tông, không thấy có một pháp để cho người, song hằng thượng đường thuyết pháp.

Phần thứ hai mươi sáu “Pháp thân phi tướng”, Phật hỏi Tôn giả Tu-bồ-đề: “Này Tu-bồ-đề! Ư ông nghĩ sao, có thể do ba mươi hai tướng mà xem Như Lai chăng?” Tu-bồ-đề thưa: “Như thế, như thế, do ba mươi hai tướng mà xem Như Lai.” Phật bảo: “Này Tu-bồ-đề! Nếu do ba mươi hai tướng mà xem Như Lai th́ vua Chuyển Luân tức là Như Lai…” Như Lai ở đây là Pháp thân Phật. Nếu người chấp vào thân có đủ ba mươi hai tướng cho là thân Phật th́ vua Chuyển Luân có đủ ba mươi hai tướng, ắt là Phật rồi sao? Chính kinh Kim Cang Phật nói rơ Phật là Tánh giác, chớ không phải thân xác thịt. Thế là kinh này với cái nh́n của Thiền tông về đức Phật nào có khác nhau.

4. Toát yếu toàn bộ:

Toàn bộ kinh Kim Cang chỉ gọn ghẽ nằm trong hai câu hỏi của Tôn giả Tu-bồ-đề, bằng một điệp khúc “hàng phục tâm và an trụ tâm”. Chúng ta muốn thấy rơ ư trả lời của Phật có thể đúc kết trong hai bài kệ này. Chúng ta sắp ngược thứ tự để thấy ư rơ hơn:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.

Tất cả pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bóng, bọt
Như sương cũng như điện
Nên khởi quán như thế.

Phật dạy chúng ta nên khởi quán tất cả pháp hữu vi như giấc mộng huyễn hóa, ḥn bọt, cái bóng, sương mù, điện chớp. Pháp hữu vi là những cái có h́nh tướng, có động tác, tóm lại là sáu trần bên ngoài, sáu căn nơi thân và sáu thức bên trong. Nếu chúng ta thấy căn, trần, thức đều là mộng huyễn… th́ phá được cái ngu si chấp ngă nơi thân, chấp ngă trong tâm và chấp pháp bên ngoài. Dùng Trí tuệ Bát-nhă hằng soi sáng như vậy tức là đă vào cửa Thiền tông.

Bài kệ tiếp:

Nhược dĩ sắc kiến ngă
Dĩ âm thanh cầu ngă
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.

Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.

Phật nói kinh là v́ chúng sanh chớ không v́ Phật. Chữ Như Lai ở đây là chỉ Pháp thân Phật, chính là Tánh giác sẵn có nơi mọi chúng sanh. Nếu chạy theo sắc tướng thanh âm mà cầu Phật, tức là cầu Phật ngoài tâm. Ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo, nên nói: “Người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Phật muốn chỉ thẳng cho chúng ta thấy Phật là Tánh giác thường hằng của mọi người. Đức Thích-ca do ngộ Tánh giác ấy được thành Phật. Mọi người chúng ta muốn cầu Phật phải xoay lại Tánh giác của chính ḿnh liền thấy Phật. Chạy theo Phật bằng h́nh sắc, thanh âm là Phật bên ngoài, Phật sanh diệt. Đă sanh diệt là vô thường, c̣n bị vô thường tức c̣n luân hồi, làm sao giác ngộ giải thoát mà gọi là Phật. Chỉ có Pháp thân vô tướng, hằng giác, chẳng sanh chẳng diệt, Phật Thích-ca đă chứng được, chúng ta có cầu nên cầu thẳng nơi đó liền thấy Như Lai. Thấy Như Lai tức nhận được Tánh giác, sống với Ông chủ của chính ḿnh, đây là chỗ giác ngộ cứu kính của nhà Thiền. Thế nên, Lục Tổ nghe đến đoạn “chẳng nên dính nơi sắc mà sanh tâm, chẳng nên dính thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm, nên không có chỗ dính mắc mà sanh tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” (bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm) liền được thấy Pháp thân thanh tịnh của chính ḿnh. Chỗ ngộ của Lục Tổ và bài kệ ngắn này, chúng ta thấy Phật dạy nào có khác. Chỉ v́ chúng ta ngu mê ám chướng, nên lời Phật dạy tỏ rạng như ban ngày mà chúng ta đọc mờ mịt không hiểu, có khi hiểu lệch lạc, trở thành xuyên tạc Phật là khác. Chính v́ thế, có người nghe bài kệ này rồi quở trách trong chùa tại sao c̣n thờ Phật tượng là sắc tướng, tại sao c̣n đánh chuông gơ mơ, tụng kinh là âm thanh, quả là hành đạo tà không thể thấy Phật. Thế rồi làm sao để thấy Phật đây? Họ lại mờ mịt không hiểu. Đó là xuyên tạc Phật. Nếu nhân Phật tượng để nhớ lại Tánh giác, nhân tụng kinh để dừng vọng niệm không chạy theo sáu trần, có lỗi ǵ?

Tóm lại, bài kệ trước là hàng phục tâm, bài kệ sau là an trụ tâm của Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi. Hai bài kệ đă đầy đủ ư nghĩa của toàn quyển kinh.

C. KINH LĂNG NGHIÊM.

1. Liên hệ Thiền sử:

a) Thiền sư Tông Nhất pháp danh Sư Bị ở Huyền Sa. Sư nhập thất quên mất sớm chiều, lại xem kinh Lăng Nghiêm phát minh tâm địa. Do đó Sư ứng đối lẹ làng cùng kinh điển phù hợp. Những vị huyền học ở các nơi chưa giải quyết nghi ngờ đều đến cầu Sư chỉ dạy.

b) Thiền sư Pháp Loa, Tổ thứ hai phái Trúc Lâm Việt Nam. Sư được Điều Ngự thu làm đệ tử, dạy Sư đến tham vấn Ḥa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây Sư t́m đủ cách thưa hỏi mà vẫn không khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Lăng Nghiêm đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ khách trần, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư có chỗ vào.

2. Chủ đích:

Chủ đích kinh Lăng Nghiêm, Phật cốt chỉ ra cho hội chúng biết mọi người đều có Tánh giác trong sáng, gọi là Tánh giác diệu minh hay Như Lai tạng hoặc Chân tâm. Tánh giác này phát sáng nơi sáu căn, nên nói: “Nhất tinh minh sanh lục ḥa hợp.” Song chúng sanh quên Tánh giác này, chạy theo sáu căn, phân biệt sáu trần, nên bị luân hồi sanh tử. Muốn ngộ Tánh giác phải nương cái sáng từ sáu căn phát ra mà trở về. Đây là chân lư muôn đời của chư Phật. Cho nên chư Phật ở mười phương, nhiều như số vi trần, khác miệng đồng lời, bảo Tôn giả A-nan: “Lành thay A-nan! Ông muốn biết ‘câu sanh vô minh’, cái gốc khiến ông luân hồi sanh tử, chỉ là ‘sáu căn của ông’, không có ǵ khác. Ông muốn biết ‘Vô thượng Bồ-đề’, khiến ông chóng chứng an lạc giải thoát, tịch tịnh diệu thường, cũng chính là ‘sáu căn của ông’, không có vật nào khác.”

Sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là gốc giải thoát, nguyên nhân tại sao sai biệt như vậy? Chúng ta hăy nghe Phật nói: “Tri kiến mà lập tri là gốc vô minh; tri kiến mà không kiến đây là Niết-bàn.” (Tri kiến lập tri tức vô minh bản, tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn.) Trong cái thấy biết, chạy theo phân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, không phân biệt là Niết-bàn. Đó là con đường trở về Tánh giác. Trong sáu căn, ở đây đặt nặng Tánh nghe nhiều hơn. Cho nên trong phần chọn lựa căn để tu, ngài Văn-thù có đoạn nói: “Đại chúng và A-nan! Bảo các ông xoay cơ quan nghe, trở lại nghe cái Tánh nghe, là thành đạo Vô thượng. Viên thông thật như thế, đây là con đường vào cửa Niết-bàn của chư Phật nhiều như số vi trần. Chư Phật đời quá khứ cũng từ cửa này thành tựu. Chư Bồ-tát hiện tại đều vào viên minh và những người tu học đời vị lai cũng y pháp như thế.”

Phật và Bồ-tát đều xác nhận “nghe lại Tánh nghe của ḿnh” là con đường vào cửa Niết-bàn. Đây là lối tu trở về Tánh giác, do kinh này chủ trương. Tu như thế, tức là “Tự tánh thanh tịnh thiền” của Thiền tông.

3. Đối chứng chi tiết:

Chủ yếu của kinh Lăng Nghiêm là từ “nhất tinh minh sanh lục ḥa hợp”. Thiền sư không nói danh từ kinh, song lúc nào cũng sống và thực hiện đúng như vậy. Chúng ta hăy nghe lời đối đáp của ngài Dược Sơn với Thiền sư Đàm Thạnh. Dược Sơn hỏi: “Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?” Sư thưa: “Phải.” Dược Sơn hỏi: “Múa được mấy xuất?” Sư thưa: “Múa được sáu xuất.” Dược Sơn nói: “Ta cũng múa được.” Sư hỏi: “Ḥa thượng múa được mấy xuất?” Dược Sơn đáp: “Ta múa được một xuất.” Sư nói: “Một tức sáu, sáu tức một.” Qua mấy câu đối đáp này, có thấy đạo lư ǵ đâu, tuy nhiên tràn trề đạo lư trong ấy.

Kinh Lăng Nghiêm đă dạy “sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là gốc Niết-bàn”. Người muốn trở về Chân tánh, không có lối nào khác hơn là phải nương vào sáu căn. Thiền sư chỉ dạy lối này rất linh động và đơn giản: Thiền sư Huệ Tịch đến phiên chăn trâu dưới sườn núi, thấy một vị Tăng lên núi, không bao lâu lại xuống. Sư hỏi: “Thượng tọa sao không lưu lại trong núi?” Tăng nói: “Chỉ v́ nhân duyên chẳng hợp.” Sư hỏi: “Có nhân duyên ǵ thử nói xem.” Tăng nói: “Ḥa thượng hỏi tôi tên ǵ, tôi đáp Qui Chân. Ḥa thượng hỏi Qui Chân ở đâu, tôi đáp không được.” Sư bảo: “Thượng tọa trở lên thưa với Ḥa thượng, con nói được. Ḥa thượng hỏi nói thế nào th́ nên đáp trong mắt, trong tai, trong mũi…” Vị Tăng trở lại nói đúng như Sư dạy. Qui Sơn quở: “Kẻ nói suông vô ích, đây là lời bậc Thiện tri thức của năm trăm người.” Hỏi tên Qui Chân ở chỗ nào, chỉ thẳng trong mắt, tai, mũi… quả thật đă giải thích sáu căn là gốc Bồ-đề Niết-bàn vậy.

Thiền sư Thiệu Long đến tham vấn Viên Ngộ. Viên Ngộ dẫn một câu trong kinh Lăng Nghiêm nói: “kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập”, liền đưa tay lên hỏi: “Thấy không?” Sư thưa: “Thấy.” Viên Ngộ bảo: “Đầu lại thêm đầu.” Viên Ngộ hỏi tiếp: “Thấy cái ǵ?” Sư thưa: “Tre dày không ngại nước chảy qua.” (Trúc mật bất pḥng lưu thủy quá.) Viên Ngộ gật đầu. Nguyên văn câu kinh đại khái nói: “Khi thấy được cái bị thấy, cái hay thấy chẳng phải là cái bị thấy, cái hay thấy vẫn xa rời cái bị thấy, cái bị thấy không thể theo kịp.” Thiền sư liền đưa tay hỏi: “Thấy không?” Thông thường ai cũng bảo là thấy. Nói thấy, Thiền sư bảo: “Đầu lại thêm đầu.” Tại sao? Nếu chỉ thấy khi cái tay đưa lên, lúc tay không đưa lên là chẳng thấy sao? Muốn nghiệm kỹ là người bị vật chuyển hay đă chuyển vật, Thiền sư hỏi: “Thấy cái ǵ?” Nếu là người bị vật chuyển như chúng ta, nhất định phải đáp: “Thấy cái tay.” Song Thiền sư lại đáp: “Tre dày không ngại nước chảy qua.” Tại sao thế? Bởi v́ Thiền sư khi thấy vật vẫn không quên Tánh thấy của ḿnh, như có tre mà nước vẫn chảy. Quả là người chuyển được vật, nên Viên Ngộ gật đầu. Thế là Thiền sư đă giải thích kinh và ứng dụng kinh một cách tài t́nh.

Lại một đoạn trong kinh:

Phật ở trong đại chúng đưa tay lên nắm lại x̣e ra, nắm lại x̣e ra, hỏi A-nan: “Nay ông thấy cái ǵ?” A-nan thưa: “Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng x̣e nắm.” Phật bảo A-nan: “Ông thấy tay ta ở trong chúng x̣e nắm, hay cái thấy của ông có x̣e nắm?” A-nan thưa: “Tay trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng x̣e nắm, con thấy tay Như Lai tự x̣e nắm, chẳng phải Tánh thấy của con có x̣e nắm.” Phật hỏi: “Cái nào động, cái nào tịnh?” A-nan thưa: “Tay Phật động, Tánh thấy của con c̣n không có tịnh, huống là động.” Phật khen: “Đúng thế.”

Thuật đưa tay lên để chỉ Tánh thấy, trong nhà thiền ứng dụng rất tinh vi mà không giải thích. Chẳng những đưa tay, hoặc dựng cây phất tử, hoặc đưa cây gậy, hoặc chiếc gối… Đây vài h́nh ảnh của Thiền sư chỉ Tánh thấy trong chớp nhoáng, người chậm lụt không sao thấy kịp: Thiền sư Tùng Chí ở Kim Phong, đứng trước chúng đưa chiếc gối lên bảo: “Tất cả người gọi là chiếc gối, Kim Phong nói chẳng phải.” Tăng thưa: “Chẳng biết Ḥa thượng gọi là ǵ?” Sư cầm chiếc gối đưa lên. Tăng thưa: “Như thế th́ y đó mà hành.” Sư hỏi: “Ngươi kêu là ǵ?” Tăng thưa: “Chiếc gối.” Sư nói: “Rơi trong hang Kim Phong.” Lại, Thiền sư Vân Môn đưa cây gậy lên trước chúng bảo: “Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát th́ đương thể tức không, Thiền gia th́ thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.” Mọi người nghe thấy đều mắc kẹt ở những câu giải thích sau, ít ai thấy được cây gậy của Vân Môn. Cây gậy ấy chỉ là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến. Đâu không phải câu giải thích của ngài A-nan “tay Phật động, Tánh thấy của con c̣n không có tịnh, huống là động”.

Một đoạn kinh:

Phật bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông, hỏi A-nan: “Hiện giờ ông có nghe chăng?” A-nan và đại chúng đồng thưa: “Chúng con nghe.” Tiếng chuông bặt dứt. Phật lại hỏi: “Hiện giờ các ông nghe chăng?” A-nan cùng đại chúng đồng thưa: “Chẳng nghe.” La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông, Phật hỏi: “Hiện giờ các ông nghe chăng?” A-nan cùng đại chúng đáp: “Nghe.” Phật hỏi A-nan: “Ông tại sao nghe?” A-nan cùng đại chúng đồng bạch Phật: “Nếu đánh chuông có tiếng th́ chúng con nghe, đánh lâu tiếng bặt âm vang dứt hết th́ gọi không nghe…” Phật bảo: “Này A-nan! Tiếng bặt không c̣n âm vang, ông nói không nghe, nếu thật không nghe th́ Tánh nghe đă diệt, giống như cây khô, lại đánh một tiếng chuông th́ ông làm sao mà biết? Biết có biết không chính là thanh trần hoặc có hoặc không, đâu phải Tánh nghe kia là có là không. Nếu Tánh nghe thật không th́ ai biết nó không? Thế nên, A-nan! Tiếng ở trong Tánh nghe tự có sanh diệt, chẳng phải Tánh nghe của ông do tiếng có tiếng không mà nó thành có thành không…”

Đoạn kinh này Phật chỉ Tánh nghe thật quá rơ ràng. Thiền sư cũng chỉ Tánh nghe mà rất ẩn mật. Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đi tham vấn Thiền sư Đại Đồng Đầu Tử, từ giă ra về. Đầu Tử tiễn ra cửa, liền gọi: “Đạo giả!” Tuyết Phong ngoái đầu lại: “Dạ!” Đầu Tử bảo: “Đi đường vui vẻ.” Lại một Thiền sư cũng chỉ như thế. Có sứ thần đến viếng Thiền sư Đạo Minh (Trần Tôn Túc). Sứ thần hỏi: “Ba cửa đều mở, từ cửa nào vào?” Sư gọi: “Thượng thơ!” Sứ thần ứng thanh: “Dạ!” Sư bảo: “Từ cửa tín vào.” Sứ thần nh́n lên vách thấy tượng vẽ, hỏi: “Hai Tôn giả đối mặt luận việc ǵ?” Sư gơ cây cột nói: “Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp?” Đây là những thuật dạy rất nhanh và rất kín của Thiền sư, muốn cho người hỏi ngộ được Tánh nghe mà không dùng lời giải thích.

Để thấy rơ kinh Lăng Nghiêm là chánh thống Thiền tông, chúng ta đọc bài kệ của Tôn giả A-nan, sau khi đốn ngộ, tán Phật:

Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn
Thủ Lăng Nghiêm vương thế hi hữu
Tiêu ngă ức kiếp điên đảo tưởng
Bất lịch tăng-kỳ hoạch Pháp thân.

Nguyện kim đắc quả thành Bảo vương
Hoàn độ như thị hằng sa chúng
Tương thử thâm tâm phụng trần sát
Thị tắc danh vi báo Phật ân.

Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh
Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập
Như nhất chúng sanh vị thành Phật
Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.

Đại hùng đại lực đại từ bi
Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc
Linh ngă tảo đăng Vô thượng giác
Ư thập phương giới tọa đạo tràng.

Thuấn-nhă-đa tánh khả tiêu vong
Thước-ca-ra tâm vô động chuyển.

Đấng diệu trạm tổng tŕ bất động
Kinh Thủ Lăng Nghiêm đời ít có
Con sạch ức kiếp tưởng điên đảo
Chẳng trải tăng-kỳ được Pháp thân.

Nay nguyện được thành quả Bảo vương
Trở lại độ như hằng sa chúng
Đem thâm tâm này thờ trần sát
Đây mới gọi là đáp Phật ân.

Lại xin Thế Tôn v́ chứng minh
Đời ác ngũ trược thề vào trước
C̣n một chúng sanh chưa thành Phật
Con quyết nơi đây chẳng Niết-bàn.

Đấng đại hùng đại lực đại từ bi
Mong lại xét trừ hoặc vi tế
Khiến con sớm được Vô thượng giác
Nơi cơi muời phương ngồi đạo tràng.

Hư không dù có thể tiêu vong
Tâm kiên cố con không động chuyển.

Bốn câu đầu, nhờ Phật pháp Ngài đốn ngộ, thấy Pháp thân. Bốn câu kế, Ngài nguyện được thành Phật, trở lại độ chúng sanh và phụng thờ chư Phật, ấy là đền ơn Phật. Bốn câu tiếp, cầu Phật chứng minh con xông vào đời ngũ trược này trước nhất để độ chúng sanh. Bốn câu kế, xin Phật xét kỹ trừ sạch hoặc vi tế cho con để con sớm được thành Phật. Hai câu sau, khẳng định dù hư không có tan nát, tâm kiên cố của con cũng chẳng động.

Thiền tông chủ trương kiến tánh khởi tu hay đốn ngộ tiệm tu. Trường hợp ngài A-nan quả đúng như thế. Trước nhờ Phật và pháp nên thấy được Pháp thân, đây là Kiến tánh. Thấy được Pháp thân rồi mới biết cách đền ơn Phật, biết thương xót chúng sanh, nên phát tâm đại bi. Song c̣n những thứ hoặc vi tế cần phải tiệm tu mới sạch. Sau cùng thệ quyết trên đường tu không c̣n thối chuyển. Quả là Thiền và Kinh hội ngộ trong bài kệ này.

4. Toát yếu toàn bộ:

Toàn bộ kinh Lăng Nghiêm, chúng tôi tóm lược chia thành hai phần chánh: “kiến tánh, khởi tu” hay “đốn ngộ, tiệm tu”. Trong hai phần này lại chia vài phần nhỏ. Kiến tánh: biết giả, nhận thật. Khởi tu: tu chánh, tu phụ và biết ma.

a) Kiến tánh hay đốn ngộ:

Kiến tánh tức là nhận ra được Pháp thân. Pháp thân chính là Bản thể chân thật của chúng sanh. Trước khi chỉ ra cái thật, đức Phật phá mọi lầm chấp những thứ hư giả.

Mở đầu vào cuộc đối thoại, đức Phật hỏi Tôn giả A-nan lư do ǵ đi xuất gia. Tôn giả A-nan thưa rằng: “V́ ưa thích thân ba mươi hai tướng tốt của Phật nên phát tâm xuất gia.” Phật hỏi A-nan: “Lấy cái ǵ thấy thân ba mươi hai tướng? Lấy cái ǵ ưa thích?” Tôn giả A-nan trả lời: “Do mắt thấy thân Phật, tâm sanh ưa thích.” Thế là bước vào bảy chỗ hỏi tâm, khiến Tôn giả A-nan đi đến tận cùng chỗ chấp, quả nhiên tâm ấy không thật. Kế Phật chỉ cảnh và thân là tướng dao động sanh diệt, mà Tánh thấy chưa bao giờ dao động. Từ đây Phật vừa phá chấp giả, đồng thời chỉ cái thật. Cái giả là thân và cảnh, cái thật là Tánh thấy. Cho đến “tám thứ trả về” (bát hoàn) cũng cốt chỉ tiền trần hư giả, Tánh thấy chân thật. Kể cả ngũ ấm, thập bát giới, thất đại đều là tướng hư giả, theo nghiệp ứng hiện, gốc từ Như Lai tạng lưu xuất. Như Lai tạng là Thể chân thật, ví như mặt trăng thật. Tánh thấy gần kề cái chân thật ấy, song chưa hoàn toàn thật, ví như mặt trăng thứ hai, do ấn con mắt thấy. Đến đây, Tôn giả A-nan nhận ra được Bản tánh, nói kệ tŕnh bày sở ngộ.

b) Khởi tu hay tiệm tu:

Phần tu chánh, Phật chỉ rơ sáu căn là nhân luân hồi, sáu căn cũng là nhân giải thoát. Trong sáu căn chọn một căn viên thông, tu hành chóng thành đạo. Ví như cái khăn có sáu gút, một gút mở, sáu gút đồng thời xổ ra. Kế Phật bảo hai mươi lăm vị Thánh tŕnh bày chỗ tu chứng của ḿnh. Rốt sau Phật dạy Bồ-tát Văn-thù chọn lựa căn nào viên thông và phù hợp với cơi này. Bồ-tát Văn-thù chọn qua, sau cùng thừa nhận “nhĩ căn” là viên thông hơn cả. Đây là lối tu “Phản văn văn tự tánh” của Bồ-tát Quán Thế Âm. Yếu điểm tu hành của Bồ-tát Quán Thế Âm là: “Ban đầu ở trong cái nghe, vào ḍng quên cái bị nghe. Chỗ vào đă lặng lẽ th́ hai tướng động tịnh rơ ràng chẳng sanh. Như thế, tiến lên dần dần, cái hay nghe và bị nghe đều mất, cũng không trụ chỗ mất. Cái năng giác và sở giác không. Cái không giác hoàn toàn tṛn, không và sở không đều diệt. Sanh diệt đă diệt th́ tịch diệt hiện tiền.” Bồ-tát Văn-thù khuyến khích đại chúng và A-nan rằng: “Xoay cơ quan nghe của ông, trở lại nghe Tánh nghe của ḿnh, thành tựu Tánh nghe là đạo Vô thượng. Viên thông thật như thế. Đây là con đường vào cửa Niết-bàn của chư Phật như số vi trần…”

Lối tu “Phản văn văn tự tánh” có lắm người hiểu sai lầm, tu không tiến, trở lại thành bệnh. Bởi v́ cứ nghĩ rằng xoay cái nghe trở lại Tánh nghe của ḿnh, rồi họ ngồi yên nghe trở lại trong hông ngực, lâu ngày thành thổ huyết. Chữ “phản” ở đây có nghĩa là ngược lại, thay v́ từ thuở nào đến giờ, chúng ta thả xuôi cái nghe chạy theo âm thanh, có âm thanh là có nghe, không âm thanh cho là không nghe, quên mất Tánh nghe thường c̣n của ḿnh. Nay đây, mỗi khi nghe âm thanh, chúng ta biết ḿnh có Tánh nghe, bao nhiêu âm thanh liên tục bên tai, ta không chạy theo chúng, chỉ nhớ ḿnh đang có Tánh nghe, nghe tất cả. Nhớ Tánh nghe là không nhớ thanh trần. Tánh nghe th́ thường hằng, thanh trần v́ động tịnh nên sanh diệt. Hằng nghe là giác tri, chính nó hiện tướng của Tánh giác. Sống với Tánh nghe là sống với hiện tướng của Tánh giác chân thật, nên gọi là con đường vào cửa Niết-bàn. Trọn ngày chúng ta đi đứng nằm ngồi có bao nhiêu âm thanh vang tai, chúng ta chỉ vui vẻ nhẹ nhàng nhớ ḿnh có Tánh nghe đang nghe mọi âm thanh. Khi tọa thiền cũng thế, từ tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng thằn lằn chặc lưỡi, tiếng gió ŕ rào bên ngoài…, chúng ta đều nghe, mà chỉ nhớ ḿnh đang có Tánh nghe, chớ không chạy theo tiếng để phân biệt. Đây là thuật “Phản văn văn tự tánh”. Chẳng những nghe thôi, mà cả thấy, ngửi, nếm, xúc chạm đều có thể “phản văn” được hết. Đó là lối tu “Tự tánh thanh tịnh thiền” của Thiền tông. Sống với Tánh nghe của chúng ta, tức là trở về nguồn giác, nên gọi là “vào ḍng” (nhập lưu). Hằng nhớ Tánh nghe th́ lơ là với âm thanh, gọi là “quên cái bị nghe” (vong sở). Sống thuần thục với Tánh nghe rồi th́ hai tướng động tịnh chẳng sanh. Cho đến năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đăi dứt bặt, chỉ c̣n một Tánh giác tịch tĩnh như như. Thế là đạt đạo viên măn. Tuy nhiên như thế, cũng cần có phần trợ giúp mới chóng viên thành.

Phần tu phụ, chánh yếu là trở về Tánh giác, song nhờ có sự phụ trợ để vô minh vi tế chóng sạch. Trong kinh phần phụ dạy phải ǵn giữ giới luật. Có giữ giới luật người tu thiền mới viên măn quả giải thoát. Nếu tu thiền mà không có giới luật, tùy sự tu hành cao thấp, hoặc sanh làm quỉ thần, hoặc sanh vào các cơi trời. Tu thiền mà có giới luật là đi đúng đường của đức Phật dạy, sớm muộn ǵ cũng đến Phật quả.

Nếu người tu có nhiều ma chướng, Phật dạy có thể tŕ thần chú Lăng Nghiêm phụ giúp cho ma chướng chóng tiêu.

Biết ma: Sau cùng bộ kinh, Phật nói về Ngũ ấm ma. Người tu thiền vượt qua mỗi ấm có mười thứ ma làm chướng ngại. Ma ấy vốn từ sự tu hành dằn ép của Thiền giả mà phát hiện. Thiền giả khéo thấy những cảnh lạ, tự biết đừng chấp th́ cảnh ấy đều là tốt, khởi chấp ḿnh đă được đạo, chứng Thánh v.v… là rơi vào lưới của ma.

Tóm lại, đường lối tu hành trong kinh Lăng Nghiêm lấy Thiền làm căn bản. Song muốn tu thiền trước phải đốn ngộ sau mới tiệm tu. Quả nhiên kiến tánh khởi tu của Thiền cùng đốn ngộ tiệm tu của Kinh rơ ràng không có hai pháp.

D. KINH PHÁP HOA.

1. Liên hệ Thiền sử:

Vị Tăng Pháp Đạt ở Hồng Châu thường tụng kinh Pháp Hoa, đến lễ Lục tổ Huệ Năng mà đầu không sát đất. Tổ quở: “Lễ mà đầu không sát đất, chi bằng đừng lễ. Trong tâm ông ắt có một vật, chất chứa việc ǵ?” Pháp Đạt thưa: “Đă tụng được ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa.” Tổ bảo:

- Ông nếu tụng đến muôn bộ, đạt được ư kinh mà chẳng lấy làm hơn th́ cùng ta sánh vai. Nay ông mang sự nghiệp này trọn chẳng biết lỗi, nghe ta nói kệ đây:

Lễ bản chiết mạn tràng
Đầu hề bất chí địa
Hữu ngă tội tức sanh
Vong công phước vô tỷ.

Lễ vốn chặt cờ mạn
Sao đầu không sát đất
Có ngă tội liền sanh
Quên công phước khôn sánh.

… Tổ bảo tiếp: “Nếu ông chỉ nhọc nhằn chấp tụng làm công khóa, nào khác con trâu lê nó yêu cái đuôi!” Pháp Đạt thưa: “Nếu vậy chỉ cần hiểu nghĩa, không nhọc ǵ phải tụng kinh chăng?” Tổ bảo:

- Kinh có lỗi ǵ, đâu có ngăn ông tụng? Chỉ v́ mê ngộ tại người, tổn giảm hay lợi ích do ḿnh, miệng tụng tâm hành tức là chuyển kinh, miệng tụng tâm chẳng hành tức là bị kinh chuyển. Nghe ta nói kệ:

Tâm mê Pháp Hoa chuyển
Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa
Tụng kinh cửu bất minh
Dữ nghĩa tác thù gia
Vô niệm, niệm tức chánh
Hữu niệm, niệm thành tà
Hữu vô câu bất kế
Trường ngự bạch ngưu xa.

Tâm mê Pháp Hoa chuyển
Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa
Tụng kinh lâu chẳng rơ
Cùng nghĩa thành thù nhà
Không niệm, tụng tức chánh
Có niệm, tụng thành tà
Có không đều chẳng chấp
Hằng ngồi bạch ngưu xa.

Pháp Đạt nghe kệ bỗng dưng rơi nước mắt, ngay câu nói đại ngộ, bạch Tổ: “Con từ trước đến nay thật chưa từng chuyển Pháp Hoa, mà bị Pháp Hoa chuyển…” Pháp Đạt nhờ chỉ dạy, vui mừng hớn hở, dùng kệ tán thán:

Kinh tụng tam thiên bộ
Tào Khê nhất cú vong
Vị minh xuất thế chỉ
Ninh yết lụy sanh cuồng
Dương lộc ngưu quyền thiết
Sơ trung hậu thiện dương
Thùy tri hỏa trạch nội
Nguyên thị pháp trung vương.

Tụng kinh ba ngàn bộ
Tào Khê một câu quên
Chưa rơ chỉ xuất thế
Đâu hết nhiều đời cuồng
Dê, nai, trâu quyền lập
Bày đầu, giữa, sau lành
Ai biết trong nhà lửa
Nguyên là vua chánh pháp.

Thiền sư Tỉnh Niệm thường tụng kinh Pháp Hoa nên thời nhân gọi là Niệm Pháp Hoa. Sư đến tham vấn Thiền sư Phong Huyệt, một hôm đứng hầu, Phong Huyệt rơi nước mắt, nói với Sư: “Bất hạnh! Đạo Lâm Tế đến ta sắp ch́m lặng vậy.” Sư thưa: “Xem cả chúng này đâu không có người kế thừa Ḥa thượng?” Phong Huyệt bảo: “Người thông minh th́ nhiều, kẻ thấy tánh rất ít.” Sư thưa: “Như con, Ḥa thượng xem thế nào?” Phong Huyệt bảo: “Ta tuy hi vọng ở ngươi đă lâu, vẫn ngại đắm mến kinh này không thể buông xả.” Sư thưa: “Việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ.”

Phong Huyệt thượng đường, nhắc lại trong hội Linh Sơn, Thế Tôn dùng con mắt như hoa sen xanh nh́n xem đại chúng. Phong Huyệt hỏi: “Chính khi ấy hăy bảo nói cái ǵ? Nếu bảo chẳng nói mà nói, là chôn vùi Thánh trước. Hăy bảo nói cái ǵ?” Sư đứng dậy phủi áo ra đi. Phong Huyệt ném cây gậy trở về phương trượng. Thị giả chạy theo sau thưa: “Niệm Pháp Hoa v́ sao chẳng đáp lời Ḥa thượng?” Phong Huyệt nói: “Niệm Pháp Hoa đă hội.”

2. Chủ đích:

Phật nói kinh Pháp Hoa cốt chỉ bày cho tất cả chúng sanh cái Tri kiến Phật sẵn có của ḿnh để họ ngộ nhập. Chính đó là một đại sự của tất cả chư Phật ra đời, không riêng ǵ một đức Phật Thích-ca. Tri kiến Phật tức là cái thấy biết Phật. Thấy biết theo vọng tưởng là thấy biết phàm phu. Thấy biết thuần tịnh bất động là thấy biết Phật. Cho nên trong phẩm Phương Tiện có đoạn Phật nói: “Pháp đó không phải suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được. V́ cớ sao? V́ chư Phật Thế Tôn chỉ do một đại sự nhân duyên mà hiện ra đời.” Tri kiến Phật là thấy biết không thuộc về cái ngă của thân, không thuộc về cái ngă của tâm (vọng tưởng), lại là thể của cả thân tâm. Người tu thiền nhận ra được thể ấy gọi là mở con mắt thứ ba. Con mắt này chẳng những làm thể của thân tâm mà c̣n bao trùm cả mười phương thế giới. V́ thế trong phẩm Tự, văn kinh có đoạn: “Bấy giờ đức Phật từ tướng lông trắng giữa chặng mày phóng luồng hào quang chiếu khắp một muôn tám ngàn cơi phương Đông, dưới chiếu đến địa ngục A-tỳ, trên thấu trời Sắc Cứu Kính…” Lông trắng giữa chặng mày là biểu trưng con mắt thứ ba hay là Tánh giác. Tánh giác này phát xuất khi nào thân an tâm định. Như trong phẩm Tự, văn đoạn trên: “Nói kinh này (Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm) xong, Phật ngồi xếp bằng nhập chánh định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm Phật đều không lay động.” Đây là h́nh ảnh chỉ Tri kiến Phật và vào Tri kiến Phật. Tri kiến là lối nói tắt, nói đủ là Kiến văn giác tri Phật. Bởi sáu căn đều là nơi biểu lộ của Tánh giác, kiến là mắt, văn là tai, giác gồm mũi, lưỡi và thân, tri là tâm hay thể của ư. Sáu cái đó hằng phát ánh sáng của Tánh giác. Người muốn trở về Tánh giác, nếu không nương sáu căn làm sao biết lối trở về. V́ thế nói Tri kiến Phật là gồm cả sáu căn hiển lộ Tánh giác của ḿnh. Tánh giác này cũng gọi là Phật tuệ hay Phật thừa. Đó là chỗ cứu kính của Phật giác ngộ, cũng là chỗ cứu kính của Ngài dạy lại chúng sanh. Nếu Phật không dạy được chỗ này là Ngài c̣n san lận. Đây quả thật là chủ yếu của kinh này vậy.

3. Đối chứng chi tiết:

Kinh này tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Diệu Pháp là Tri kiến Phật, Liên Hoa là hoa sen. Tri kiến Phật đầy đủ muôn dụng nên gọi là Diệu, tri kiến Phật vượt ngoài tầm suy tư hiểu biết của chúng sanh, gọi là Diệu. Tri kiến Phật gá nơi thân ô uế bất tịnh mà không nhiễm nhơ, dụ Hoa Sen. Tri kiến Phật ở trong thân vô thường mà không bị vô thường, dụ hoa sen ở trong ḷ lửa. Thiền sư Lương Giới, thủy tổ tông Tào Động, giải thích ngũ vị, đến vị thứ tư Thiên Trung Chí có bài kệ:

Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tị
Hảo thủ du như hỏa lí liên
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.

Hai kiếm đua nhau cần ǵ tránh
Tay khéo vẫn như sen ḷ hồng
Nguyên vẹn nơi ḿnh xung thiên chí.

Thiền sư Ngộ Ấn ở Việt Nam, khi sắp tịch cũng nói kệ:

Diệu tánh hư vô bất khả phan
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị càn.

Diệu tánh rỗng không chẳng thể vin
Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin
Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy
Ḷ lửa hoa sen nở thật xinh.

Hoa sen mọc trong ḷ lửa vẫn xinh tươi là một h́nh ảnh bất tư ngh́ của kinh Pháp Hoa. Ngay nơi thân đang bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt, vẫn có Tri kiến Phật an nhiên tự tại, bất sanh bất diệt, chẳng phải hoa sen tươi thắm trong ḷ lửa là ǵ? Trên ngọn núi năm uẩn bị lửa vô thường thiêu đốt, ḥn ngọc Tri kiến Phật sắc vẫn óng ánh tươi nhuần. Quả thật là điều quá sức tưởng tượng của phàm phu. V́ thế, đợi Tôn giả Xá-lợi-phất ba phen thỉnh cầu Phật mới nói.

Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất, chư Bồ-tát tha phương đảnh lễ Phật, bạch: “Thế Tôn! Nếu bằng ḷng cho chúng con sau khi Phật diệt độ ở cơi Ta-bà siêng tu tinh tấn, thọ tŕ đọc tụng, biên chép cúng dường kinh này, chúng con sẽ ở trong cơi đây rộng nói.” Phật bảo: “Thiện nam tử! Thôi đi! Chẳng cần các ông hộ tŕ kinh này…” Sau đó cơi Ta-bà đất nứt, Bồ-tát vọt lên… là những vị hộ tŕ kinh.

Đoạn kinh trên rất phù hợp câu chuyện sau đây trong nhà thiền. Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn cùng Nham Đầu Toàn Khoát đi đến Ngao Sơn gặp trở tuyết, dừng lại nghỉ. Một hôm, hai huynh đệ thảo luận, Tuyết Phong nói: “Tôi thật c̣n chưa ổn.” Nham Đầu bảo: “Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ v́ ông đuổi dẹp.” Tuyết Phong nói: “Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc không liền được chỗ vào.” Nham Đầu bảo: “Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.” Tuyết Phong nói: “Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông: ‘thiết kỵ tùng tha mích, điều điều dữ ngă sơ, cừ kim chánh thị ngă, ngă kim bất thị cừ’.” Nham Đầu bảo: “Nếu thế ấy, tự cứu cũng chưa tột.” Tuyết Phong nói: “Sau tôi hỏi Đức Sơn: ‘Việc trong tông thừa từ trước con có phần chăng?’ Đức Sơn đánh một gậy hỏi: ‘Nói cái ǵ?’ Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy.” Nham Đầu nạt: “Ông chẳng nghe nói: từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà?” Tuyết Phong hỏi: “Về sau làm thế nào mới phải?” Nham Đầu bảo: “Về sau muốn xiển dương Đại giáo, mỗi mỗi tự trong hông ngực ḿnh lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi!” Tuyết Phong nhân câu này đại ngộ, liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: “Sư huynh! Sư huynh! Ngày nay mới thành đạo ở Ngao Sơn.”

Nhà Phật nói người tu cần phải có hai thứ trí, Trí hữu sư và Trí vô sư. Trí hữu sư nhờ tham vấn học hỏi nơi kinh điển và thiện tri thức, trí ấy dẫn đường chúng ta vào cửa đạo. Song muốn chống với sanh tử phải nhờ Trí vô sư. Trí này tự nơi ḿnh phát ra, mới thật là của báu trong nhà. Bởi v́ trí do học được c̣n suy nghĩ phán xét, chưa phải là trí chân thật từ Tánh giác lưu xuất. Chư Bồ-tát ở tha phương để biểu trưng Trí hữu sư, Trí này chưa đủ để duy tŕ kinh Pháp Hoa. Bởi lẽ Tri kiến Phật là Tánh giác bất sanh bất diệt, dùng trí sanh diệt làm sao phù hợp. Cho nên phải những vị Bồ-tát từ ḷng đất vọt lên mới kham duy tŕ kinh Pháp Hoa. Ḷng đất là chỉ thân tứ đại, Bồ-tát là Tánh giác, Tánh giác ngay nơi thân này phát ra mới tương ưng với Tri kiến Phật.

Thiền sư Trí Thường Qui Tông, có vị Tăng hỏi: “Thế nào là sức Diệu trí Quan Âm?” Sư gơ cái đỉnh ba tiếng, hỏi: “Ngươi nghe chăng?” Tăng thưa: “Nghe.” Sư bảo: “Sao ta chẳng nghe?” Tăng không đáp được. Sư cầm gậy đuổi ra.

Khi khác Sư thượng đường bảo: “Nay tôi muốn nói thiền, tất cả các ngươi lại gần đây.” Đại chúng tiến đến gần. Sư bảo: “Các ngươi nghe hạnh Quan Âm khéo hiện các nơi chốn.” Tăng hỏi: “Thế nào là hạnh Quan Âm?” Sư khảy móng tay, hỏi: “Các ngươi có nghe chăng?” Tăng thưa: “Nghe.” Sư bảo: “Một bọn hướng trong ấy t́m cái ǵ?” Sư cầm gậy đuổi ra rồi cười lớn vào phương trượng.

Trong phẩm Phổ Môn có những câu: “Quan Âm diệu trí lực” và “nhữ thính Quan Âm hạnh, thiện ứng chư phương sở…” Quan Âm là “phản văn văn tự tánh”, cho nên hỏi đến diệu trí của Quan Âm Sư gơ cái đỉnh ba tiếng, hỏi đến hạnh Quan Âm, Sư khảy móng tay ba tiếng. Thế là Thiền sư thấy đức Quan Âm là Tánh nghe, trở về Tánh nghe th́ mọi sự an lành, diệu lực không thể lường được. Chỉ có trở về Tánh nghe th́ thế gian mới hết khổ.

Tướng công Vu Địch đến Thiền sư Đạo Thông hỏi: “Thế nào là hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng phiêu đọa La-sát quỉ quốc?” Đạo Thông đáp: “Kẻ khách Vu Địch hỏi việc ấy làm ǵ?” Vu Địch đỏ mặt. Sư chỉ nói: “Cái đó chính là phiêu đọa la-sát quỉ quốc.” Vu Địch lại hỏi: “Thế nào là Phật?” Sư gọi: “Tướng công!” Tướng công: “Dạ.” Sư bảo: “Lại chớ t́m cái ǵ khác.”

Chúng sanh do tham mà không toại nguyện nên nổi sân. Nổi sân là động cơ chuốc họa. Trong kinh nói: chúng sanh v́ cầu kim ngân lưu-ly… giả sử gặp gió đen thổi, ghe thuyền trôi giạt vào cơi nước La-sát…, trong ấy có người niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, th́ mọi người đều khỏi nạn La-sát… T́m kim ngân lưu-ly là tham, gió đen thổi ghe thuyền trôi giạt là sân, cơi nước La-sát là nguy hiểm họa hại, niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm là phản văn tự tánh th́ họa hại tiêu vong. V́ thế Vu Địch vừa đỏ mặt, Sư chỉ đó là “phiêu đọa La-sát quỉ quốc”. Khi lửa sân nổi lên, liền nhớ lại Tánh nghe hay Tánh giác của ḿnh, tức th́ tỉnh giác nên không tạo nghiệp, không tạo nghiệp th́ làm ǵ có họa hại.

4. Toát yếu toàn bộ:

Toàn bộ kinh Pháp Hoa có bảy quyển, hai mươi tám phẩm. Để thấy ư toàn bộ, chúng ta nên lược qua từng phẩm:

4.1- Phẩm Tự: Phẩm này chỉ chủ yếu của toàn bộ. H́nh ảnh Phật phóng quang từ lông trắng giữa chặng mày, ánh sáng soi khắp phương Đông, thông trên suốt dưới, theo ánh sáng hội chúng thấy chúng sanh trong lục đạo, tạo nghiệp thọ báo và thấy chư Phật tu nhân chứng quả giáo hóa chúng sanh… Đây là biểu trưng Tánh giác (Tri kiến Phật) rỗng suốt, không kẹt hai bên, biết rơ nguyên nhân luân hồi sanh tử và nguyên nhân giải thoát sanh tử. Tánh giác rời ngôn ngữ và tâm thức suy tư, cho nên Phật chỉ hiện tướng mà không nói một lời. Chỉ Căn bản trí mới thấu suốt được Tánh giác, vọng thức th́ không sao hiểu nổi. V́ thế, đức Di-lặc (thức) khởi nghi hỏi Bồ-tát Văn-thù (trí).

4.2- Phẩm Phương Tiện: Từ chỗ vô ngôn đến đây phải dùng ngôn thuyết, ấy là phương tiện. Lại nữa, Phật dùng mọi phuơng tiện dẫn dắt chúng sanh, cứu kính đều đưa đến ngộ nhập Tri kiến Phật (Tánh giác). Đây là mục đích chung của chư Phật. Dù trước có nói các pháp khác song cũng là phương tiện đưa đến cứu kính này. Tuy nhiên Tri kiến Phật rất khó tin hiểu, nên phải thiết tha cầu thỉnh hai ba phen Phật mới nói.

4.3- Phẩm Thí Dụ: Sau khi Phật phương tiện dùng ngôn ngữ tŕnh bày, người căn cơ lanh lợi bậc thượng liền nhận ra Tri kiến Phật của chính ḿnh. Đây là chỗ đốn ngộ của Xá-lợi-phất, Tôn giả vui mừng hớn hở được điều chưa từng có tŕnh lên Phật. Phật liền ấn chứng (thọ kư) cho Ngài sau này sẽ thành Phật. Tuy vậy những căn cơ kém bén nhạy c̣n chưa nhận ra, Phật phải dùng thí dụ nhà lửa và ba xe, cuối cùng chỉ cho một xe “bạch ngưu”.

4.4- Phẩm Tín Giải: Đây là tŕnh bày kiến giải của ḿnh để Phật ấn chứng. Những vị Thanh văn kỳ cựu đến đây mới nhận rơ Tri kiến Phật của ḿnh, vui mừng vô hạn, như chàng cùng tử được cha trao cả sự nghiệp, điều mà trước kia chưa bao giờ dám nghĩ đến. Các ngài dùng thí dụ này tŕnh kiến giải lên Phật.

4.5- Phẩm Dược Thảo Dụ: Lẽ ra, sau khi tŕnh kiến giải của ḿnh liền được Phật thọ kư ngay, song cần phải khích lệ những căn cơ bậc trung, cố gắng nhận ra Tri kiến Phật, nên Phật ví dụ đám mưa mọi cây cỏ đều được thấm nhuần. Các căn cơ có khác, nhưng đều được lợi ích trong một trận pháp vũ này.

4.6- Phẩm Thọ Kư: Thọ kư là tên khác của ấn chứng trong nhà Thiền. Khi các vị Ma-ha Ca-diếp v.v… tŕnh bày chỗ sở ngộ rồi, Phật liền thọ kư (ấn chứng) cho mỗi vị tương lai sẽ thành Phật. Đây mới đốn ngộ Phật thừa, c̣n phải tiệm tu Bồ-tát hạnh, sau mới chứng thành Phật quả.

4.7- Phẩm Hóa Thành Dụ: Giải thích một lần nữa về phương tiện của đức Phật, để những vị căn cơ bậc trung thấy rơ Tri kiến Phật của ḿnh. Dùng thí dụ Hóa thành và Bảo sở để sách tiến các ngài vượt lên, đừng đắm luyến trong quả vị Thanh văn.

4.8- Phẩm Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Kư: Giờ đây hàng căn cơ bậc trung đă thấy rơ Tri kiến Phật của ḿnh. Đại diện năm trăm vị, ngài Măn Từ Tử tŕnh bày sở ngộ, theo đó Phật thọ kư năm trăm vị tương lai đều thành Phật.

4.9- Phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Kư: Đến đây hàng hữu học và vô học mới nhận ra Tri kiến Phật của ḿnh, tự nhận ḿnh có phần trong Phật thừa, mong được Phật thọ kư. Phật thọ kư các ngài trong tương lai đều sẽ thành Phật.

4.10- Phẩm Pháp Sư: C̣n một số căn cơ hạ liệt, chưa dám nhận Tri kiến Phật của ḿnh. Phật muốn thúc đẩy họ tiến lên, cần khuyến khích họ thọ tŕ cúng dường tùy hỉ giáo hóa th́ tương lai đều thành Phật.

4.11- Phẩm Hiện Bảo Tháp: Tháp bảy báu hiện giữa hư không trang nghiêm đẹp đẽ, trong có toàn thân Phật Đa Bảo. Phật Đa Bảo tượng trưng cho Pháp thân, tháp bảy báu tượng trưng cho thất đại. Đến đây, Phật chỉ rơ ngay trong thân thất đại này đă hàm chứa Pháp thân hay Tri kiến Phật. Song làm sao thấy được Pháp thân, cần phải thu nhiếp vọng tưởng lại mới thấy. Cho nên trong kinh nói: “Phật Đa Bảo có nguyện sâu: Nếu lúc tháp báu của ta v́ nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra trước các đức Phật, vị Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, Phật đó phải nhóm họp tất cả Phật của ḿnh phân thân ra thuyết pháp ở mười phương về một chỗ, sau thân ta mới hiện.” Phật phân thân chỉ cho ư thức phân tán chạy theo sáu trần, chúng tụ họp về một chỗ là an định, Pháp thân sẽ hiện tiền. Đây là chỉ rơ cho đại chúng biết Tri kiến Phật đă nằm sẵn trong lầu ngũ uẩn hay trong tháp thất đại.

4.12- Phẩm Đề-bà-đạt-đa: Đă chỉ rơ Tri kiến Phật ở trong lầu năm uẩn hay thất đại, mà người căn cơ hạ liệt vẫn chưa tin chưa hiểu. Một lần nữa Phật lại chỉ cặn kẽ, dù tạo tội ngũ nghịch như Đề-bà-đạt-đa, ty tiện như thân Long nữ vẫn có Tri kiến Phật, gặp duyên hóa độ liền ngộ đạo, đều sẽ thành Phật không nghi.

4.13- Phẩm Tŕ: Đến đây tất cả vị Tỳ-kheo ni đều buông xả tâm hạ liệt, đinh ninh rằng người nữ tu hành không thể thành Phật, quí vị tự nhận ḿnh có phần thành Phật, v́ ḿnh đồng có Tri kiến Phật như tất cả những vị đă ngộ, được Phật thọ kư. Do đó, Phật tuần tự thọ kư riêng và chung cho Ni chúng.

            4.14- Phẩm An Lạc Hạnh: Trên đă xong phần mọi căn cơ đều đốn ngộ, đến đây là phần tiệm tu Bồ-tát hạnh. Hay nói cách khác, ở trên đă ngộ Tri kiến Phật, từ đây về sau là nhập Tri kiến Phật. Nói theo Thiền th́ ở trên đă kiến tánh, từ đây về sau khởi tu. Kinh nói: “ở trong đời ác sau, hộ tŕ đọc tụng giảng nói kinh Pháp Hoa”, có nghĩa là sống và bảo vệ Tri kiến Phật của ḿnh. Muốn bảo vệ Tri kiến Phật trước phải ǵn giữ giới luật, tức là an trụ bốn pháp vậy.

4.15- Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất: Do công phu tu tŕ, bảo vệ Tri kiến Phật, tự trong thân phát Trí vô sư. Trí này từ thân tứ đại xuất phát, nên nói Bồ-tát từ dưới đất vọt lên. Trí vô sư do công phu tu hành mà được, nên có khả năng chống lại sanh tử; nó từ Chân tánh lưu xuất không sanh không diệt, nên tương ưng với Tri kiến Phật. V́ thế Phật không chấp nhận Bồ-tát ở tha phương duy tŕ truyền bá kinh Pháp Hoa ở cơi này, chỉ dành cho chư Bồ-tát từ đất vọt lên duy tŕ. Bồ-tát tha phương biểu trưng Trí hữu sư. Trí này do học tập được, c̣n phân biệt giản trạch, thuộc về trí sanh diệt, không đủ khả năng bảo vệ Tri kiến Phật.

4.16- Phẩm Như Lai Thọ Lượng: Đă có Trí vô sư phát sanh mới nhận rơ Pháp thân (Tri kiến Phật) bất sanh bất diệt, thường hằng chẳng đổi. Tuổi thọ của Pháp thân đồng tuổi thọ của hư không, v́ Pháp thân không tướng làm ǵ bị vô thường và tan hoại. Như Lai ở đây là Tri kiến Phật hay Pháp thân, thường nằm sẵn trong thân năm uẩn của chúng ta, song không mấy ai nhận ra, chỉ khi nào Trí vô sư phát sanh mới duyên được Pháp thân. V́ thế nên nói rất khó tin khó hiểu, người tin hiểu được th́ công đức vô lượng.

4.17- Phẩm Phân Biệt Công Đức: Pháp thân chân thật bất biến; người tin nhận được Pháp thân là đă biết lối trở về Chân tánh. Mọi công đức của thế gian đều là công đức tương đối sanh diệt, nên hữu hạn hữu lượng. Người nhận ra Pháp thân chân thật là vô sanh, nên công đức vô hạn vô lượng. V́ thế nếu đem so sánh th́ không công đức nào của thế gian có thể sánh kịp.

4.18- Phẩm Tùy Hỉ Công Đức: Công đức của người nhận ra Pháp thân đă cao tột như vậy, người phát tâm tùy hỉ công đức này ắt cũng vô ngần. Phát tâm tùy hỉ tức đă có phần nhận hiểu, khuyến khích kẻ khác tức đă tự hâm mộ, cho nên người tùy hỉ kinh này, khuyến khích kẻ khác nghe kinh… đều là công đức vô biên.

4.19- Phẩm Pháp Sư Công Đức: Công đức Pháp sư hay công đức của người sống với Tri kiến Phật, y cứ nơi sáu căn phát hiện. Sáu căn là chỗ phát sáng của ḥn ngọc Tánh giác, không nương sáu căn làm sao thấy được ḥn ngọc. Hằng sống trở lại Tánh thấy Tánh nghe của ḿnh là cửa vào Tánh giác, con đường vào cửa Niết-bàn. Khi sáu căn thuần tịnh th́ tự nó trở thành Lục thông, khỏi cần tập luyện mới có thần thông.

4.20- Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát: Người sống với Tri kiến Phật và truyền bá cho mọi người phải kiên tŕ nhẫn nhục, v́ làm một điều khó làm, dạy một điều khó dạy. Biết mọi người đều có Tri kiến Phật, người ngộ trước nào dám khinh người ngộ sau, người đă ngộ cố chỉ cho người sẽ ngộ. Đây là việc làm của Bồ-tát Thường Bất Khinh. Ngài tŕ kinh Pháp Hoa và truyền bá kinh Pháp Hoa bằng cách gặp ai cũng bái xá nói rằng: “Tôi chẳng dám khinh quí Ngài, quí Ngài đều sẽ thành Phật.” Tu nhân như thế, Ngài kết quả thành Phật, gieo nhân như thế, kết quả mọi người được dự hội Pháp Hoa. Thế là tŕ kinh bằng cách chính ḿnh sống với Tri kiến Phật của ḿnh, truyền bá là gieo cho mọi người đủ niềm tin ḿnh có Tri kiến Phật.

4.21- Phẩm Như Lai Thần Lực: Đă biết sống trở về Pháp thân, khi được thuần thục th́ diệu dụng bất khả tư ngh́. Tất cả diệu dụng ấy đều từ chỗ Vô tác diệu trí phát sanh, không phải sự dụng công cố gắng nào cả. Diệu dụng do công phu tu hành trở về Tánh giác là một lẽ thật không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Cho nên ở đây Phật bày tướng lưỡi rộng dài, tất cả lỗ chân lông đều phóng quang…     

4.22- Phẩm Chúc Lụy: Tri kiến Phật là tuệ mạng của chúng sanh, là trí tuệ của chư Phật, con đường cầu giác ngộ không c̣n lối nào khác hơn. Thế nên truyền bá cho mọi người nhận ra Tri kiến Phật là trách nhiệm tối thượng của người ngộ trước. Ngọn đèn trí tuệ duy nhất để phá đêm tối vô minh của thế gian là Tri kiến Phật. V́ vậy đức Phật chúc lụy truyền bá kinh Pháp Hoa.

4.23- Phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự: Trên con đường tu hành muốn đến Phật quả phải dẹp sạch chấp năm ấm, gọi là Ngũ ấm ma. V́ năm ấm che đậy khiến Phật tánh không hiển lộ. Phẩm này là phá Sắc ấm. Thân tứ đại là Sắc ấm, Bồ-tát khi được “chánh định hiện tất cả sắc thân” rồi, liền thiêu thân cúng dường Phật, tức là phá Sắc ấm. Pháp thân là thể của Báo thân và Hóa thân, được “chánh định hiện tất cả sắc thân”, tức là nhập Pháp thân. Khi Bồ-tát thâm nhập Pháp thân th́ xem sắc thân như bóng như bọt, không c̣n cố chấp làm ngă. Xả chấp sắc thân hướng về Pháp thân nên nói thiêu thân cúng dường Phật. Xả sắc thân rồi cần phải xả sáu trần mới viên măn phá Sắc ấm, cho nên Bồ-tát sau lại đốt luôn hai cánh tay cúng dường Phật. Chấp ngă chấp pháp đă dẹp sạch đó là chân thật cúng dường Như Lai.

4.24- Phẩm Diệu Âm Bồ-tát: Phá Sắc ấm rồi đến đây phá luôn Thọ ấm. Thọ ấm không h́nh tướng nên Bồ-tát Diệu Âm đến, mà chúng không thấy, phải đợi Phật Đa Bảo dạy Ngài hiện, chúng mới thấy. Bởi có nhận được Pháp thân mới thấy Thọ ấm là hư giả, thấy rồi mới phá dẹp được chúng. Bồ-tát Diệu Âm từ xa lại để nói lên sáu trần từ ngoài đến mới có lănh thọ. Xả mọi lănh thọ, không cố chấp, là phá được Thọ ấm. Nhân tu của Bồ-tát Diệu Âm do dùng âm nhạc và bát vàng cúng Phật, nên được quả báo tốt đẹp và nhiều diệu dụng. Cúng dường là tên khác của bố thí, tức là buông xả, cúng dường âm nhạc là buông xả âm thanh, cúng dường bát vàng là buông xả sắc tướng. Âm thanh và sắc tướng là hai thứ nổi bật trong sáu trần, nói hai thứ đủ đại biểu cho sáu trần.

4.25- Phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn: Phẩm này phá trừ Tưởng ấm. Tưởng là nhân đau khổ của tất cả chúng sanh. Bởi v́ có tưởng là có đau khổ. Một viên đạn, một nhát dao bén phạm vào người một cách quá nhanh, không kịp tưởng tượng, chúng ta không nghe sợ, cũng không nghe đau. Sau đó, tưởng tượng lại, chúng ta mới kinh sợ. Thế nên mọi khổ ải trên thế gian này bởi tưởng mà có. Muốn hết khổ không ǵ hơn hết tưởng, tưởng hết mọi đau khổ đều sạch. Niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm liền hết khổ. Quán Thế Âm là phản văn văn tự tánh. Trở lại Tánh giác th́ mọi tưởng đều lặng, c̣n đau khổ nào mà chẳng khỏi. Sống được với Tánh giác, mọi công hạnh, mọi diệu dụng đều đầy đủ. Trong sáu căn, nhĩ căn là viên thông hơn cả, người tu muốn trở về Tánh giác nên từ nhĩ căn mà tu th́ chóng được kết quả. Nên kinh nói niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, công đức thù thắng hơn tất cả. Niệm bằng cách nào? Nghĩa là phản quán lại Tánh giác chân thật của ḿnh. Quán được thanh tịnh th́ trí tuệ phát sanh, ḷng từ bi đầy đủ, hằng tu như vậy đến khi nào hoàn toàn thanh tịnh, mặt trời trí tuệ liền phát sanh, soi sáng cả thế gian. Như đoạn văn trong bài tụng:

Chân quán, thanh tịnh quán
Quảng đại trí tuệ quán
Bi quán cập từ quán
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng
Vô cấu thanh tịnh quang
Tuệ nhật phá chư ám
Năng phục tai phong hỏa
Phổ minh chiếu thế gian.

Quán chân, quán thanh tịnh
Quán trí tuệ rộng lớn
Quán từ và quán bi
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng
Sáng thanh tịnh không nhơ
Tuệ nhật phá các tối
Hay diệt nạn gió lửa
Soi sáng khắp thế gian.

Đây là lối tu trở về Tri kiến Phật, diệt hết mọi vọng tưởng đau khổ.

4.26- Phẩm Đà-la-ni: Phẩm này phá Hành ấm. Hành ấm là lối suy tư thầm lặng bên trong, nó vừa tế nhị, vừa sâu kín cho nên rất khó phá. Người phá được nó liền thấy quá tịch tịnh lầm tưởng là Niết-bàn, bị lạc vào ngoại đạo, hoặc rơi vào trầm không trệ tịch của Thanh văn. Tu nhân diệt Hành ấm, hành giả phải buông sạch mọi xao xuyến thầm lặng vi tế, nên tượng trưng bằng thần chú. Bởi v́ khi đọc thần chú, chúng ta nào có xét nghĩ hiểu biết ǵ. Kết quả diệt được Hành ấm, cần phải được chư Phật, chư Bồ-tát hoặc Thiện tri thức khuyến phát khích lệ mới vượt qua được. Đó là h́nh ảnh chư Bồ-tát nói thần chú bảo hộ người tŕ kinh Pháp Hoa.

4.27- Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự: Phẩm này phá Thức ấm. Đây là chặng cuối cùng trên đường tu, nếu người khéo vượt qua th́ viên măn Phật quả. Vua Diệu Trang Nghiêm tượng trưng thức A-lại-da (Tàng thức), phu nhân Tịnh Đức tượng trưng cho thức Mạt-na (Ư căn), Thái tử Tịnh Tạng tượng trưng cho Ư thức, Tịnh Nhăn tượng trưng cho năm thức trước. Chuyển thức A-lại-da thành Đại viên cảnh trí là nhờ ư thức và năm thức trước đă được thuần thục thanh tịnh. Thức A-lại-da thứ tám này là chủ mà không có khả năng quyết định, phải do thức thứ sáu và năm thức trước hướng dẫn. Thức thứ bảy ở bên cạnh thức thứ tám mà không có công dụng bao nhiêu. Phá Thức ấm tức là chuyển A-lại-da trở thành Đại viên cảnh trí, nó là chủ thể của các thức kia. Cho nên kinh nói: “Phật v́ muốn dẫn dắt vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương tưởng hàng chúng sanh nên nói kinh Pháp Hoa.” Do ư thức và năm thức trước đă thuần thục thanh tịnh, mới chuyển được thức thứ tám thành Đại viên cảnh trí. Đây là h́nh ảnh hai người con Tịnh Tạng, Tịnh Nhăn đă có thần thông, có trí tuệ tu tập tất cả công đức… mới chuyển hóa nhà vua đến với Phật. Nhà vua chịu đến là có phu nhân đến. Nguyên nhân tạo nghiệp luân hồi do thức thứ sáu và năm thức trước, chuyển sanh tử thành Niết-bàn cũng nhân thức thứ sáu và năm thức trước. Khi chuyển thức A-lại-da rồi th́ tám thức trở thành Tứ trí. Đến đây công phu tu hành đă đầy đủ, chỉ c̣n phải lợi ích chúng sanh.

4.28- Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát Khuyến Phát: Phổ Hiền tượng trưng Trí sai biệt. Người tu khi viên măn công phu rồi, cần phải phát nguyện độ sanh, giáo hóa hộ tŕ cho mọi người được phát tâm Bồ-đề (tŕ kinh Pháp Hoa). V́ vậy khởi nguyện lực lớn, dùng Lục độ làm phương tiện giáo hóa chúng sanh, chính là h́nh ảnh Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà đến trước người tŕ kinh Pháp Hoa an ủi họ. Khi công hạnh tự lợi lợi tha hoàn toàn viên măn, liền thành Phật.

Tóm lại, toàn bộ kinh Pháp Hoa cốt khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật. Phẩm đầu do Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc về việc phóng quang của đức Phật. Đó là tượng trưng Trí căn bản đánh thức phát tâm Bồ-đề. Phẩm cuối Bồ-tát Phổ Hiền phát nguyện bảo hộ người tŕ kinh sau này. Đây là tượng trưng Trí sai biệt làm lợi ích chúng sanh. Câu then chốt trong kinh này: “khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” có khác ǵ câu “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật” của Thiền tông. Phẩm Tín Giải và phẩm Thọ Kư của kinh này nào xa lạ ǵ với việc “tŕnh kiến giải” được “ấn chứng” của Thiền tông. Cho đến sự tu hành thủy chung đều không khác. Chỉ v́ chúng ta không nhận được lư kinh, cứ chạy theo ngôn cú nên thấy dường như khác biệt.

VI. THIỀN TÔNG VỚI CÁC MÔN THIỀN KHÁC.

A. THIỀN TÔNG VỚI THIỀN TIỂU THỪA.

Thiền Tiểu thừa có nhiều lối tu, đại để đều căn cứ trên h́nh thức hiện có của thân căn, trần cảnh và tâm thức. Như pháp thiền “tùy bệnh đối trị”, người nặng bệnh tham dục dùng “quán bất tịnh” đối trị, người nặng bệnh sân hận dùng “quán từ bi” đối trị, người nhiều ngu si dùng “quán nhân duyên” đối trị, người nhiều loạn tưởng dùng “quán sổ tức” đối trị, người tham sân si đồng nhau dùng pháp “quán Phật tam-muội” đối trị. Đó là y cứ tâm bệnh dùng pháp tu quán để đối trị. Hoặc lối quán tứ đại, quán đất, quán nước, quán gió, quán lửa, từ một đốm nhỏ cho đến trùm cả hư không. Hoặc lối quán màu sắc, màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu đỏ, cũng từ một điểm nhỏ cho đến đầy dẫy hư không. Hoặc trụ tâm vào một điểm trên đầu cây hương hay một ṿng tṛn nhỏ trên vách cho đến nó phát quang. Hoặc dùng chánh quán “Tứ niệm xứ”, quán “Tứ đế”, quán “Mười hai nhân duyên” v.v… Đến kết quả được Tứ thiền, Bát định và tiến lên Tứ gia hạnh, thành tựu Tứ quả Thanh văn. Bởi pháp Thiền này hạn cuộc trên h́nh thức và tu chứng từng thứ bậc, nên khác hẳn với Thiền tông. Thiền tông “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, không thuộc h́nh thức, cũng không thứ bậc.

B. THIỀN TÔNG VỚI THIỀN ĐẠI THỪA.

Thiền Đại thừa cũng có nhiều lối tu, cần yếu từ tướng thẳng vào Bản tánh. Tuy có những đề mục đồng với Tiểu thừa, như Bồ-tát tu Ngũ pháp: Bồ-tát quán Phật tam-muội, Bồ-tát quán Bất tịnh tam-muội, Bồ-tát quán Từ tam-muội, Bồ-tát quán Nhân duyên tam-muội, Bồ-tát quán Lục diệu pháp môn. Song đối mỗi pháp này Bồ-tát quán từ tướng đi thẳng vào tánh, tức là từ giả tướng tiến đến Thật tướng. Hoặc thiền theo tông Thiên Thai của ngài Trí Giả đại sư, ứng dụng pháp Tam quán, quán Không, quán Giả, quán Trung, y cứ bài kệ trong quyển Trung Quán Luận của Bồ-tát Long Thọ. Bài kệ:

Nhân duyên sở sanh pháp
Ngă thuyết tức thị không
Diệc danh vi giả danh
Diệc danh trung đạo nghĩa.

Nhân duyên sanh các pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa Trung đạo.

Thấy các pháp do nhân duyên sanh, Thể tánh đều không tức là quán Không. Thể tánh các pháp là không, song khi duyên hợp giả có, tức là quán Giả. Không giả đều buông, chỉ c̣n nhất tâm Chân như, tức là quán Trung đạo đệ nhất nghĩa. Bồ-tát tu nhân như thế, đến kết quả sẽ chứng từng bậc từ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa đến Đẳng giác, Diệu giác là Phật. Thiền Đại thừa đă gần với Thiền tông, song Thiền Đại thừa c̣n thấy có pháp để tu, thấy có quả để chứng, nên c̣n khác biệt. Bởi v́ Thiền tông không thấy có một pháp dạy người, không thấy có một quả để chứng.

C. THIỀN TÔNG VỚI THIỀN NGOẠI ĐẠO.

Để khỏi lầm lẫn ư nghĩa chống đối hay khinh rẻ, chúng ta nên định nghĩa chữ “ngoại đạo” cho rơ ràng. Nhà Phật định nghĩa rất rơ: Ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo. Như thế, dù cho người xuất gia theo Phật mà chỉ một bề hướng ngoại cầu mong cũng gọi là ngoại đạo. Bất cứ một pháp tu nào chỉ trông cậy bên ngoài, t́m kiếm bên ngoài đều gọi là ngoại đạo. V́ chủ trương nhà Phật, người tu phải “minh tâm kiến tánh” mới thành Phật. Tâm tánh đâu phải việc bên ngoài, nếu t́m bên ngoài là trái tông chỉ nhà Phật, nên gọi là ngoại đạo. Chúng tôi liệt kê những lối tu Thiền theo ngoại đạo đang hiện hành ở Việt Nam như: Thiền xuất hồn, Thiền chuyển luân xa, Thiền chuyển tinh hóa khí chuyển khí hóa thần, Thiền thai tức, Thiền điện thiêng liêng, Thiền du-già…

Những lối tu Thiền này không ngoài hai tiêu chuẩn: mầu nhiệm và sống lâu. Mầu nhiệm thuộc huyền bí, hấp dẫn những người hiếu kỳ. Sống lâu thuộc thân thể khỏe mạnh hấp dẫn những người thích sống dai. Hai tiêu chuẩn ấy trái hẳn với đạo Phật. Đạo Phật chủ trương tu để mở mang trí tuệ thấy được chân lư, không cần sự mầu nhiệm. Có trí tuệ liền thấy tất cả giả tướng ở thế gian đều là vô thường, dù cố dụng công bảo vệ duy tŕ mấy, rốt cuộc cũng hoại diệt. Cái giả mà cố giữ không phải si mê là ǵ? Thiền tông thấy tất cả pháp duyên hợp hư giả, thể nó là không, nhận ra Chân tánh bất sanh bất diệt, nên trái hẳn các pháp thiền ngoại đạo.

Tóm lại, Thiền Tiểu thừa, Thiền Đại thừa tuy sâu cạn có khác, song đều một chủ đích mượn cảnh, mượn đề mục để định tâm; tâm an định, trí tuệ phát sanh, đó là nhân định phát tuệ của đạo Phật. Thiền tông đi thẳng từ cửa trí tuệ thấy vọng tưởng tánh không, nhận ra Chân tánh phi không “Tri hữu”. Cho nên Thiền tông gọi là đi “đường chim”. Đường chim rất khó đi, song một khi cất cánh, thẳng đến mục tiêu hạ xuống, không có ǵ khác lạ. Thiền Tiểu thừa, Thiền Đại thừa cần dùng phương tiện để tu, như đi đường bộ, đường thủy không nguy hiểm, song nhiều khúc quanh, nhiều lối tẽ, khiến người tu có lúc phải ngơ ngác. Thiền ngoại đạo tu chóng kết quả, có mầu nhiệm, song chỉ là cái dụng tạm thời, không phải con đường giải thoát sanh tử. Trong nhà Thiền dạy: “Thà là ngàn năm không ngộ, không để một phút sai lầm.” Tại sao? Bởi v́ tu theo thiền ngoại đạo không gieo nhân giác ngộ, quả giác ngộ làm ǵ có? Lại nữa đă đi đường tà th́ sức mạnh ấy sẽ dẫn đi măi măi, biết bao giờ được hồi tâm tỉnh giác. V́ thế người Phật tử phải thận trọng khi tu học theo một pháp thiền nào. Dù người dạy có nói cao siêu mầu nhiệm mấy đi nữa, đối chiếu với kinh Phật không hợp, nhất định người Phật tử không nên theo. Chính v́ đa số Phật tử hiện nay ham tu mộ đạo nên đă tu theo thiền ngoại đạo khá nhiều. Với ḷng chân thật của ḿnh, chúng tôi mong quí Phật tử xét thật kỹ trong việc tu hành hiện nay, đừng để sai lầm về sau hối hận đă muộn. Dù người ấy xuất gia tu theo đạo Phật, thờ đức Phật mà dạy không đúng kinh điển Phật, xin chớ vội tin.

VII. THIỀN TÔNG KHÔNG NẶNG H̀NH THỨC TÔN GIÁO.

A. NẾU LÀ TÔN GIÁO.

Thiền tông quả thật là một lối tu trở về Bản tâm của mỗi người. Bản tâm là thể hằng giác linh tri bất sanh bất diệt, chính là chỗ cứu kính tối thượng của người tu Thiền đạt đến. Song muốn đạt đến Bản tâm mọi người cần phải dẹp những kiến chấp sai lầm về tâm, thân và cảnh. Bởi chúng sanh muôn đời lầm lẫn chấp vọng tưởng làm tâm, chấp thân tạm bợ làm thân thật, chấp ngoại cảnh giả dối làm cảnh thật, nên mất Bản tâm. Người tu Thiền cần trở về Bản tâm, trước phải phá những cái chấp sai lầm ấy, nhiên hậu mới thấy được Bản tâm. Phá chấp sai lầm do công dụng của trí Bát-nhă, nó là đội binh tiên phong công phá thành tŕ vô minh. Sau khi phá được cửa cổng vô minh, tiến vào trong sẽ thấy ông chủ nhân đang ngự trên ngôi đền năm uẩn. Thế nên, nếu là tôn giáo, Thiền tông lấy tâm làm tôn, lấy trí tuệ làm giáo. Bởi tâm là đấng tối thượng của thiền, trí tuệ là cửa giáo hóa chúng sanh.

Một tôn giáo mà không phải tôn giáo. Theo nghĩa thông thường của tôn giáo, tức có một đấng tối thượng để cho người tôn sùng là tôn, tuân theo lời chỉ dạy của đấng ấy hay vị đại diện cho đấng ấy gọi là giáo. Thiền tông không phải thế, chính đức Phật Thích-ca, người tu Thiền vẫn xem là bậc thầy dẫn đường, là người giác ngộ trước chúng ta. Chúng ta không biết đường nên quí kính người dẫn đường, biết ân người dẫn đường. Chúng ta chưa giác ngộ nên quí kính người đă giác ngộ, học đ̣i theo để được giác ngộ. Giác ngộ là phá được vô minh, thấy được Bản tâm của chính ḿnh mới là điều tối thượng. Điều đó đức Phật có công chỉ dạy, đạt được hay không do công phu của mỗi người. Nếu người tu một bề trông mong đức Phật cứu độ cho ḿnh được thế này, thế nọ, đă sai lầm. V́ thế Tổ Lâm Tế nói: “Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy t́m, liền cùng Phật, Tổ chẳng khác. Các ông muốn được biết Phật, Tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy. Học nhân tin chẳng đến, liền chạy t́m ra ngoài. Dù có t́m được cũng chỉ là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng được ư Phật, Tổ sống. Chớ lầm!” Quả là Phật, Tổ không cứu được ḿnh, chính ḿnh tự cứu. Chẳng những thế, Thiền sư cũng không muốn linh thiêng, thần thánh hóa đức Phật, cần thấy đức Phật vẫn là một con người, thân của Ngài rồi cũng hoại diệt, chính Tánh giác mới là tối thượng. Thiền sư Đức Sơn đă bộc lộ ư này. Sư nói: “Nhân giả! Nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe lăo Hồ (ông già Ấn Độ, chỉ Phật) trải ba vô số kiếp tu hành mà nay c̣n đâu? Sau tám mươi năm chết mất, cùng các ông có khác ǵ?” Qua những câu nói trên chúng ta thấy rơ Thiền sư không đặt đức Phật là bậc tôn sùng tối thượng, chính Tánh giác (Bản tâm) của mỗi người mới đáng sùng thượng hơn hết.

Do những nhận thức trên, Thiền tông đối với h́nh thức tôn giáo thật là giản đơn b́nh dị, không rườm rà phức tạp như các tông phái khác. Bản tâm và trí tuệ không phải do tín ngưỡng mà được, phải quán chiếu tỉnh giác mới phát sanh. Càng nặng về h́nh thức nghi lễ càng dễ mất ḿnh, càng xa với Tánh giác. Yên lặng tỉnh táo, phản chiếu lại ḿnh là yếu tố quan thiết của người tu thiền.

B. THIỀN TÔNG BAO DUNG CÁC TÔN GIÁO.

Ngay bản chất đạo Phật, Thiền tông cũng bao dung được các tông phái khác mà các tông phái khác khó bao dung Thiền tông. Tại sao? Bởi v́ Thiền tông thấy rơ chủ yếu của đạo Phật là giác ngộ, muốn giác ngộ trước phải dừng vọng tưởng. Thế th́ người niệm Phật để dừng vọng tưởng, người tŕ chú cũng để dừng vọng tưởng, tụng kinh, quán tưởng… đều cùng về một mục đích ấy. Đă cùng về một mục đích, c̣n ǵ phải chống trái nhau. Chẳng qua trên phương tiện có khác, cứu kính Phật dạy không hai. Bản chất Thiền tông không nặng h́nh tướng, h́nh tướng nào cũng không ngại Thiền tông. Các tông phái khác chẳng thế, bởi có h́nh tướng và quan trọng h́nh tướng nên thấy ai làm khác ḿnh th́ không chịu. V́ thế phái này không thể dung hội phái kia.

Đến các tôn giáo bạn, Thiền tông cũng không thấy có trở ngại. Lối tu trở về tâm tánh mở mang trí tuệ, cứ trông về ḿnh, ít ngó ra ngoài, không so sánh đối đăi, c̣n ǵ thấy có chướng ngại nhau. Hơn nữa tâm tánh trí tuệ là cái sẵn có nơi mọi người, dù người theo tôn giáo nào, hai điều ấy vẫn không thiếu, đă có như nhau th́ ai khác hơn ai mà đố kỵ. Người này niệm Phật, người kia niệm Chúa, chúng ta đều thấy là phương tiện của họ dừng vọng tâm. Một khi vọng tưởng dừng lại, hoặc thấy Phật, hoặc thấy Chúa, đều từ Bản tâm hiện ra, nên nói: “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ”. Có quan niệm cởi mở như thế, làm ǵ thấy trở ngại giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. V́ thế, đời Tống ở Trung Quốc dùng Thiền tông dung hội cả Lăo và Nho, gọi là Tam giáo đồng nguyên. Đời Trần ở Việt Nam cũng thế, ḥa hợp Phật, Lăo, Khổng thành một nhà. Bởi v́, trên chỗ tột đỉnh các lối đi đều gặp nhau. Song phải là người đến đỉnh rồi, mới nhận ra điều ấy.

C. NẾU LÀ KHOA HỌC.

Thiền tông tu bằng cách khai thác tâm linh, t́m ra chân lư hiện thực của con người. Con người là đối tượng duy nhất của Thiền tông nói riêng, của đạo Phật nói chung. Vạch trần sự thật nơi con người, khai thác cái u ẩn thâm sâu nhất của con người, đem lại hạnh phúc an lạc vĩnh cửu cho con người, thử hỏi c̣n khoa học nào vượt hơn thế nữa? Đối tượng của khoa học hiện nay là vũ trụ, là vật chất, cốt chinh phục thiên nhiên để cung phụng cho con người. Song vũ trụ là cái phụ, con người mới chánh yếu, t́m tột cùng cái phụ cũng chưa mang lại hạnh phúc chân thật cho con người. V́ lẽ nguyên lư của vũ trụ là tương đối, trong ấy luôn luôn đối đăi nhau, làm ǵ đạt được cái chân thật cứu kính miên viễn. Với tinh thần t́m chân lư, đem lại hạnh phúc chân thật cho con người, Thiền tông là một khoa học. Cho nên Thiền sư khi tu phải trải qua đôi ba phen giác ngộ, khác nào những nhà khoa học phải có những lần phát minh. Song tâm linh không h́nh tướng, vượt quá tầm khảo sát của khoa học. Thế nên có thể nói thiền là một môn “Khoa học tâm linh”, khoa học mà siêu khoa học.

VIII. ĐẶC ĐIỂM THIỀN TÔNG.

A. THIỀN TÔNG TẠO DỰNG CON NGƯỜI CÓ ĐỦ BA ĐỨC TÁNH.

1. Tự tín: Người tu thiền phải tin quả quyết tâm ḿnh là Phật. Đó là chủ đề then chốt của người tu. Chúng ta nghe câu chuyện Thiền sư Pháp Thường ở  Đại Mai.

Ban sơ đến tham vấn Mă Tổ, Sư hỏi: “Thế nào là Phật?” Mă Tổ đáp: “Tức tâm là Phật.” Sư liền đại ngộ, từ giă về ở núi. Sau Mă Tổ nghe Sư ở núi, sai một vị Tăng đến thăm ḍ. Tăng đến hỏi Sư: “Ḥa thượng gặp Mă Tổ được cái ǵ về ở núi này?” Sư đáp: “Mă Tổ nói với tôi ‘tức tâm là Phật’, tôi bèn đến ở núi này.” Vị Tăng nói: “Gần đây Mă Tổ lại nói ‘phi tâm phi Phật’.” Sư bảo: “Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông ‘phi tâm phi Phật’, tôi chỉ biết ‘tức tâm là Phật’.” Vị Tăng trở về thưa lại Mă Tổ, Mă Tổ nói với đại chúng: “Trái mai đă chín!” (v́ Sư ở núi Đại Mai).

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy tin tâm ḿnh là Phật quả thật một yếu điểm vào cửa Thiền. Không tin tâm ḿnh là Phật th́ không sao cố gắng trong những cảnh huống khó khăn trên con đường tu hành. Quả quyết tin tâm ḿnh là Phật, đó là thành tựu đức tự tín mănh liệt. Trên sự tu hành, chúng ta đă khẳng định chính ḿnh mới giải thoát sanh tử cho ḿnh, không phải đức Phật hoặc chư vị Bồ-tát nào có thể giải thoát thế ḿnh. Ngoài xă hội cũng thế, mọi việc thành bại, dở hay, tốt xấu… đều tự chúng ta tạo nên. Chúng ta là chủ nhân thành Phật th́ chúng ta cũng là chủ nhân mọi sự thành bại dở hay. Đức tự tín khiến con người không trốn tránh trách nhiệm, không ỷ lại kẻ khác, không hèn nhát trước mọi khó khăn.

2. Quả cảm: Nhờ tự tín người tu mới can đảm vượt mọi khó khăn, cương quyết quả cảm tiến lên trên con đường siêu nhân, phấn đấu chiến thắng ma quân. Thấy rơ ḿnh có khả năng thành Phật, chẳng ngần ngại e dè, quyết chí tiến tu cho thành đạt kết quả. Đức tự tín khiến con người mạnh dạn gan dạ trên mọi công tác lợi ḿnh lợi người. Nếu thiếu đức tự tín, con người không bao giờ dám cả quyết một sự kiện nào. Nhờ tin tâm ḿnh là Phật, Thiền sư xem thường mọi nguy hiểm, như: Thiền sư Linh Hựu khi mới đến Qui Sơn, non này cao vót không có bóng người lai văng, là hang ổ của cọp sói. Sư đến đây cất một am tranh, hằng ngày lượm trái lật, trái dẻ làm thức ăn nuôi sống. Trải qua bảy năm, một hôm Sư tự nghĩ: “Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một ḿnh chẳng phải.” Sư bèn đi lần xuống núi, thấy cọp sói Sư bảo: “Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây th́ các ngươi cứ ăn thịt ta đi.”

Trước nguy hiểm, Thiền sư vẫn ung dung tự tại, thật là một tâm hồn quả cảm tràn trề. Nếu ứng dụng tinh thần quả cảm này vào xă hội th́ có việc ǵ làm chẳng thành.

3. Cần cù: Có tự tín mới có nỗ lực tiến tu. Bất cứ làm một việc ǵ mà không tin ḿnh làm được, chắc chắn việc ấy sẽ bỏ dở hoặc có làm cũng lừng chừng cầu may. Tin chắc việc này ḿnh làm được, ngày đêm cần cù không dám lơi lỏng. Đức tự tín giúp con người siêng năng bền chí. Tin cả quyết tâm ḿnh là Phật, người tu thiền tinh tấn bền chí nhẫn nại cố gắng thực hành cho đến kết quả mới thôi. Tin tâm ḿnh là Phật, là đă có Phật nhân, cố gắng tu hành sẽ thành Phật quả. Từ nhân đến quả đều do công phu của chính ḿnh, không phải ai khác làm thế cho ta. Ở thế gian, nếu người có đức tự tín, chắc chắn mọi công tác sẽ được thành công. Tin tưởng khả năng ḿnh, mới có siêng năng cố gắng trong mọi nhiệm vụ của ḿnh. Thế nên có đức tự tín rồi mới có quả cảm và cần cù.

B. THIỀN TÔNG GẮN LIỀN VỚI SỰ THẠNH SUY CỦA DÂN TỘC.

Xă hội và tôn giáo có ảnh hưởng mật thiết với nhau, nhất là Thiền tông. Trong Phật giáo có quá nhiều pháp môn, cho nên ở hoàn cảnh xă hội nào cũng có pháp môn thích hợp với xă hội ấy. Khi dân tộc đầy đủ chủ quyền độc lập th́ pháp môn tu nhà Phật hướng về tự lực. Khi dân tộc mất chủ quyền bị lệ thuộc th́ pháp môn tu nhà Phật hướng về tha lực. V́ thế Thiền tông thạnh hành ở Trung Quốc vào đời Đường, đời Tống. Đến đời Nguyên, Thiền tông bị suy yếu, đời Minh cũng chưa đứng vững, sang đời Thanh, Thiền tông từ từ nhường chỗ cho Tịnh độ tông. Ở Việt Nam đời Lư đời Trần, Phật giáo hầu hết là Thiền tông. Sang đời Lê, Thiền tông yếu thế từ từ, đến đời Nguyễn lại càng yếu. Khi Việt Nam lệ thuộc Pháp th́ Thiền tông mất dạng, tất cả chùa chiền đều trở thành Tịnh độ hết. Riêng về Nhật Bản, từ trước đến nay Thiền tông vẫn đứng vững ở vị trí của nó. Cho nên chúng ta thấy rơ sự thạnh suy của dân tộc là sự thạnh suy của Thiền tông. Sự gắn liền ấy, chẳng qua là do Thiền tông đặt hẳn về sức tự tín tự lực, thiếu tự tín th́ Thiền tông mất đất đứng. Một nước mất chủ quyền, người dân làm sao t́m ra đức tự tín? Chính v́ thế Thiền tông chịu ảnh hưởng theo. Ngày nay chúng tôi cố gắng gầy dựng lại Thiền tông, âu cũng là thời dân tộc đầy đủ chủ quyền. V́ thế chúng tôi tin rằng trong sự có mặt của Phật giáo trên đất nước Việt Nam mai sau, chắc chắn Thiền tông sẽ đóng góp một phần đáng kể.

C. THIỀN TÔNG RẤT THỰC TẾ.

Chủ trương của Thiền tông là mở mang trí tuệ, phát minh tâm tánh của con người. Trí tuệ và tâm tánh là hai điều thiết yếu nơi con người, quả thật hiện hữu, không phải chuyện huyền hoặc xa vời. Một con người mà không có trí tuệ, không nhận ra tâm tánh, thử hỏi thiếu sót lớn lao đến ngần nào? Người ta chỉ biết giá trị con người trên b́nh diện h́nh thức, giá trị ấy quá tạm bợ, cũng chưa thiết thực. Thiếu ǵ người dáng vẻ sáng sủa mà tâm hồn đen tối, cũng có những người dáng ngoài xềnh xoàng mà tâm hồn rất cao cả. Hơn nữa thân thể này là tướng vô thường hoại diệt, chỉ trong ṿng tám mươi năm là tan biến, giá trị ấy cũng quá giới hạn. Thiền tông giúp chúng ta nhận ra nơi con người ḿnh, c̣n có cái vượt ngoài mọi giới hạn của thời gian và không gian, cái đó mới là thật con người của chúng ta từ muôn đời (Bản lai diện mục). Con người thật của ḿnh đó, không phải t́m kiếm ở phương trời nào, mà nó ở ngay nơi thân hiện hữu này. Chúng ta nghe Thiền sư Đạo Giai nói:

Châu trung hữu hỏa quân tu tín
Hưu hướng thiên biên vấn thái dương.

Trong châu có lửa anh tin lấy
Thôi đến bên trời hỏi thái dương.

Chính nơi thân tứ đại hư giả đă có sẵn con người chân thật ở trong. Con người thật của ḿnh không phải do Phật ban, cũng không phải thần thông huyền bí ǵ tạo nên. Chính nó là cái bản hữu nơi chúng ta, một phút giây vắng nó thân này đă ngừng hoạt động. Chỉ khổ nỗi nó không có h́nh tướng nên khó chỉ thẳng, khó nói thẳng cho người ta biết. Song với người thông minh, nghe qua vài công dụng của nó là nhận được nó ngay. Ví như gió không có h́nh tướng, nhưng thấy lá cây động, thân người mát, chúng ta nhận ra có gió không nghi. Nói khả năng của gió là một thực tế, đâu phải là chuyện mơ hồ. Chính v́ đem lại giá trị chân thật cho con người, Thiền tông chỉ thẳng Tâm thể chân thật của mỗi cá nhân. Tâm thể ấy hằng khởi diệu dụng ở sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư của chúng ta. Đây chúng ta nghe một ông vua diễn tả Tâm thể của ḿnh:

Vua Đường Trang Tông đi Hà Bắc trở về đến Ngụy phủ, dừng tại Hành cung, cho sứ mời Thiền sư Tồn Tương đến. Vua bảo: “Trẫm thâu Trung Nguyên nhận được ḥn ngọc quí, chưa có ai trả giá.” Sư nói: “Xin Bệ hạ cho xem.” Vua lấy hai tay vuốt từ đầu đến chân. Sư nói: “Ngọc quí của đấng quân vương, ai dám trả giá.”

Ḥn ngọc quí vô giá, vừa khởi tâm trả giá đă mất ḥn ngọc rồi. Cho nên Thiền sư nói “ai dám trả giá”. Đây cũng đồng với ư của Tổ Tăng Xán trong bài Tín Tâm Minh, mở đầu bằng câu “đại đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”. Đại đạo hay ḥn ngọc đều chỉ Tâm thể của chúng ta. Chỗ đó tối kỵ giản trạch hay trả giá. Không giản trạch th́ đại đạo đâu khó thấy, vừa có giản trạch đại đạo đă ẩn khuất. Chính chỗ đó Thiền sư Huyền Giác cũng nói trong bài Chứng Đạo Ca:

Bất ly đương xứ thường trạm nhiên
Mích tức tri quân bất khả kiến.

Chẳng ĺa đương xứ hằng lặng yên
T́m đó biết anh không thể thấy.

Qua những lời nói trên, chúng ta biết nó thực tế đến ngần nào. Cái quả thật, do người ta quên đi, khiến trở thành hư. Cái quả hư, người ta cố chấp biến thành thật.

Càng thực tế hơn nữa, khi thực hành công phu, người tu thiền tu trong mọi hành động, nhất là lúc làm việc. Nếu là thợ may, người tu thiền chăm chú vào đường may, không cho tâm chạy nơi nào khác. Nếu là tài xế, người tu thiền chỉ nh́n thẳng trên đường, không để tâm chạy đông chạy tây. Nếu là nông phu, người tu thiền khi cuốc đất, chăm chú vào từng lát cuốc, không để tâm nghĩ sớm nghĩ chiều… Bởi chăm chỉ vào việc làm, nên việc làm được chu đáo, cũng quên cả mệt và ngán. Chính v́ thế, vừa làm được việc, cũng lợi cho sự tu, tu và làm không chướng ngại nhau. Nếu biết ứng dụng tu thiền vào mọi ngành mọi nghề, ngành nghề càng mau phát triển. V́ sự chú tâm người ta dễ phát minh những sáng kiến.

Để thấy tánh cách thực tế của Thiền tông, chúng ta nghe Lục Tổ nói trong bài tụng Vô tướng:

Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích bồ-đề
Kháp tợ tầm thố giác.

Phật pháp ở thế gian
Chẳng ĺa thế gian giác
Ĺa thế kiếm bồ-đề
Giống như t́m sừng thỏ.

Bấy nhiêu đó chúng ta cũng thấy rơ tánh cách thực tế của Thiền tông rồi.

D. TU THIỀN PHÙ HỢP VỚI THUẬT DƯỠNG SINH.

Người tu thiền biết điều ḥa thân thể, điều ḥa hơi thở và tâm tư, do đó bệnh hoạn ít sanh. Về thân thể, người tu thiền ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ có chừng mực, làm việc đúng thời khóa, cấm kỵ những việc trác táng, rượu chè… Về hơi thở, người tu thiền biết điều ḥa hơi thở dài và nhẹ. Hơi thở là chủ yếu của sức khỏe, là quyết định của mạng sống. Khi mệt th́ thở hổn hển, khỏe th́ thở nhẹ nhàng. Sanh mạng c̣n hay mất do hơi thở định đoạt. Thế mà người đời sống không biết hơi thở ḿnh đang thế nào, dường như họ quên mất, ít khi biết đến. Về tâm tư, con người có những lo nghĩ bất thường hoặc tức giận, hoặc sợ sệt, hoặc buồn khổ đều là nguyên nhân phát bệnh. Người tu thiền khéo buông xả những tâm niệm bất thường ấy, khiến nội tâm an ổn nhẹ nhàng. Buông xả mọi tâm niệm xáo động nơi ḿnh, người ấy sẽ điềm đạm b́nh tĩnh. Lại những khi bị gió lạnh xâm nhập vào thân, chỉ cần ngồi thiền trong một giờ th́ tan hết. Bởi lẽ khi ngồi thiền hơi nóng trong người xông lên nên khí lạnh tan biến. Con người do thân bất an sanh bệnh, tâm bất an sanh bệnh. Người tu thiền khéo điều ḥa thân an ổn, tâm yên định, nên phù hợp với thuật dưỡng sinh.

IX. NHỮNG NGHI VẤN VỀ THIỀN TÔNG.

A. CHƯ TỔ THIỀN TÔNG KHÔNG ĐỦ CHỨNG CỨ?

Câu hỏi này gồm hai nghi vấn: Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca-diếp không thấy ghi chép ở kinh nào, chư Tổ kế thừa ở Ấn Độ cũng không thấy ghi chép trong các sử sách.

Về nghi vấn trên, chúng ta kinh nghiệm hiện tại có thể hiểu quá khứ. Có lắm vị thầy trong các ngành nghề, tôn giáo, đảng phái, bao giờ cũng có một vài đệ tử được bí truyền, c̣n đa số chỉ dạy thông thường thôi. Bởi v́ người cảm thông được ḿnh mới nói hết những bí ẩn trong ḷng ḿnh cho họ. Những điều ấy không thể nói giữa quần chúng, mà chỉ nói riêng tư. Kinh chép lại, chỉ ghi những thời thuyết pháp cho đông người, hoặc có tánh cách phổ thông, những điều bí truyền làm sao chép được. Hơn nữa, với Tổ Ca-diếp đă có mấy lần ở giữa chúng, đức Phật mời Ngài lên ngồi chung ṭa và cũng từng tán thán: “những ǵ ta biết, Ca-diếp cũng biết v.v…”, trong các kinh A-hàm c̣n rơ ràng. Thế th́, “biệt truyền tâm ấn” cho Tổ Ca-diếp đâu c̣n lạ ǵ.

Nghi vấn thứ hai, có tánh cách học giả. Trong Thiền tông thầy tṛ truyền nhau không khoa trương, mà thầm lặng. Chỉ cần để y bát làm tin, không thiết tuyên bố cho quần chúng biết. Có khi ở trong rừng, trong núi, một thầy một tṛ truyền nhau, làm sao có ghi sử sách? Cho nên trong nhà Thiền lấy y bát làm “biểu tín”, tâm ấn làm “mật tín”. Người được thầy trao y bát, đại chúng đều biết đă được truyền tâm ấn. Căn cứ vào tâm ấn, nếu không có người trước truyền cho người sau, làm ǵ người sau nhận được pháp này. Ví như một gia tộc có ḥn ngọc quí, từ ông cha truyền đến con cháu, đến đời cháu thứ sáu mươi nhận được ḥn ngọc do người cha thứ năm mươi chín trao cho. Người cha kể lịch sử truyền trao trong gia tộc cho nó nghe, nó nhận được ḥn ngọc thật, trong ḥn ngọc có khắc niên hiệu của thời ông bà xa xưa của nó, thử hỏi nó có tin lời kể lại của cha nó là thật chăng? Trừ ra những người không biết ḥn ngọc th́ khó tin chuyện ấy. Cũng thế, pháp “trực chỉ nhân tâm” của nhà thiền không phải là chuyện ngẫu nhiên được, cần có Thiện tri thức chỉ dạy mới nhận ra. Người nhận ra pháp này tự nhiên không c̣n nghi ngờ sự truyền thừa của chư Tổ. Nếu nói cần phải có sự chứng minh của lịch sử th́ việc trong rừng trong núi của cá nhân làm ǵ có lịch sử?

B. AI TRUYỀN TÂM ẤN CHO CHÚNG TÔI?

Nghi vấn này rất hữu lư, người biết chút ít về thiền không ai chẳng đặt nghi vấn này. Từ Lục Tổ về trước, Tổ Tổ truyền nhau, trong th́ ấn tâm, ngoài truyền y bát làm “biểu tín”. Lục Tổ về sau không c̣n truyền y bát nữa, v́ nhiều người hiểu thiền, nghe một câu nói, thấy một hành động là biết người ấy thế nào rồi. Hơn nữa một vị Thiện tri thức nổi tiếng được chúng theo tham vấn có cả năm bảy trăm một ngàn, nếu có một người được vị Thiện tri thức ấn chứng tức thiên hạ đều biết, cần ǵ phải có y bát. Song một vị ra làm Thiện tri thức, hướng dẫn người tu học đều phải được thầy ấn chứng, có hệ phái rơ ràng. Đến thời chúng ta hiện nay, Thiền tông đă mất dạng cả một trăm năm, c̣n ai là Thiện tri thức chỉ dạy cho chúng tôi, mà chúng tôi đề xướng khôi phục Thiền tông? Quả là một điều đáng nghi.

Thật ḷng, trước kia chúng tôi không có mơ mộng tu thiền, huống nữa khôi phục Thiền tông. Song chúng tôi hâm mộ tu thiền và cố gắng tu thiền, theo lối thiền phổ thông. Thời gian nhập thất hạ thủ công phu tu tập, một hôm bất thần chúng tôi phát minh được lư Thiền tông. Sau đó chúng tôi đọc qua kinh sử Thiền tông, càng làm sáng tỏ chỗ chúng tôi nhận được. Từ đó, chúng tôi khảo cứu sách sử thiền, những bộ này ngày xưa đối với chúng tôi không thể nào hiểu nổi, nhưng hiện nay không c̣n khó khăn nữa, càng đọc càng hứng thú. Đồng thời, những chỗ khó trong các kinh điển Đại thừa, lúc trước đă học qua mà chưa hiểu, chúng tôi nhớ lại và hiểu một cách dễ dàng. V́ thế, ngày xưa chúng tôi đă từng nói giữa học chúng: “kinh điển Đại thừa chỉ để trên gác thờ”, ngày nay chúng tôi thấy: “kinh điển Đại thừa là một kho châu báu”.

Bởi thấy Thiền tông đơn giản thực tế, siêu thoát, ứng dụng tu hành lợi ích ngay trong hiện tại, chúng tôi không nỡ tự tu tự hưởng một ḿnh. Do đó, chúng tôi mở Thiền viện dạy tu thiền. Chúng tôi không được Thiện tri thức trực tiếp ấn chứng, nên chúng tôi dùng kinh sử để giảng thiền. Bởi không được trực tiếp ấn chứng nên chúng tôi không thể dựng phất tử, gọi dạ như thầy tṛ Tổ Qui Sơn, Ngưỡng Sơn; đánh hét như thầy tṛ Tổ Hoàng Bá, Lâm Tế. Chúng tôi chỉ giảng dạy kinh, luận, sử cho người nghe nhận hiểu để ứng dụng tu. Chúng tôi lấy kinh ấn chứng cho Thiền, tu Thiền để sáng tỏ thêm kinh. Sự hỗ tương giữa kinh và thiền đối với chúng tôi thật quá thiết yếu.

Chính Tổ Bồ-đề-đạt-ma đâu không nói: “Cơi này có bốn quyển kinh Lăng-già khả dĩ dùng ấn tâm.” Lục tổ Huệ Năng ngộ đạo do nghe giảng kinh Kim Cang. Đối với chúng tôi hiện nay cũng thế, dùng kinh để ấn tâm, giảng kinh để ngộ đạo. Có người nghi rằng ngày xưa Thiền sư Huyền Giác nhân đọc kinh Duy-ma-cật nhận ra lư Thiền, vẫn được Thiền sư Huyền Sách khuyến khích đến Lục Tổ ấn chứng, nếu không sẽ thành ngoại đạo thiên nhiên. Chúng tôi hiện nay không có người ấn chứng, lại thành ngoại đạo hay không? Thưa rằng, ngày xưa có Tổ ra đời không đến ấn chứng là người đứng ngoài lề Thiền tông, ngày nay không có Tổ, cũng không có Thiền sư kế thừa, chúng tôi phải nhờ ai ấn chứng? Thế th́ kinh, luận, sử, ngữ lục của chư Tổ không đủ ấn chứng cho chúng tôi sao? Người học đạo cần phải dùng trí phán xét đường lối tu hành, đúng Phật, Tổ dạy hay sai Phật, Tổ dạy, đừng đ̣i hỏi một việc mà không bao giờ làm được.

C. TU THIỀN CÓ PHẢI RƠI VÀO KHÔNG CHĂNG?

Thiền tông chủ trương không kẹt hai bên, c̣n thấy có, thấy không đều là kẹt. Đă kẹt tức là bệnh không thể giải thoát được. Như vậy hỏi tu thiền rơi vào có, rơi vào không đều không hiểu thiền. Bởi v́ Tâm thể không tướng mạo, nên nói không tướng, tuy không tướng mà hằng giác. Không tướng là không phải có, hằng giác là không phải không. Thế th́ nói có nói không đối với thiền đều là phiếm diện, không phải toàn thể. Chúng ta nghe câu chuyện đối đáp của Thiền sư Huệ Hải với Luật sư Pháp Minh để thấy rơ ư nghĩa này:

Luật sư Pháp Minh hỏi: “Các Thiền sư phần nhiều rơi vào không?” Thiền sư Huệ Hải bảo: “Trái lại, các Tọa chủ phần nhiều rơi vào không.” Pháp Minh hỏi: “Tại sao rơi vào không?” Huệ Hải đáp: “Kinh, luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không, dù trên tiếng dựng lập danh, cú, văn, thân đâu chẳng phải là không. Tọa chủ bám chặt vào giáo thể đâu chẳng rơi vào không?” Pháp Minh hỏi: “Thiền sư có rơi vào không chăng?” Huệ Hải đáp: “Văn tự… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không.”

Qua câu chuyện trên liền thấy được ai chấp không. Bởi cửa thiền là cửa Không, nên người ta cứ cho thiền là rơi vào không. Họ không biết rằng đây là bước đầu phá chấp ngă sai lầm cho thật có, khi chấp ngă tan biến rồi liền thấy Tâm thể nào phải là không. Cho tu thiền rơi vào không là cái thấy biết nông nổi cạn cợt ở ngoài, chưa hiểu ǵ về thiền. Người hiểu thiền chân chánh c̣n không thấy có, huống nữa là không.

D. TU THIỀN CHẾT SANH VỀ ĐÂU?

Người học Phật mà đặt câu hỏi này thật quá thiển cận. Chủ yếu của Phật giáo, người tu đạt được Niết-bàn là cứu kính. Nghĩa chánh của Niết-bàn là vô sanh. Mục đích người tu nhắm thẳng đến chỗ vô sanh, mà hỏi sanh về đâu, trái hẳn với mục đích của ḿnh rồi. Nếu c̣n sanh tức chưa viên măn công phu, công phu chưa viên măn th́ tùy phước nghiệp cao thấp, dày mỏng, đến cảnh tương ưng thọ sanh. Nếu công phu đă viên măn, mà hỏi sanh về đâu, như các vị A-la-hán tịch, chư Tỳ-kheo hỏi Phật “vị ấy sanh về đâu” th́ Phật trả lời “như củi hết lửa tắt”. Đống lửa cháy sắp tàn do không thêm củi, khi củi hoàn toàn hết th́ lửa tắt. Không thể hỏi lửa đi về đâu, v́ hiện tượng mất trở lại Bản thể. Bản thể của lửa không tướng mạo, làm sao chỉ chỗ nơi cho người thấy biết được. Củi ví dụ cho nghiệp, c̣n nghiệp th́ c̣n sanh, hết nghiệp hỏi sanh ở đâu?

Riêng về người tu Thiền, khi công phu viên măn đạt được vô sanh tự tại giải thoát, tùy duyên ứng hóa, không thể hỏi đi đâu hay về đâu? Nếu công phu chưa viên măn, khi sắp tịch cần làm chủ được ḿnh, chỉ nhớ sống với Tâm thể thanh tịnh, không bị vọng tưởng chi phối, lúc ra khỏi thân tùy chọn lựa nơi nào đủ duyên th́ đến, không cố định ở đâu. Lại nữa nếu người tu công phu c̣n tầm thường, chỉ cần gan dạ khi đau liền nh́n thẳng cái đau nó đang hoành hành thế nào, thấy được cái đau hoành hành th́ ḿnh không đau. Khi sắp chết cần nh́n thẳng xem cái chết đang tiến hành ra sao, thấy cái chết đang tiến hành th́ ḿnh không chết. Bởi v́ chúng ta cứ đồng hóa cái thân hoại diệt với tâm bất hoại diệt làm một, nên bị nó chi phối. Giờ đây chúng ta thấy rơ sự hoại diệt của nó, tức nó không chi phối được ḿnh. Chúng ta nghe lời đối đáp của Thiền sư Lương Giới, Tổ tông Tào Động về việc này:

Thiền sư Lương Giới sắp tịch, có vị Tăng hỏi: “Ḥa thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?” Sư đáp: “Có.” Tăng hỏi: “Cái chẳng bệnh lại thấy Ḥa thượng chăng?” Sư đáp: “Lăo tăng xem y có phần.” Tăng hỏi: “Chưa biết Ḥa thượng làm sao xem y?” Sư  đáp: “Khi Lăo tăng xem, chẳng thấy có bệnh.”

Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy rơ, biết được cái bệnh cái chết là chúng ta khỏi bệnh khỏi chết. Hỏi chết sanh về đâu là hỏi theo nghiệp, theo nguyện. Người tu thiền nỗ lực buông xả động cơ tạo nghiệp là vọng tưởng, mong mỏi một nơi nào đó cũng là vọng tưởng. Người tu thiền là dứt sự mong cầu, hỏi sanh về đâu thật là ngớ ngẩn vô cùng.

E. TU THIỀN BAO LÂU ĐƯỢC THẦN THÔNG?

Đây là một vấn đề lầm lẫn của đa số người hâm mộ tu thiền. Họ bị những môn thiền tà, ngoại nói về sự linh thiêng mầu nhiệm, khiến họ ước mơ thần thông. Với tinh thần Thiền tông, thần thông diệu dụng chỉ là vấn đề phụ thuộc không đáng kể. Đạt được Tánh giác, sống với Tâm thể mới là điều thiết yếu, như nói “Minh tâm kiến tánh” hay nói “Thức tâm đạt bản nguyên danh vi Sa-môn”. V́ thế mục tiêu chánh yếu của hành giả tu theo Thiền tông là làm sao kiến tánh để khởi tu. Sau khi kiến tánh phải buông xả vọng tưởng để hằng sống với Chân tánh. Ngoài hai điều chánh yếu này không c̣n ǵ đáng kể. Thế nên chư Thiền sư chưa kiến tánh phải đi hành cước hai ba mươi năm t́m khắp các Thiện tri thức để được kiến tánh. Sau khi kiến tánh các ngài vào núi ở mấy mươi năm để buông xả vọng tưởng. Xong việc các ngài mới ra làm lợi ích cho người sau. Mọi sự mầu nhiệm đối với Thiền sư xem như một bệnh hoạn đáng trách.

Thiền sư Nam Tuyền đi thăm trang sở ở dưới núi, đến nơi thấy trang chủ sắp đặt lễ nghi trịnh trọng chực đón. Nam Tuyền hỏi: “Ta đi đâu không báo cho ai biết trước, tại sao trang chủ bày biện thế này?” Trang chủ thưa: “Khi hôm có thổ địa mách, hôm nay Ḥa thượng đến.” Nam Tuyền nói: “Thầy già họ Vương này tu hành vô lực bị quỉ thần thấy tâm.”

Được quỉ thần báo trước việc đến của ḿnh, theo thế thường là quá vinh dự, nhưng Thiền sư xem đó là sự dấy tâm động niệm của ḿnh bị quỉ thần xem thấy. Đến như được sự cúng dường vẫn là bệnh hoạn.

Thiền sư Đạo Ưng cất thảo am ở Tam Phong, suốt tuần nhật không đến trai đường thọ trai. Động Sơn thấy lạ đến hỏi: “Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?” Sư thưa: “Mỗi ngày có thiên thần cúng dường.” Động Sơn bảo: “Ta bảo ngươi là kẻ vẫn c̣n kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại.” Chiều Sư đến, Động Sơn gọi: “Ưng am chủ!” Sư ứng thanh: “Dạ.” Động Sơn bảo: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là ǵ?” Sư trở về am ngồi yên lặng lẽ, thiên thần t́m măi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.

Người tu được thiên thần cúng dường mỗi ngày là điều ít có. Tại sao không khen, lại bị chê “c̣n kiến giải”? C̣n khởi niệm lành th́ quỉ thần hay chúng sanh khác c̣n thấy, chỉ khi mọi niệm lành dữ đều bặt th́ không c̣n ai thấy tâm ḿnh. Đó mới là chỗ cứu kính của người tu thiền. Cho nên chủ trương của Thiền tông, khi nào trước tám gió - lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc - thổi, tâm hành giả không động là thành công. Thần thông diệu dụng mà một gió đă động th́ đó là dă hồ tinh mị. Người có thiện chí tu hành khéo dè dặt đừng lầm lẫn chỗ này.

G. TU THIỀN CÓ ĐIÊN CHĂNG?

Khi dạy thiền chúng tôi thường nói: “Không biết tu thiền điên, biết tu thiền không điên.” Tại sao? Bởi v́ những người không biết mà tập tu thiền sai lạc nên phát điên, người biết tu thiền đúng đắn làm sao điên được. Nếu tu thiền điên th́ đức Phật, chư Tổ đă điên hết rồi sao? Phật, Tổ do tu thiền đạt đạo, chúng ta ngày nay tu thiền điên là tại sao? Đâu không phải tại không biết tu lầm lẫn nên điên. Thế th́ tu mà điên là tại không biết tu, chớ không phải tại tu thiền. Hơn nữa người tu thiền cấm kỵ nhất là “mừng” và “sợ”. Hiện nay một số hành giả tu thiền, khởi tâm vọng cầu tướng lạ, khi tướng lạ hiện đúng sở cầu, liền khởi “mừng” không thể kềm chế được, phát điên. Hoặc khi tướng lạ hiện khác sở cầu, sanh “sợ” hoảng lên phát điên. Đó là tại mong thấy tướng lạ, như mong thấy Phật hiện, mong thấy hoa sen… Hoặc người tu mong được thần thông, khi ấy quỉ thần thấy tâm mong cầu của ḿnh, nó đến theo sở thích của hành giả, hiện mọi thứ thần thông, hành giả liền bị nó mê hoặc. Sau đó, hành giả trở thành điên cuồng khờ khạo. C̣n lắm chuyện khiến hành giả phát điên, song đều do nguyên nhân vọng cầu mà ra. Người tu thiền chân chánh theo Thiền tông th́ “gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật”. Câu này có hai ư nghĩa. Nghĩa thứ nhất, khi tu Thiền hành giả chẳng những buông xả tâm xấu ác mà tâm hiền thiện cũng xả bỏ luôn. C̣n một niệm dù là niệm lành cũng là bệnh, như nói: “Mạt vàng tuy quí, rơi vào con mắt cũng khó chịu”. Bỏ niệm xấu ác là giết ma, bỏ niệm lành là giết Phật. Nghĩa thứ hai, hành giả trong lúc tu thiền dù thấy Phật hiện hay ma hiện đều không chấp nhận. Bởi v́ tất cả tướng bên ngoài đều không thật, đều hư giả, không chấp nhận th́ tâm mừng, sợ đều không, sự tu hành mới an định. Chúng ta nghe câu chuyện này:

Thiền sư Văn Hỷ (Giải Thoát) đi hành hương Ngũ Đài Sơn, đến hang Kim Cang lễ bái Bồ-tát Văn-thù, gặp Văn-thù mà Sư không biết. Sau này, Sư ngộ đạo ở Ngưỡng Sơn. Một hôm, Sư nấu cháo, thấy Văn-thù hiện trên nồi cháo, Sư lấy cây dầm quậy cháo đập, nói: “Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ.” Văn-thù nói kệ: