|
|
Biên tập từ các bài pháp thoại của
ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày,
vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được
ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đă được tái bản 7 lần,
tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đă được dịch
sang tiếng Sinhala và ấn tống ở Sri Lanka.
---- *----
|
Mục lục
Vài nét về tiểu sử
Thiền sư Ajahn Brahmavamso
Cảm tạ
Phần 1
1) Chú tâm vững bền vào
thời khắc hiện tại.
Phần 2
2) Giác niệm tĩnh lặng
về thời khắc hiện tại.
3) Giác niệm tĩnh lặng trong hiện tại về hơi thở.
4) Hoàn toàn chú tâm vững bền vào hơi thở.
Phần3
5) Hoàn toàn chú tâm
vững bền vào hơi thở tuyệt đẹp.
6) Thể nghiệm định tướng mỹ lệ.
7) Sơ Thiền.
|
---- *----
Vài nét về tiểu sử Thiền
sư Ajahn Brahmavamso
Thiền sư Ajahn Brahmavamso sinh năm
1951 tại London, Anh quốc. Ngài tự xem ḿnh là một Phật tử ngay vào
lứa tuổi mười bảy, sau khi tự t́m hiểu và đọc các sách Phật giáo,
trong lúc vẫn c̣n là một học sinh trung học. Sự chú tâm của ngài về
đạo Phật và Thiền càng nảy nở thêm khi ngài theo học tại Đại học
Cambridge, ngành Vật lư Lư thuyết. Sau khi tốt nghiệp, ngài dạy học
trong một năm, rồi sang Thái Lan để xuất gia.
Ngài thọ giới Tỳ kheo năm hai mươi
ba tuổi, vị thầy truyền giới là ngài Ḥa thượng trụ tŕ chùa Wat
Saket. Sau đó, ngài tu học chín năm trong truyền thống Sơn Lâm (Forest
Tradition), dưới sự hướng dẫn của ngài Thiền Sư Ajahn Chah.
Năm 1983, ngài được thỉnh mời sang
Tây Úc, giúp thiết lập tu viện theo truyền thống Sơn Lâm ở một khu
rừng gần thành phố Perth. Hiện nay, Thiền sư Ajahn Brahmavamso là vị
trụ tŕ Tu viện Bodhinyana (Giác Minh) và là vị lănh đạo tinh
thần của Hội Phật Giáo Tây Úc (The Buddhist Society of Western
Australia).
---- *----
CẢM TẠ
Chân thành cám ơn:
- Sư cô Liễu Pháp và quư đạo hữu
AHT, NĐQ, NKS, PMN, PTH, TTL đă đóng góp các ư kiến quư báu để giúp
chúng tôi chỉnh sửa bản dịch.
- Quư Tỳ khưu Tăng Định, Thiện
Minh và Minh Tấn đă giúp xin giấy phép xuất bản và in sách.
Thiện Nhựt và B́nh Anson
----*----
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO
SAMMASAMBUDDHASA
CUNG KÍNH ĐẢNH LỄ ĐỨC THẾ TÔN,
BẬC ỨNG CÚNG, CHÁNH ĐẲNG GIÁC
PHẦN 1
"Mục tiêu của pháp thiền này là
sự tĩnh lặng vi diệu, sự an định và trong sáng của tâm."
Thiền là đường lối để thực hiện sự
buông bỏ. Khi hành thiền, ta buông bỏ thế giới phức tạp bên ngoài,
để có thể vươn đến thế giới an nhiên bên trong. Trong tất cả các hệ
thống huyền học và trong nhiều truyền thống, hành thiền được biết
đến như là con đường đi đến tâm thanh tịnh và uy lực. Kinh nghiệm về
tâm thanh tịnh này, giải thoát ra khỏi thế giới, rất là vi diệu và
hỷ lạc.
Thông thường khi hành thiền, có
nhiều việc khó khăn cần phải làm, nhưng các bạn nên quyết tâm chịu
đựng các sự khó nhọc đó, v́ chúng sẽ giúp các bạn thể nghiệm được
những trạng thái tuyệt vời, đầy ư nghĩa. Chúng rất xứng đáng cho
những nỗ lực của chúng ta! Quy luật tự nhiên là nếu không có nỗ lực,
ta không thể tiến bộ được. Dù là cư sĩ hay là tu sĩ, nếu chẳng nỗ
lực th́ chẳng đi đến đâu cả, trong việc hành thiền, hoặc trong bất
cứ việc ǵ khác.
Tuy nhiên, chỉ riêng nỗ lực thôi,
cũng chưa đủ. Nỗ lực cần phải khéo léo. Điều này có nghĩa là bạn
hướng năng lực vào đúng chỗ, duy tŕ năng lực đó cho đến khi công
tác được hoàn tất. Nỗ lực khéo léo chẳng hề gây trở ngại hay quấy
rối bạn; ngược lại, nó sẽ tạo ra sự an tĩnh tuyệt vời của mức thiền
định thâm sâu.
Để biết phải hướng nỗ lực đến nơi
nào, bạn cần phải hiểu thật rơ ràng mục tiêu của việc hành thiền.
Mục tiêu đó là sự tĩnh lặng vi diệu, sự an định và trong sáng của
tâm. Nếu bạn hiểu được mục tiêu đó, bạn sẽ thấy rơ ràng nơi
mà bạn cần hướng nỗ lực đến, và biết rơ phương tiện nào dùng để đạt
mục tiêu đó.
Nỗ lực đó phải hướng về sự buông bỏ,
về sự phát triển một tâm trí sẵn sàng xả ly. Một trong các lời dạy
giản dị nhưng sâu sắc của Đức Phật là, "Một hành giả có tâm hướng về
sự buông bỏ, sẽ dễ dàng đạt đến Định (Samàdhi, phiên âm là
Tam-ma-đề)". Hành giả đó đắc được, gần như tự động, các trạng
thái an lạc nội tâm. Điều mà Thế Tôn muốn nói là nguyên nhân chính
để đắc mức thiền thâm sâu, để đạt đến các trạng thái mạnh mẽ đó, là
sự quyết tâm khước từ, buông bỏ và xả ly.
Trong giờ thiền, chúng ta không nên
phát triển một tâm tư chỉ biết tích lũy, bám níu vào các sự vật;
trái lại, chúng ta cần phải đào luyện một tâm trí sẵn sàng buông bỏ
mọi vật, buông bỏ mọi gánh nặng. Ngoài giờ thiền, ta gánh vác biết
bao nhiêu bổn phận đè trên vai, tựa như các hành lư nặng trĩu; nhưng
trong thời gian hành thiền, ta không cần có nhiều hành lư như thế.
Vậy, trong khi hành thiền, hăy xem ta có thể trút bỏ bao nhiêu hành
lư. Bạn hăy xem sự vật như là gánh nặng, như khối trọng lượng, đè ép
lên bạn. Như thế, bạn mới có thái độ đúng đắn để từ khước chúng, tự
ư vứt bỏ chúng, chẳng thèm ngoảnh lại. Chính nỗ lực đó, thái độ đó,
hành động đó của tâm hướng về sự buông bỏ, là điều đưa bạn đi sâu
vào thiền định. Ngay cả ở các giai đoạn khởi đầu của hành thiền, hăy
xét xem bạn có thể tạo ra được bao nhiêu năng lực để xả ly, để vứt
đi mọi sự vật, và dần dần, sự buông bỏ sẽ xảy đến. Khi tâm tư buông
bỏ mọi sự vật, bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn, hiểu biết rơ hơn và tự
do hơn. Hành thiền được như thế, việc buông bỏ sẽ xảy đến theo từng
giai đoạn, từng bước một.
Bạn có thể thực hiện các giai đoạn
tiên khởi một cách nhanh chóng, nếu bạn muốn, nhưng hăy cẩn thận.
Đôi khi, nếu bước qua các giai đoạn đầu quá nhanh, bạn sẽ nhận ra
rằng công việc chuẩn bị vẫn chưa được hoàn tất. Đó cũng giống như dự
định xây cất vội vă một ngôi nhà lầu trên một nền móng c̣n yếu ớt.
Công tŕnh dựng lên quá nhanh, nhưng rồi nó sụp đổ cũng nhanh! Vậy,
bạn nên dành nhiều th́ giờ cho nền móng, và cho "tầng thứ nhất" nữa,
làm sao cho nền móng được vững chắc và kiên cố. Nhờ đó, khi bạn tiến
lên các tầng trên, trạng thái hỷ lạc của thiền định cũng được vững
chắc và kiên cố.
Theo phương cách tôi giảng dạy về
hành thiền, tôi thường bắt đầu từ một giai đoạn rất đơn giản là
hăy buông bỏ hết các hành lư của quá khứ và vị lai. Đôi khi, bạn
có thể tưởng đó là việc quá dễ làm, rằng đó là điều quá sơ đẳng. Tuy
nhiên, nếu bạn dồn hết nỗ lực vào việc đó, không quá nôn nóng chạy
cho mau đến các giai đoạn cao hơn của sự hành thiền, cho đến khi nào
bạn đă đạt đúng đắn mục tiêu đầu tiên là có được sự chú tâm
vững bền vào ngay thời khắc hiện tại, th́ về sau này,
bạn mới nhận thấy được rằng bạn đă thiết lập xong một nền móng thật
vững chắc, để có thể xây trên đó các tầng cao hơn.
Buông bỏ quá khứ có nghĩa là không
nghĩ ǵ đến công việc làm của bạn, gia đ́nh bạn, những cam kết của
bạn, kỷ niệm, những vui buồn của thuở thiếu thời, v.v...; bạn buông
bỏ tất cả những kinh nghiệm đă qua, bằng cách chẳng màng quan tâm
đến chúng. Bạn trở thành một kẻ không có tiểu sử, suốt trong thời
gian hành thiền. Bạn chẳng nghĩ ngay cả việc bạn từ đâu đến, sinh ra
ở đâu, cha mẹ là ai, hoặc bạn đă được nuôi dạy và lớn lên đă như thế
nào. Tất cả những "lịch sử" đó được buông bỏ trong khi hành thiền.
Bằng cách đó, mọi người tại thiền đường này đều trở nên b́nh đẳng
với nhau, chỉ là các thiền sinh. Cũng chẳng quan trọng ǵ về việc
bạn đă hành thiền được bao nhiêu năm, hoặc bạn là người đă có chút
ít kinh nghiệm, hay chỉ mới chập chững bắt đầu. Nếu bạn buông bỏ
được tất cả lịch sử đó, th́ chúng ta đều b́nh đẳng và tự do. Chúng
ta đang tự giải phóng ra khỏi các mối quan tâm đó, các tri giác, và
tư tưởng đă giới hạn chúng ta và làm cản trở sự an tịnh nảy sanh từ
việc buông bỏ. Vậy, cuối cùng rồi, mỗi trang lịch sử của bạn, bạn
đều buông bỏ, ngay cả các biến cố đă xảy ra cho bạn kể từ khi đến dự
khoá thiền ẩn cư này, và ngay cả những ǵ vừa mới xảy ra cho bạn vài
phút trước đây. Bằng cách ấy, bạn không khuân vác một gánh nặng nào
từ quá khứ đem đến cho hiện tại. Bất cứ điều ǵ vừa xảy ra, bạn
không c̣n quan tâm đến và buông cho trôi hết. Bạn không cho phép quá
khứ tác động vào tâm bạn.
Có thể xem việc buông bỏ để luyện
tâm như là một căn pḥng nhỏ có bọc nệm cách âm. Khi một kinh nghiệm
nào, một tri giác hay tư tưởng nào va chạm vào bức tường của căn
pḥng có vách bọc nệm, chúng không dội ngược trở lại. Chúng lún sâu
vào lớp nệm và ngừng ngay tại đó. Như thế, bạn không để cho quá khứ
gây được tiếng vang nào trong tâm tư, cả quá khứ của ngày hôm qua và
tất cả thời gian dài trước đó, bởi v́ chúng ta đang luyện tâm hướng
về sự buông bỏ, vứt đi tất cả, và trút mọi gánh nặng.
Quan điểm của vài người cho rằng nếu
lấy quá khứ ra quán chiếu, họ có thể rút ra bài học và giải quyết
được các vấn đề đă qua. Tuy nhiên, bạn nên hiểu cho rằng khi quay
lại nh́n vào quá khứ, bạn luôn luôn nh́n nó với cặp lăng kính méo
mó. Bất cứ những ǵ bạn nghĩ nó đă là như thế, th́ thực sự nó lại
chẳng giống đúng như thế! Chính v́ vậy, nhiều người đă tranh căi
nhau về những sự việc thực sự vừa xảy ra, ngay cả những chuyện vừa
xảy ra vài phút trước. Các cảnh sát viên điều tra tai nạn giao thông
đều biết rơ điều đó. Mặc dù tai nạn vừa mới xảy ra chừng nửa giờ mà
hai nhân chứng, cả hai đều hoàn toàn thành thật, lại đưa ra hai bản
tường tŕnh khác nhau. Kư ức của ta không đáng tin cậy. Nếu thấy
rằng kư ức không đáng tin cậy, bạn sẽ không đặt nặng giá trị vào
việc hồi tưởng lại quá khứ. Và rồi, bạn sẽ buông bỏ nó đi. Bạn có
thể chôn nó đi, cũng như thể bạn chôn người chết. Khâm liệm tử thi
vào quan tài, và chôn xuống đất hay thiêu hóa đi, thế là xong, chấm
dứt. Đừng bận bịu lần lữa với dĩ văng. Đừng tiếp tục khiêng quan tài
của những thời khắc đă chết vào trong đầu bạn! Nếu bạn làm thế, bạn
đang đè ḿnh xuống dưới các gánh nặng mà xem ra, chúng chẳng phải là
của bạn. Hăy để quá khứ trôi qua đi, và rồi, bạn sẽ có đủ khả năng
để được tự do ngay trong giờ phút hiện tại.
C̣n về tương lai, các dự phóng, lo
sợ, kế hoạch, và kỳ vọng, v.v... -- chúng ta cũng đều nên buông bỏ.
Đức Phật có lần nói về tương lai: "Bất cứ điều ǵ ta nghĩ sẽ xảy ra
như thế, th́ nó luôn luôn lại khác thế"! Bậc hiền trí xem tương lai
như mơ hồ, khó biết và khó mà tiên đoán được. Việc dự đoán về tương
lai thường là một điều hoàn toàn ngu xuẩn, và luôn luôn làm phí mất
th́ giờ nếu ta nghĩ đến tương lai trong lúc hành thiền.
Khi làm việc với tâm, bạn cảm thấy
nó thật lạ lùng. Nó có thể làm những việc kỳ diệu chẳng thể ngờ
trước được. Điều rất thường thấy nơi các thiền sinh khi gặp lúc thật
khó khăn, tâm không được an định, họ ngồi đó nghĩ rằng, "Lại nữa
rồi! Lại thêm một giờ ngồi thiền trong sự bực bội!". Mặc dù khi họ
bắt đầu tưởng nghĩ như thế, và dự đoán sẽ lại bị thất bại trong hành
thiền, th́ vài điều lạ lùng nào đó lại đột nhiên xảy đến, khiến họ
nhập vào thiền định rất ư an ḥa.
Gần đây, tôi có nghe nói về một
người lần đầu đến tham dự khóa thiền mười ngày. Sau ngày thứ nhất,
thân thể ông ta đau nhức quá, đến đỗi ông phải xin về nhà. Vị thiền
sư bảo, "Hăy ở nán lại thêm một ngày và tôi cam đoan sự đau nhức sẽ
qua đi." Ông ta ở thêm ngày nữa, đau nhức chẳng hết, nên ông ta lại
muốn về nhà. Vị thiền sư nhắc lại lời nói trước, "Chỉ thêm một ngày
nữa thôi, đau nhức sẽ biến đi". Ông ta nán lại đến ngày thứ ba và
cơn đau lại càng tồi tệ. Trong các ngày c̣n lại, mỗi ngày ông đều
đến gặp vị thiền sư, và nhăn nhó đ̣i về nhà, nhưng vị thiền sư vẫn
nói, "Chỉ thêm một ngày nữa, cơn đau sẽ dứt". Vào buổi sáng ngày
cuối cùng, ngoài sự chờ mong của ông, khi ông ta bắt đầu ngồi xuống,
th́ cơn đau đột nhiên biến mất, biệt dạng! Cơn đau nhức không tái
hiện. Ông có thể ngồi thiền rất lâu mà không thấy đau nhức chi cả!
Trước sự kỳ diệu đó, ông ta chưng hửng, chẳng biết tâm ông đă làm
thế nào mà nó tạo nên được kết quả quá bất ngờ như thế. Vậy, bạn
không thể nào biết rơ được tương lai đâu! Tương lai thật là kỳ dị,
lạ lùng chẳng hiểu nổi, hoàn toàn vượt khỏi sự dự đoán của bạn.
Những kinh nghiệm như thế đem trí tuệ và can đảm đến cho bạn, để
buông bỏ hết mọi tư tưởng về tương lai cũng như tất cả các kỳ vọng.
Khi đang hành thiền, bạn nghĩ, "Tôi
phải ngồi thiền c̣n thêm bao nhiêu phút nữa đây? C̣n phải chịu đựng
như thế này trong bao lâu nữa?", th́ đó chỉ là sự đi lang thang vào
tương lai. Cơn đau có thể sẽ biến đi trong chớp mắt. Giây phút sau
có thể là giây phút tự do. Bạn không thể nào dự đoán được những ǵ
sẽ xảy ra.
Sau khi đă hành thiền qua nhiều
buổi, đôi khi bạn nghĩ, chẳng có buổi thiền nào là tốt đẹp cả. Trong
buổi thiền tiếp theo, bạn ngồi xuống, và mọi sự lại trở nên an định
và dễ dàng. Bạn nghĩ: "Chà! Giờ đây, tôi có thể hành thiền tốt
rồi!", nhưng buổi tập kế tiếp, bạn lại thấy khó khăn, thất vọng,
chán nản. Cái ǵ kỳ quái vậy?
Vị thiền sư đầu tiên của tôi có nói
với tôi một điều xem ra như kỳ dị lắm. Ngài ấy bảo, chẳng hề có cái
ǵ gọi là hành thiền thất bại cả! Ngài nói đúng. Tất cả những buổi
hành thiền mà bạn gọi là "thất bại" đó, bực bội và chẳng đáp ứng kỳ
vọng của bạn, những buổi ấy chính là những lúc mà bạn đang nỗ lực
làm việc nhọc nhằn để có được "tấm ngân phiếu lănh lương" ...
Như thể một người đi làm trọn ngày
Thứ Hai, đến chiều chẳng lănh được đồng nào. Anh ta nghĩ, "Làm việc
như thế này để làm ǵ, hử?". Thứ Ba, anh làm cũng trọn ngày và cũng
chẳng lănh được ǵ. Một ngày tệ hại nữa. Trọn ngày Thứ Tư, trọn ngày
Thứ Năm, cũng vẫn chẳng thấy có ǵ đền công cho tất cả việc nặng
nhọc đă làm. Bốn ngày tồi tệ trôi qua liên tiếp. Thế rồi đến ngày
Thứ Sáu, anh cũng làm đúng y công việc như mấy ngày trước, và chiều
lại, ông chủ đến trao cho anh tấm ngân phiếu tiền lương. "Chà! Tại
sao mỗi ngày lại chẳng phải là ngày lănh lương nhỉ?!"
Tại sao mỗi buổi hành thiền chẳng
phải là một "ngày lănh lương"? Giờ đây, bạn đă hiểu thí dụ nói trên
chưa? Chính do nơi các buổi thiền khó khăn đó mà bạn tích lũy vốn
liếng cho bạn, do chính nơi đó mà bạn xây dựng các nhân duyên để
thành công. Khi nỗ lực để được an tịnh trong các buổi thiền khó
khăn, bạn tích lũy năng lực của bạn, tạo đà để đưa đến an tịnh về
sau này. Và khi đă có đủ các điều kiện cần thiết, tâm bạn sẽ đi sâu
vào các mức thiền định tốt, và cảm thấy như đấy là "ngày lănh
lương". Do đó, chính trong các buổi hành thiền khó khăn mà bạn đă
thực hiện được phần lớn công tác của bạn.
Trong khóa thiền tích cực mới đây
tại thành phố Sydney, một nữ thiền sinh trong buổi tŕnh pháp đă nói
với tôi rằng, cả ngày bà ta giận tôi lắm, nhưng v́ hai lư do khác
nhau. Trong những buổi ban đầu ngồi thiền, bà gặp nhiều khó khăn, và
giận tôi sao chẳng chịu rung chuông để nghỉ xả hơi sớm một chút.
Trong các buổi thiền về sau, bà đi vào trạng thái an tịnh tuyệt vời,
và bà lại giận tôi sao lại rung chuông nghỉ sớm quá. Thật ra, các
buổi thiền tập đều kéo dài thời gian bằng nhau cả, mỗi buổi đúng một
giờ. Làm thầy, lănh việc rung chuông, chẳng phải là chuyện dễ để làm
vừa ḷng tất cả các thiền sinh!
Khi dự đoán về tương lai, bạn thường
tự nghĩ "C̣n bao nhiêu phút nữa chuông mới reo?" Đó là nơi mà bạn
hành hạ ḿnh, khi mà bạn cúi xuống vác lên một gánh nặng chẳng phải
của bạn. Vậy, xin phải thật cẩn thận, đừng vác lên vai cái va ly
nặng trĩu của việc: "C̣n bao nhiêu phút nữa mới rung chuông?", hoặc,
"Ta phải làm ǵ nữa đây?". Nếu đó là những ǵ mà bạn đang nghĩ đến,
th́ bạn đang lơ là, chẳng chú tâm đến những ǵ hiện đang xảy ra. Bạn
đâu có hành thiền! Bạn lạc hướng rồi, và bạn đang mời sự rắc rối đến
với bạn đó!
Trong giai đoạn này của sự hành
thiền, bạn hăy giữ sự chú tâm ngay vào phút hiện tại, đến mức mà bạn
quên hẳn hôm nay là ngày ǵ, hoặc hiện đang mấy giờ, sáng hay trưa,
cũng chẳng hay biết ǵ cả! Tất cả những ǵ bạn đang hay biết chính
là giây phút hiện tại -- ngay tại lúc này! Bằng cách ấy, bạn đạt
được thời biểu tu học tuyệt vời khi bạn hành thiền ngay trong giây
khắc hiện tại, chẳng cần biết bao nhiêu phút đă trôi qua, hoặc c̣n
ngồi thêm bao nhiêu phút nữa, chẳng nhớ đến cả hôm nay là ngày ǵ.
Có một lần, khi c̣n là một tỳ kheo
trẻ ở Thái Lan, tôi quên bẵng ḿnh đang ở vào năm nào. Thật là tuyệt
diệu được sống trong cảnh giới phi thời gian, một cảnh giới tự tại
hơn nhiều so với cảnh giới bị lệ thuộc thời gian mà chúng ta hiện
đang sống. Trong cảnh giới phi thời gian, bạn thể nghiệm giây phút
hiện tại, cũng như các bậc hiền trí thể nghiệm giây phút đó cả ngàn
năm qua. Bao giờ giây phút đó cũng như thế, chẳng đổi khác. Bạn đang
bước vào thực tại hiện tiền.
Thực tại hiện tiền rất huy hoàng
và kỳ diệu. Khi buông bỏ hết quá khứ và tương lai, bạn như thể đă
hồi sinh. Bạn ở tại đây, bạn đang tỉnh thức. Đó là giai đoạn thứ
nhất của hành thiền, sự tỉnh thức được nuôi dưỡng trong giây phút
hiện tại. Đạt đến đấy, bạn đă thực hiện rất nhiều điều. Bạn đă buông
bỏ được gánh nặng đầu tiên, vốn cản trở mức thiền định thâm sâu.
Vậy, bạn hăy nỗ lực thật nhiều thêm, để đạt đến giai đoạn thứ nhất
này, khiến nó trở nên mạnh mẽ, chắc chắn và vững vàng. Sau đó, chúng
ta sẽ đưa sự tỉnh thức trong phút giây hiện tại lên giai đoạn kế
tiếp tinh tế hơn trong việc hành thiền -- sự giác niệm tĩnh
lặng về phút giây hiện tại.
---- *----
PHẦN 2
"Sự tĩnh lặng làm khởi sinh lên
trí tuệ và trong sáng nhiều hơn gấp bội sự suy nghĩ".
Trong Phần 1, tôi đă phác họa mục
tiêu của hành thiền, tức là sự tĩnh lặng vi diệu, sự an định và
trong sáng của tâm, làm thai nghén cho các minh triết thật thâm sâu.
Kế đó, tôi có nêu rơ đường lối chủ yếu, như một sợi tơ bền chắc luồn
suốt qua sự hành thiền, là sự buông bỏ tất cả những gánh nặng về vật
chất và tinh thần. Sau cùng, trong Phần 1, tôi đă mô tả tỉ mỉ sự
thực tập đưa đến điều mà tôi gọi là giai đoạn thứ nhất của sự hành
thiền, và giai đoạn đó xem như đă đạt đến, khi nào hành giả đă an
trú thoải mái vào thời khắc hiện tại, trong một khoảng thời gian dài
và chẳng đứt đoạn. Tôi đă nhấn mạnh rằng, "Thực tại hiện tiền rất
huy hoàng và kỳ diệu. ... Đạt đến đấy, bạn đă thực hiện rất nhiều
điều. Bạn đă buông bỏ được gánh nặng đầu tiên, vốn đă cản trở mức
thiền định thâm sâu." Nhưng dù đă thành công được nhiều như thế,
thiền sinh cần phải tiến xa thêm vào sự tĩnh lặng đẹp đẽ và chân
thật hơn của tâm thức.
Ở đây, chúng ta cần phải hiểu rơ về
sự khác biệt giữa sự giác niệm tĩnh lặng về thời khắc hiện tại
và sự suy tư về trạng thái đó. Thí dụ như xem một
trận đấu quần vợt trên màn ảnh truyền h́nh. Khi đang xem trận đấu
ấy, rất có thể bạn để ư rằng, thật ra, có hai trận đấu cùng xảy ra
một lượt -- một trận bạn đang nh́n thấy trên màn ảnh, và một trận
bạn đang nghe b́nh luận viên mô tả. Thật vậy, nếu Úc-đại-lợi đấu với
Tân-tây-lan, giọng điệu lời b́nh luận của xướng ngôn viên người Úc
hoặc của xướng ngôn viên người Tân-tây-lan, sẽ khác nhau nhiều so
với trận đấu đang thật sự diễn ra. B́nh luận thường hay thiên vị.
Trong thí dụ này, việc nh́n màn ảnh mà không có lời b́nh luận, tương
đương với sự giác niệm tĩnh lặng trong thiền; c̣n để tâm chú
ư vào lời b́nh luận trong khi đang xem trận đấu, tương đương với
việc suy tư về sự giác niệm tĩnh lặng đó. Bạn nên biết rằng,
bạn sẽ gần Chân Lư hơn, khi bạn chỉ quan sát mà không b́nh luận, khi
bạn chỉ thể nghiệm đơn thuần một sự giác niệm tĩnh lặng về thời khắc
hiện tại.
Đôi khi, qua sự b́nh luận trong nội
tâm, ta cứ tưởng rằng ta biết được chuyện thế gian. Thật ra, lời
b́nh luận đó chẳng biết ǵ đến thế giới bên ngoài! Các lời nói trong
nội tâm đă dệt nên những ảo tưởng mê lầm, tạo ra khổ năo. Chính nó
khiến ta sân hận với những ai mà ta xem như kẻ thù, và tạo mối luyến
ái nguy hiểm với những ai mà ta thương mến. Lời nói nội tâm tạo ra
tất cả mọi vấn đề khó khăn cho cuộc đời. Nó tạo ra sợ hăi và mặc cảm
tội lỗi. Nó tạo ra lo âu và chán chường. Nó xây dựng nên các ảo
tưởng, cũng như các b́nh luận viên khéo léo trên màn ảnh truyền
h́nh, đă dùng thủ đoạn lèo lái thính giả phải tức giận, hay buồn bă,
nhỏ lệ nữa. Vậy, nếu bạn muốn t́m Chân Lư, bạn phải quư trọng sự
giác niệm tĩnh lặng, và trong khi hành thiền, hăy xem sự giác niệm
đó quan trọng hơn bất cứ suy tư nào khác.
Cũng chỉ v́ thiên hạ đă đặt nặng giá
trị thái quá nơi các tư tưởng của họ, mới khiến cho sự giác niệm
tĩnh lặng vướng phải một chướng ngại trầm trọng. Hăy cẩn thận gạt bỏ
tầm quan trọng mà ta đặt vào tư tưởng của ḿnh, và hăy nhận thức giá
trị chân thực của giác niệm tĩnh lặng, đó chính là sự minh triết để
giúp cho giai đoạn thứ hai -- sự giác niệm tĩnh lặng về thời
khắc hiện tại -- có thể thành tựu được.
Một trong những cách hay nhất để
khuất phục được các lời b́nh luận trong nội tâm, là phát triển sự
giác niệm thật tế nhị vào thời khắc hiện tại, tế nhị đến mức bạn
phải theo dơi mỗi phút giây thật cẩn thận, và không c̣n có th́ giờ
để kịp b́nh luận về điều vừa xảy ra. Một tư tưởng thường là ư kiến
về một việc vừa mới xảy ra, thí dụ như, "Điều đó đă tốt đấy!"
hoặc "Điều đó đă xấu đấy!" "Cái ǵ đă xảy ra đấy?" Tất
cả lời b́nh luận đó đều liên quan đến một kinh nghiệm vừa mới trải
qua. Khi ghi nhận, b́nh luận về một kinh nghiệm vừa mới trải qua,
bạn không thể đặt sự chú ư vào kinh nghiệm vừa mới đến. Bạn tiếp các
vị khách cũ đă đến trước, và bỏ lơ các vị khách vừa mới đến, ngay
bây giờ!
Hăy tưởng tượng tâm bạn như là vị
chủ trong bữa tiệc, đang đứng đón khách trước cửa. Nếu một vị khách
bước vào, bạn chào và bắt đầu nói với ông ta hết chuyện này đến
chuyện nọ, th́ bạn đâu có làm tṛn phận sự là chú ư tới các vị khách
khác vừa bước qua cửa. Bởi v́ mỗi lúc, khách khứa cứ lần lượt đến,
bạn chỉ có thể chào người này xong, liền quay sang chào người kế
tiếp. Bạn không có đủ th́ giờ để khơi chuyện, dù là chuyện ngắn ngủi
nhất, với một người nào, v́ điều đó có nghĩa là bạn sẽ bỏ sót vị
khách mới đến ngay sau đó. Trong hành thiền, tất cả các kinh nghiệm
đều đi vào nội tâm qua cửa của các giác quan, cái này theo sau cái
kia. Nếu bạn tiếp đón một kinh nghiệm nào đó với sự tỉnh thức và rồi
bắt chuyện (b́nh luận) với vị khách (kinh nghiệm) đó, th́ bạn sẽ bỏ
lỡ mất cái kinh nghiệm vừa mới đến tiếp theo sau.
Nếu bạn hoàn toàn sống trong từng
giây khắc với mỗi kinh nghiệm, với mỗi vị khách đến viếng tâm bạn,
bạn không c̣n chỗ nào dành cho các lời b́nh luận trong nội tâm nữa.
Bạn không thể nào tṛ chuyện với chính bạn, bởi v́ bạn hoàn toàn bận
bịu với sự đón tiếp một cách tỉnh thức tất cả những ǵ vừa đến với
tâm bạn. Đó là sự tỉnh thức tinh tế vào thời khắc hiện tại, tinh tế
đến mức nó trở thành một sự giác niệm tĩnh lặng về hiện tại trong
từng giây phút.
Bạn khám phá ra, trong việc phát
triển mức tinh tế của sự im lặng nội tâm, đó cũng tựa như vứt bỏ một
gánh nặng to lớn khác nữa. Cũng giống như bạn đă luôn luôn vác cái
ba lô trên vai từ bốn mươi, năm mươi năm nay, và trong thời gian dài
đó, bạn đă lê lết qua nhiều dặm đường. Giờ đây, bạn thấy có đủ can
đảm và sáng suốt để chịu cởi cái ba lô ra và đặt nó xuống đất trong
một lúc. Bạn cảm thấy thoải mái vô cùng, thật là nhẹ nhơm và thật là
tự do, bởi v́ từ nay, bạn không c̣n bị đè trĩu dưới cái ba lô nặng
nề của lời lải nhải trong nội tâm nữa.
Một cách khác để phát triển sự giác
niệm tĩnh lặng là ghi nhận khoảng cách giữa các tư tưởng, giữa các
lời th́ thầm trong nội tâm. Bạn cẩn thận theo dơi, với sự tỉnh thức
thật bén nhạy, khi một tư tưởng này vừa chấm dứt và trước khi một tư
tưởng kia khởi lên -- Đấy! Khoảng giữa đó chính là giác niệm tĩnh
lặng! Lúc đầu, có thể khoảng cách đó chỉ tạm thời trong một chốc
lát, nhưng một khi bạn đă nhận chân được sự tĩnh lặng ngắn ngủi phớt
qua đó, bạn sẽ quen dần với nó; và khi bạn đă quen với nó rồi, sự
tĩnh lặng ấy sẽ kéo dài thêm ra. Bạn bắt đầu vui hưởng sự tĩnh lặng,
rốt cuộc rồi bạn đă t́m nhận ra được nó, và cũng v́ thế, nó sẽ nẩy
nở thêm lên. Nhưng hăy nhớ điều này: sự tĩnh lặng ấy rất thẹn thùng.
Nếu sự tĩnh lặng mà nghe bạn nói đến nó, nó liền biến mất lập tức!
Thật là tuyệt diệu cho mỗi người
chúng ta, nếu ta có thể buông bỏ được các lời th́ thầm trong nội
tâm, và an trú vào sự giác niệm tĩnh lặng về phút giây hiện tại, đủ
lâu, để nhận thức ra được nó mang lại niềm hỷ lạc đến mức nào. Sự
tĩnh lặng sẽ tạo khởi minh triết và trí tuệ, nhiều hơn là sự suy tư.
Khi ta nhận thức được rằng sự tĩnh lặng nội tâm rất thú vị và có giá
trị, th́ nó sẽ trở nên quan trọng và hấp dẫn đối với ta. Sự tĩnh
lặng trở thành nơi mà tâm hướng về đó. Tâm liên tục t́m đến sự tĩnh
lặng, cho đến mức mà nó chỉ suy nghĩ khi thực sự cần thiết, chỉ khi
nào việc đó có ư nghĩa. Bởi v́, ở giai đoạn này, bạn đă nhận thức
rằng, hầu hết các sự suy nghĩ của chúng ta đều chẳng có nghĩa lư chi
cả, chẳng đưa ta tới đâu cả, chỉ làm cho ta đau đầu; và từ đó, bạn
sẽ hân hoan, dễ dàng dành thêm nhiều th́ giờ để sống trong nội tâm
an tịnh.
Do đó, giai đoạn thứ nh́ của pháp
hành thiền này, là "sự giác niệm tĩnh lặng về thời khắc hiện tại".
Bạn có thể dùng phần lớn th́ giờ của bạn để phát triển hai giai đoạn
trên; bởi v́ nếu bạn đạt đến mức độ như thế, bạn đă vượt qua một
đoạn đường dài trong việc hành thiền. Trong sự giác niệm tĩnh lặng
của "Ngay Bây Giờ", bạn sẽ thể nghiệm được rất nhiều an tịnh,
hoan hỷ, và theo sau là trí tuệ.
Nếu bạn muốn đi xa hơn thế nữa, thay
v́ chỉ chú tâm thầm lặng về bất cứ những ǵ khởi đến trong tâm, bạn
chọn sự chú tâm thầm lặng vào chỉ mỗi một đối tượng thôi. Mỗi
một đối tượng đó có thể là thể nghiệm về hơi thở, về ḷng Từ
(mettà), về một ṿng tṛn có màu sắc hiển thị trong tâm (kasina,
biến xứ), hay là những đối tượng khác, ít phổ thông hơn, làm
đề mục của sự giác niệm. Ngay đây, tôi sẽ mô tả sự giác niệm
tĩnh lặng trong thời khắc hiện tại về hơi thở, tức là
sang giai đoạn thứ ba của pháp hành thiền.
Chú tâm vào mỗi một đối tượng
có nghĩa là buông bỏ sự đa dạng phiền toái để đi tới đối cực của nó
là sự hợp nhất. Trong khi tâm bắt đầu hợp nhất lại, duy tŕ chú ư
vào một đối tượng thôi, th́ kinh nghiệm về an tịnh, hỷ lạc và năng
lực sẽ gia tăng lên một cách rơ rệt. Bạn sẽ thấy rằng, ngay tại đây,
sự đa dạng của ư thức cùng lúc phải chăm lo cho cả sáu giác quan
khác nhau -- tựa như có sáu cái điện thoại trên bàn cùng reo lên một
lượt -- là một gánh nặng to lớn. Buông bỏ tính đa dạng -- chỉ đặt
trên bàn một điện thoại thôi, một đường dây cá nhân riêng biệt --
quả thật là một sự nhẹ nhơm và sẽ đưa đến an lạc. Thấu hiểu rằng
tính đa dạng chỉ là một gánh nặng, là một điều tối cần thiết để tâm
có thể an trụ vào hơi thở.
Nếu đă phát triển được sự giác niệm
tĩnh lặng vào thời khắc hiện tại trong một thời gian dài rồi, bạn sẽ
thấy rất dễ dàng khi muốn chuyển sự giác niệm tĩnh lặng đó sang chú
tâm vào hơi thở, và có thể theo dơi hơi thở từng giây, từng phút,
không bị gián đoạn. Đó là v́ hai trở ngại to lớn của pháp hành thiền
về hơi thở đă được khuất phục xong. Trở ngại thứ nhất là tâm trí
thường có khuynh hướng cứ hay đi lang thang, trở lại với quá khứ
hoặc hướng về tương lai. Trở ngại thứ hai là các lời th́ thầm trong
tâm. Chính v́ vậy mà tôi đă giảng rằng hai giai đoạn tiên khởi của
sự giác niệm về thời khắc hiện tại và giác niệm tĩnh lặng
về thời khắc hiện tại, được xem như là sự chuẩn bị vững chắc cho
mức thiền thâm sâu hơn về hơi thở.
Tôi thường thấy nhiều thiền sinh hay
bắt đầu hành thiền về hơi thở khi tâm trí họ c̣n nhảy nhót giữa dĩ
văng và tương lai, và khi giác niệm của họ bị nhận ch́m bởi các lời
b́nh luận th́ thầm trong tâm. Thiếu sự chuẩn bị cần thiết, họ thấy
hành thiền về hơi thở rất khó khăn, khó thực hành, và rồi họ bỏ cuộc
trong sự bực bội. Họ bỏ cuộc v́ họ không bắt đầu đúng chỗ. Họ không
làm xong các công tác chuẩn bị, trước khi lấy hơi thở làm tiêu điểm
cho sự chú tâm. V́ thế, khi tâm đă được chuẩn bị chu đáo bằng cách
hoàn tất cả hai giai đoạn tiên khởi, bạn sẽ thấy khi quay sang với
hơi thở, bạn có thể nuôi dưỡng sự chú tâm vào hơi thở một cách dễ
dàng. Nếu thấy c̣n khó khăn để giữ bền sự chú tâm vào hơi thở, th́
đó là dấu hiệu bạn đă bước quá vội qua hai giai đoạn chuẩn bị. Bạn
hăy trở lại thực tập thuần thục hai giai đoạn tiên khởi đó đi! Sự
kiên nhẫn đầy cẩn thận là con đường tiến nhanh nhất.
Khi chú tâm vào hơi thở, bạn quan
sát hơi thở hiện đang xảy ra vào ngay lúc này. Bạn cảm nhận "cái cho
bạn biết hơi thở đang làm ǵ", nó đang ra, hoặc đang vào, hoặc đang
ở giữa chừng. Vài vị thiền sư dạy nên canh chừng hơi thở tại chót
mũi, vài vị khác bảo theo dơi ở bụng, và vài vị khác nữa bảo phải
theo nó di động đến chỗ này, rồi đến chỗ kia. Qua kinh nghiệm bản
thân, tôi thấy theo dơi hơi thở ngay tại chỗ nào cũng được. Thật ra,
tốt nhất là chẳng cần định một chỗ nào cho hơi thở cả! Nếu bạn đặt
hơi thở ở chót mũi, đó là giác niệm về chót mũi, không phải giác
niệm về hơi thở; và nếu bạn đặt hơi thở ở bụng, đó lại là giác niệm
về bụng. Ngay bây giờ, chỉ cần tự hỏi câu này: "Tôi đang thở vào hay
là đang thở ra?" Làm sao bạn hay biết được điều đó? Đấy! Kinh nghiệm
ấy bảo cho bạn biết hơi thở hiện đang làm ǵ, đấy chính là điều mà
bạn cần đặt tiêu điểm của sự chú tâm vào quán niệm hơi thở. Không
cần quan tâm về kinh nghiệm đă xảy ra tại chỗ nào; chỉ cần chú tâm
đến chính kinh nghiệm đó mà thôi.
Một trở ngại thông thường trong giai
đoạn này là khuynh hướng muốn kiểm soát hơi thở, và điều đó khiến
cho hơi thở trở nên thiếu thoải mái. Để vượt qua trở ngại đó, hăy
tưởng tượng rằng bạn chỉ là một hành khách đang ngồi nh́n hơi thở
qua khung kính cửa xe. Bạn chẳng phải là tài xế đang lái, cũng chẳng
phải là tài xế ngồi ở ghế sau. Vậy, hăy ngưng việc ra lệnh, cứ buông
thỏng và hưởng lấy thú vị của chuyến đi xe. Hăy để cho hơi thở tự nó
làm công việc thở của nó, trong khi bạn cứ giản dị quan sát mà chẳng
hề can thiệp vào.
Khi biết hơi thở đang vào và hơi thở
đang ra, chừng một trăm hơi thở liên tiếp, chẳng sót hơi nào, bạn đă
thành tựu được điều mà tôi gọi là giai đoạn thứ ba của pháp thiền,
tức là "sự chú tâm vững bền vào hơi thở". Đây lại càng an
tịnh và hỷ lạc hơn giai đoạn trước. Để đi sâu vào hơn nữa, giờ đây,
bạn nhắm đến sự hoàn toàn chú tâm vững bền vào hơi thở.
Giai đoạn thứ tư này, "hoàn toàn
chú tâm vững bền vào hơi thở", diễn ra khi bạn chú tâm bám sát
theo mỗi phút giây của hơi thở. Bạn biết hơi thở vào, ngay ở
thời điểm đầu tiên, đúng lúc mà cảm giác về hơi thở đó vừa khởi lên.
Rồi bạn quan sát các cảm giác ấy từ từ phát triển qua trọn tiến
tŕnh của một hơi thở vào, chẳng bỏ sót một lúc nào khi hơi
thở đang đi vào. Khi hơi thở vào chấm dứt, bạn biết ngay lúc
đó, bạn thấy trong tâm cái cử động chót của hơi thở vào đó.
Kế đến, bạn thấy, tiếp theo, có sự ngưng nghỉ một lúc ngắn giữa các
hơi thở, và nhiều chặp ngừng nghỉ nữa cho đến khi hơi thở ra
bắt đầu khởi lên. Bạn thấy rơ lúc mới bắt đầu của hơi thở ra
và các cảm giác khởi lên tiếp theo sau, theo tiến tŕnh hơi thở
ra, cho đến khi hơi thở đó biến mất lúc xong phận sự. Tất cả
những sự việc đó đều được làm trong im lặng và ngay trong thời khắc
hiện tại.
Bạn thể nghiệm mỗi phần của mỗi
hơi thở vào và mỗi hơi thở ra, một cách liên tục, trong
nhiều trăm hơi thở cùng một loạt. V́ thế, giai đoạn này được gọi là
"hoàn toàn chú tâm vững bền vào hơi thở". Bạn không
thể đạt đến giai đoạn này bằng sự ép buộc, bằng sự nắm bắt hay bám
níu. Bạn chỉ có thể đạt được mức độ an định đó bằng cách buông bỏ
tất cả mọi sự vật trong toàn thể vũ trụ này, ngoại trừ cái kinh
nghiệm tức thời về hơi thở hiện đang xảy ra trong thầm lặng. Không
phải là "Bạn" đạt đến giai đoạn này, mà chính là Tâm
mới đạt đến đấy. Tâm, tự nó, làm nhiệm vụ của nó. Tâm nhận
chân thấy giai đoạn này là nơi trú nhập rất an tịnh và dễ chịu, chỉ
v́ nó được "ở một ḿnh" với hơi thở. Đây là nơi mà "tác nhân" (người
làm, người tạo tác), cái thành phần quan trọng trong tự ngă
con người, bắt đầu biến đi mất dạng.
Trong giai đoạn hành thiền này, bạn
để ư thấy rằng sự tiến triển diễn ra hầu như chẳng cần nỗ lực. Bạn
chỉ cần đứng tránh sang một bên, buông bỏ, và cẩn thận quan sát tất
cả những ǵ đang xảy ra. Nếu bạn để yên cho nó, tâm sẽ tự động hướng
về sự giản dị, an ḥa và sảng khoái của việc được "ḥa làm một" với
hơi thở trong mỗi một thời khắc. Đó là sự hợp nhất của tâm, hợp nhất
trong thời khắc, hợp nhất trong an định.
Giai đoạn thứ tư được tôi gọi là
"tấm ván lấy đà để nhảy" (springboard) của sự hành thiền, bởi v́
từ nơi đây, bạn có thể lấy đà để nhảy sâu vào các trạng thái hỷ lạc.
Khi bạn chỉ đơn thuần duy tŕ sự hợp nhất của tâm thức, bằng cách
không xen vào hơi thở, hơi thở sẽ bắt đầu biến mất. Hơi thở xem ra
dường như phai mờ dần dần, trong khi tâm vẫn tập trung vào điểm
chính của sự thể nghiệm về hơi thở, tức là sự an tịnh kỳ diệu, tự do
và hạnh phúc.
Đến giai đoạn này, tôi dùng từ "hơi
thở mỹ lệ" (hơi thở tuyệt đẹp!). Ở tại đây, tâm nhận ra cái hơi thở
an ḥa đó thật là vô cùng mỹ lệ. Bạn nhận thức liên tục cái hơi thở
mỹ lệ đó, từng lúc, từng lúc, chẳng gián đoạn, trong chuỗi các kinh
nghiệm. Bạn giác niệm vẻ mỹ lệ của hơi thở, chẳng cần chút nỗ lực
nào, và trong một thời gian rất dài lâu.
Giờ đây, bạn để hơi thở tự nó biến
mất, và những ǵ c̣n lại chỉ là "vẻ mỹ lệ". Cái vẻ mỹ lệ phi thể
chất đó trở nên đối tượng duy nhất của tâm. Giờ đây, tâm lấy
chính tâm làm đối tượng của ḿnh. Hiện giờ, bạn chẳng c̣n hay
biết ǵ đến hơi thở, thân thể, tư tưởng, âm thanh, hoặc cả thế giới
bên ngoài. Những ǵ bạn đang hay biết là vẻ mỹ lệ, sự an ḥa, hạnh
phúc, ánh sáng, hoặc bất cứ những ǵ mà tri giác của bạn sẽ đặt tên.
Bạn đang thể nghiệm chỉ riêng về vẻ mỹ lệ, một vẻ mỹ lệ trừu tượng,
một cách liên tục, không cần cố gắng. Từ lâu rồi, bạn đă buông bỏ sự
thủ thỉ rù ŕ bên trong, buông bỏ mọi sự mô tả và đánh giá. Ngay
đây, tâm rất an định, bất động đến mức bạn chẳng c̣n có thể thốt lên
lời nào.
Bạn đang thể nghiệm sự đơm hoa kết
trái đầu tiên của hạnh phúc trong tâm. Hạnh phúc đó sẽ nẩy nở, lớn
lên và trở nên thật vững chắc và mạnh mẽ. Như thế, bạn bước vào các
trạng thái thiền được gọi là Thiền-na (Jhàna). Nhưng
đó là Phần 3 của tập sách nhỏ này.
---- *----
PHẦN 3
"Tuyệt đối đừng làm ǵ, và cứ xem
hơi thở êm dịu, đẹp đẽ và phi thời gian xảy ra như thế nào."
Phần 1 và 2 mô tả bốn giai đoạn đầu
của sự hành thiền. Đó là:
1) Chú tâm vững bền vào thời khắc
hiện tại.
2) Giác niệm tĩnh lặng vào thời khắc hiện tại.
3) Giác niệm tĩnh lặng trong hiện tại về hơi thở
4) Hoàn toàn chú tâm vững bền vào hơi thở.
Mỗi giai đoạn cần được tập luyện và
phát triển đầy đủ, trước khi bước sang giai đoạn kế tiếp. Khi một
người quá vội vàng đi lướt qua các "giai đoạn xả ly" này, người ấy
không thể nào đạt đến các giai đoạn cao hơn. Cũng tựa như xây cất
ngôi nhà lầu cao với một nền móng không đủ vững chắc. Tầng thứ nhất
được xây quá nhanh, và tầng thứ hai, thứ ba cũng vậy. Đến khi xây
thêm tầng thứ tư, cả kiến trúc bắt đầu thấy lung lay. Khi gắng xây
thêm tầng thứ năm, cả ngôi nhà đổ sập xuống. Vậy, xin hăy dành thật
nhiều th́ giờ cho bốn giai đoạn tiên khởi, làm cho chúng thật kiên
cố và vững chắc, trước khi bước sang giai đoạn thứ năm. Bạn phải có
đủ khả năng để duy tŕ giai đoạn thứ tư, "hoàn toàn chú tâm vững
bền vào hơi thở", theo dơi mỗi lúc của hơi thở, không gián đoạn
lần nào, trong hai hay ba trăm hơi thở luôn một loạt, một cách thật
thoải mái. Tôi không nói là phải đếm hơi thở trong giai đoạn
này, nhưng tôi chỉ đưa ra một ước tính về khoảng thời gian mà thiền
sinh cần an trụ trong giai đoạn thứ tư, trước khi tiến xa hơn. Trong
việc hành thiền, kiên nhẫn bao giờ cũng là phương cách nhanh nhất!
Giai đoạn thứ năm được gọi là
"hoàn toàn chú tâm vững bền vào hơi thở tuyệt đẹp".
Thông thường, giai đoạn thứ năm trôi chảy một cách tự nhiên, thông
suốt, từ giai đoạn trước. Khi thiền sinh hoàn toàn chú tâm thể
nghiệm hơi thở, một cách liên tục thoải mái và không có điều chi làm
gián đoạn ḍng chảy giác niệm, hơi thở sẽ trở nên êm dịu. Từ dạng
thô kệch, tầm thường, hơi thở biến thành êm dịu, an ḥa và "tuyệt
đẹp". Tâm nhận ra ngay hơi thở tuyệt đẹp đó và thích thú với nó. Tâm
thể nghiệm được một sự hài ḷng sâu sắc. Tâm hoan hỷ, chỉ ở đấy để
quan sát hơi thở tuyệt đẹp này. Tâm không cần phải bị thúc dục hay
ép buộc. Nó tự ư an trụ nơi hơi thở tuyệt đẹp. "Bạn" chẳng
cần làm ǵ cả. Nếu bạn cố thử làm chút ǵ vào giai đoạn này, bạn sẽ
khuấy rối toàn bộ tiến tŕnh, sự đẹp đẽ sẽ bị mất ngay; cũng tựa như
trong tṛ chơi "con rắn và cái thang", bạn lọt vào ô vuông "đầu rắn"
th́ bạn phải trở ngược lại nhiều ô vuông ở phía sau. "Tác
nhân" (người làm, người tạo tác) cần phải biến mất từ giai
đoạn hành thiền này trở về sau, chỉ c̣n "Tri nhân"
(người nhận biết) đang quán sát một cách thụ động.
Có một xảo thuật tốt để giúp ta đạt
đến giai đoạn này, là phá vỡ sự im lặng nội tại, chỉ một lần thôi,
bằng cách nhẹ nhàng tự nhủ: "Hăy êm dịu!". Chỉ thế thôi! Ở giai đoạn
này của sự hành thiền, tâm thường rất nhạy cảm, đến nỗi chỉ cần nhắc
nhở nhẹ nhàng như thế, cũng đủ khiến cho tâm tuân theo chỉ thị một
cách ngoan ngoăn. Hơi thở dịu lại, và hơi thở "tuyệt đẹp" liền khởi
lên.
Khi bạn đang thụ động quán sát hơi
thở tuyệt đẹp trong thời khắc này, sự nhận biết về hơi thở
vào, hơi thở ra, hoặc hơi thở ở đoạn đầu, đoạn giữa, hay đoạn cuối,
kể như đă được cho phép biến mất. Những ǵ đang được hay biết chỉ là
sự thể nghiệm về hơi thở tuyệt đẹp đang diễn ra đây. Tâm không c̣n
chú ư đến việc hơi thở đang ở trong giai đoạn nào của chu tŕnh hô
hấp, hoặc đang xảy ra tại nơi nào trong cơ thể. Ngay đây, ta đang
đơn giản hóa đề mục của sự hành thiền, tức là sự thể nghiệm về hơi
thở trong hiện tại, lột bỏ hết tất cả các chi tiết không cần thiết,
vượt qua tính nhị nguyên của "vào" và "ra", và chỉ giác niệm về hơi
thở tuyệt đẹp, đang xảy ra rất êm dịu và liên tục, hầu như chẳng
thay đổi chút nào.
Tuyệt đối đừng làm ǵ cả, mà chỉ
ngắm nh́n hơi thở êm dịu, đẹp đẽ và phi thời gian xảy ra như thế
nào. Hăy xem bạn có thể để cho nó được êm dịu đến mức nào. Hăy để
th́ giờ ra mà thưởng thức vị ngọt của hơi thở tuyệt đẹp, càng êm
dịu, ngọt ngào hơn bao giờ hết.
Giờ đây, hơi thở sẽ biến mất, chẳng
phải khi "bạn" muốn nó phải như thế, mà khi nó đă có đủ mức
êm dịu, và chỉ lưu lại sự "đẹp đẽ" thôi. Một thí dụ trong văn chương
Anh có thể giúp ta hiểu rơ thêm. Trong quyển Alice in Wonderland
(Alice ở xứ sở diệu kỳ) của Lewis Carroll, cô Alice và Hồng Hậu
nh́n thấy một ảo ảnh giống h́nh chú mèo Cheshire, đang mỉm cười,
hiện lên trên nền trời. Khi họ quan sát, th́ trước hết, đuôi mèo
biến mất, kế đó đến các móng nhọn, rồi tiếp theo là các phần c̣n lại
của bốn chân. Chẳng mấy chốc, thân h́nh mèo cũng hoàn toàn mất dạng,
chỉ sót lại đầu mèo thôi, mà vẫn nở nụ cười. Rồi th́ cả cái đầu cũng
mờ hẳn, từ đôi tai cho đến cḥm râu vểnh ngược vào trong, và sau
cùng, cả đầu chú mèo cũng tiêu tan hết -- ngoại trừ nụ cười vẫn c̣n
lưu lại trên nền trời! Đó là một nụ cười chẳng thấy có đôi môi để nở
thành nụ, tuy vậy, vẫn là một nụ cười c̣n trông thấy được. Đây là
một sự tương đồng rất chính xác với tiến tŕnh xả ly xảy ra ở vào
giai đoạn này của sự hành thiền. Chú mèo với nụ cười trên gương mặt
tượng trưng cho hơi thở tuyệt đẹp. Chú mèo biến mất tượng trưng cho
hơi thở mất dạng. Nụ cười phi thể chất mà vẫn c̣n thấy được trên nền
trời, tượng trưng cho đối tượng tâm thuần tịnh, "vẻ đẹp" có thể thấy
rơ ràng trong tâm.
Đối tượng tâm thức thuần tịnh đó
được gọi là một định tướng -- nimitta. Chữ Pàli "nimitta"
có nghĩa là một dấu hiệu; ở đây, là một dấu hiệu trong tâm. Đây
là một đối tượng có thật trong tâm (citta), và khi
xuất hiện lần đầu, nó rất lạ lùng. Từ trước, ta chưa hề có kinh
nghiệm về một đối tượng nào như vậy. Tuy nhiên, hoạt động của tâm mà
ta gọi là "sự tri giác" -- hay tưởng uẩn, đă t́m ṭi,
trong ngân hàng kư ức của kinh nghiệm sống, một chút ǵ tương tự để
cống hiến một sự mô tả cho tâm. Đối với nhiều thiền sinh, cái
"vẻ đẹp phi thể chất" đó, cái niềm vui tinh thần đó, được cảm nhận
như một ánh sáng huy hoàng. Nó thực sự chẳng phải là ánh sáng. Đôi
mắt được nhắm kín và nhăn thức cũng đă đóng lại từ lâu rồi. Đó chính
là tâm thức lần đầu tiên được thoát khỏi cảnh giới của năm giác
quan. Đó cũng tựa như vầng trăng tṛn -- tượng trưng cho cái tâm
rạng chiếu -- vừa ló ra khỏi một đám mây -- tượng trưng cho cảnh
giới của năm giác quan. Đó chính là tâm tỏ rạng, không phải
là ánh sáng, nhưng với đa số chúng ta th́ nó hiện ra như một ánh
sáng, nó được cảm nhận như ánh sáng, bởi v́ sự mô tả chưa hoàn hảo
này là sự mô tả khá nhất mà tri giác có thể cung hiến được.
Đối với các thiền sinh khác, để mô
tả sự xuất hiện đầu tiên của tâm thức, tri giác thường chọn dạng các
cảm giác thể chất, ví dụ như một sự an tịnh thâm trầm hay là sự xuất
thần đê mê (ectasy). Lại nữa, thân thức (sự hay biết
và cảm nhận được lạc thú hay đau khổ, nóng hay lạnh, v.v...) được
khép kín từ lâu, và v́ thế, đây chẳng phải là một cảm giác vật chất.
Nó chỉ được "cảm nhận" giống như những lạc thú. Vài người khác lại
thấy một ánh sáng trắng, hoặc một ngôi sao vàng, hoặc một viên bích
ngọc, v.v...; điều quan trọng nên biết là họ đang mô tả cùng chung
một hiện tượng. Họ đều thể nghiệm chung một đối tượng tâm thức thuần
tịnh, và các chi tiết không giống nhau đó đă được sự tri giác khác
biệt của từng người đem thêm vào.
Bạn có thể nhận chân ra một định
tướng (nimitta) do sáu đặc điểm:
1) Nó chỉ hiện ra sau giai đoạn thứ
năm của hành thiền, sau khi thiền sinh an trú với hơi thở tuyệt đẹp
trong một thời gian dài;
2) Nó hiện ra khi hơi thở biến mất;
3) Nó chỉ đến khi năm giác quan bên
ngoài về h́nh sắc, âm thanh, mùi, vị và xúc chạm hoàn toàn vắng mặt;
4) Nó chỉ khởi hiện trong một tâm
thức tĩnh lặng, khi các tư tưởng mô tả (lời nói nội tâm) hoàn toàn
vắng bặt;
5) Nó rất lạ lùng, nhưng hấp dẫn
mạnh mẽ; và
6) Nó là một đối tượng đơn giản và
tuyệt đẹp.
Tôi nêu các đặc điểm đó để bạn có
thể phân biệt được định tướng (nimitta) thực sự
với những "tướng" do tưởng tượng mà có.
Giai đoạn thứ sáu được gọi là
"thể nghiệm định tướng mỹ lệ". Chúng ta đạt đến giai
đoạn này khi ta buông bỏ được thân thể, tư tưởng, và năm giác quan
(kể cả sự giác niệm về hơi thở), một cách thật hoàn toàn, cho đến
mức chỉ c̣n riêng có định tướng mà thôi.
Đôi khi, khi định tướng khởi lên lần
đầu, nó có vẻ c̣n lờ mờ. Trong trường hợp này, ta nên quay lại ngay
với giai đoạn trước của sự hành thiền, tức là giai đoạn của sự giác
niệm tĩnh lặng liên tục về hơi thở tuyệt đẹp; v́ ta đă đi đến định
tướng quá sớm. Đôi khi, định tướng tỏ rạng, nhưng lại chẳng vững,
chớp tắt giống như tia sáng của ngọn hải đăng, rồi biến mất. Đây
cũng cho thấy bạn đă rời hơi thở tuyệt đẹp sớm quá. Bạn phải đủ khả
năng nuôi dưỡng sự chú tâm đến hơi thở tuyệt đẹp một cách thoải mái
trong thời gian thật dài, thật lâu, trước khi tâm đủ sức duy tŕ sự
chú ư rơ ràng đến định tướng, vốn tế nhị bội phần hơn nữa. V́ vậy,
bạn hăy huấn luyện tâm về hơi thở tuyệt đẹp, huấn luyện kiên nhẫn và
mẫn cán, rồi khi đến lúc hướng đến định tướng, nó sẽ rạng chiếu,
vững chắc, và dễ nuôi dưỡng lâu bền.
Lư do chính khiến cho định tướng c̣n
lờ mờ là v́ sự hài ḷng vẫn c̣n nông cạn. Bạn vẫn c̣n đang "muốn"
một điều ǵ. Thông thường, bạn muốn có một định tướng sáng tỏ,
hay bạn muốn đắc Thiền-na (Jhàna). Nên nhớ, và điều này rất
quan trọng, Thiền-na là những trạng thái của xả ly, những trạng thái
bằng ḷng thỏa ư vô cùng sâu xa. Vậy, bạn hăy vất đi cái tâm khao
khát, hăy phát triển sự thỏa ư với hơi thở tuyệt đẹp, và rồi, định
tướng và Thiền-na sẽ tự khắc xảy đến.
Nói cách khác, lư do tại sao định
tướng c̣n yếu ớt là v́ "tác nhân" cứ xen vào măi, chẳng chịu ngừng.
"Tác nhân" là kiểm soát viên, là tài xế ở ngồi ghế sau, luôn xen vào
các việc chẳng ăn nhập đến ḿnh, và làm cho mọi việc càng rối rắm
thêm. Sự hành thiền là một tiến tŕnh tự nhiên tiến đến nghỉ ngơi,
và nó đ̣i hỏi bạn phải hoàn toàn tránh sang một bên. Sự hành
thiền thâm sâu chỉ thực hiện được khi bạn thực sự buông bỏ; và
thực sự buông bỏ có nghĩa là đến mức mà trọn cả
tiến tŕnh hành thiền trở nên hoàn toàn ngoài ṿng xâm nhập của "tác
nhân".
Một phương tiện khéo léo để đạt được
sự buông bỏ tuyệt đối đó, là thành tâm đặt trọn ḷng tin vào định
tướng. Bạn hăy làm gián đoạn sự tĩnh lặng lại trong một lát, và bằng
một cách thật hết sức dịu dàng, nói rỉ tai, như thể là nó đang ở
trong tâm bạn, rằng bạn đem trọn ḷng tin đặt vào định tướng, khiến
cho "tác nhân" phải từ bỏ tất cả sự kiểm soát và biến mất. Tâm, được
biểu hiện ở đây bằng cái định tướng trước mắt bạn, sẽ đảm đương trọn
cả tiến tŕnh, trong khi bạn chỉ quan sát mọi việc tuần tự xảy ra.
Bạn không cần phải làm ǵ ở đây, v́
vẻ đẹp rực rỡ của định tướng dư sức để duy tŕ sự chú tâm mà chẳng
cần bạn giúp đỡ. Đến đây, nên cẩn thận đừng khởi lên nhận định phê
phán. Các câu hỏi như: "Cái ǵ vậy?", "Đó có phải là Thiền-na
chăng?", "Rồi ta phải làm ǵ nữa đây?", v.v..., đều là những công cụ
để "tác nhân" t́m cách xen vào lần nữa. Chúng khuấy rối cả tiến
tŕnh. Bạn chỉ có thể nhận định, phê phán, một khi cuộc hành tŕnh
đă chấm dứt. Một nhà khoa học giỏi chỉ nhận định khi thí nghiệm đă
xong, với các dữ kiện được nắm vững. Vậy th́, giờ đây, bạn đừng nhận
định, cũng đừng cố giải thích. Bạn không cần phải chú ư đến đường
nét của định tướng, "Nó tṛn hay bầu dục?", "Đường viền của nó rơ
hay mờ?"... Những điều đó chẳng cần thiết chi, mà chỉ đem đến nhiều
sự bất đồng hỗn tạp, nhiều nhị nguyên đối đăi "nội tại" với "ngoại
tại", và nhiều sự phiền nhiễu khác.
Hăy để cho tâm hướng về nơi mà nó
muốn, thông thường là hướng về trung tâm điểm của định tướng. Trung
tâm điểm đó là nơi điểm cao của vẻ mỹ lệ, nơi mà ánh sáng rạng rơ và
tinh thuần nhất. Hăy đi và tận hưởng chuyến nhàn du thích thú, trong
khi sự chú ư được kéo về trung tâm điểm và rơi đúng vào trong định
tướng; hoặc trong khi ánh sáng rạng rỡ tỏa khắp chung quanh, bao
trùm trọn người bạn. Thật ra, đó cùng là một kinh nghiệm cảm nhận từ
các góc độ khác nhau. Bạn hăy để tâm tràn ngập trong hỷ lạc. Hăy để
cho giai đoạn thứ bảy của con đường hành thiền này, Thiền-na
thứ nhất (Sơ Thiền), diễn ra.
Có hai trở ngại thông thường tại
ngưỡng cửa đi vào Thiền-na: mừng rơn và sợ hăi. Mừng rơn là trở nên
quá khích động. Nếu vào lúc ấy, tâm nghĩ, "Chà! Chà! Chính là nó
đấy!", thế là Thiền-na sẽ khó xuất hiện. Cái phản ứng "Chà! Chà!" đó
cần phải được dẹp bỏ, để giúp cho tâm được thụ động tuyệt đối. Hăy
gát cái "Chà! Chà!" lại cho đến khi nào bạn xuất ra khỏi Thiền-na,
rồi thốt lên th́ mới thật đúng lúc. Nhưng trở ngại quan trọng hơn,
có lẽ là sự sợ hăi. Sợ hăi khởi lên ngay tại lúc nhận diện ra sức
mạnh và hỷ lạc của Thiền-na, hoặc ở sự nhận thức rằng, để đi vào
trọn vẹn trong Thiền-na, cần phải bỏ lại phía sau một cái ǵ đó --
và cái đó chính là ... Bạn! "Tác nhân" tuy đă im lặng trước khi nhập
Thiền-na, nhưng nó vẫn c̣n đó. Bên trong Thiền-na, "tác nhân" hoàn
toàn biến mất. "Tri nhân" vẫn c̣n hoạt động, bạn vẫn hoàn toàn hay
biết, nhưng tất cả quyền kiểm soát, giờ đây, vuột khỏi tầm tay rồi.
Bạn chẳng thể khởi lên mỗi một tư tưởng nào, nói chi là lấy một
quyết định. Ư chí bị đông cứng lại, và điều này dường như rất đáng
sợ cho người mới bắt đầu. Từ trước đến nay, trong trọn đời bạn, có
bao giờ bạn thể nghiệm một t́nh trạng bị tước hết mọi quyền kiểm
soát, trong khi vẫn c̣n hoàn toàn tỉnh táo, không? Sự sợ hăi đó
chính là sự sợ hăi phải dâng nộp một điều thật thiết yếu, thật riêng
tư, đó là ư chí muốn tác động.
Sự sợ hăi này có thể khuất phục được
bằng ḷng tin vào lời dạy của Đức Phật, cùng với sự hỷ lạc đầy quyến
rủ mà thiền sinh xem như là phần thưởng c̣n đang chờ đón. Đức Phật
thường bảo, "Sự hỷ lạc của Thiền-na, chẳng nên lo sợ, mà cần nên
thuận theo, phát triển và thực tập luôn." (Kinh Latukikopama - Ví
dụ chim Cáy, kinh số 66, Trung bộ kinh). Vậy, trước khi sự sợ
hăi khởi lên, bạn hăy đặt trọn niềm tin vào sự hỷ lạc đó và giữ vững
niềm tín thành nơi lời giáo huấn của Đức Phật và các vị Đại đệ tử
của Ngài. Tin tưởng nơi Chánh Pháp, và cứ để cho Thiền-na nồng nàn
ôm lấy bạn để có được một kinh nghiệm chẳng cần nỗ lực, phi thân
thể, phi tự ngă, hỷ lạc sâu xa nhất trong đời bạn. Hăy có đủ can đảm
để vứt bỏ quyền kiểm soát trong một chốc, và thể nghiệm được tất cả
các điều đó cho riêng bạn.
Nếu thật sự đó là Thiền-na, th́ nó
kéo dài một thời gian lâu. Chẳng đáng gọi là Thiền-na, nếu chỉ kéo
dài chừng vài phút. Thông thường, các cấp Thiền-na cao hơn sẽ kéo
dài nhiều giờ. Một khi đă vào trong Thiền-na rồi, th́ chẳng c̣n sự
chọn lựa ǵ nữa. Bạn sẽ xuất Thiền-na khi nào tâm sẵn sàng đi ra
khỏi, khi chất "nhiên liệu" về sự từ khước, được gom góp để dành bấy
lâu, nay được dùng cạn hết. Các trạng thái tâm an định và sung măn,
do tự bản chất của chúng, sẽ kéo dài một thời gian thật lâu. Một đặc
điểm khác là Thiền-na chỉ khởi lên khi nào định tướng được nhận ra
thật rơ ràng, như đă mô tả ở trên. Hơn nữa, bạn cũng nên biết, trong
Thiền-na, không thể nào thể nghiệm được chính thân thể (ví dụ như sự
đau đớn thể chất), nghe tiếng động bên ngoài hoặc phát lên một tư
tưởng nào, dù là một tư tưởng thiện đi nữa. Bấy giờ chỉ là một tri
giác trong sáng duy nhất, một thể nghiệm hỷ lạc phi nhị nguyên kéo
dài, không thay đổi trong một thời gian thật lâu. Đó không phải là
một trạng thái xuất thần (trance), nhưng là một t́nh trạng
tỉnh thức cao độ. Tôi nói ra như thế là để giúp bạn có thể tự ḿnh
biết được những ǵ bạn cho đó là Thiền-na, có phải thực sự là
Thiền-na không, hay chỉ là do tưởng tượng.
* * *
Pháp
hành thiền c̣n rất nhiều việc nữa, nhưng ở đây chỉ mô tả phương pháp
căn bản qua bảy giai đoạn, với đỉnh cao là Sơ Thiền. C̣n nhiều điều
nữa có thể bàn đến, như về Năm Triền Cái (Ńvarana) và làm
cách nào để khuất phục chúng, về ư nghĩa của sự giác niệm và cách
ứng dụng, Bốn Niệm Xứ (Satipatthàna), Bốn Như Ư Túc (Iddhipàda),
Năm Căn (Indriya), và dĩ nhiên, về các tầng Thiền-na cao hơn.
Tất cả các điều đó đều liên quan đến sự thực tập hành thiền này,
nhưng xin dành lại cho một dịp khác.
Với những ai hiểu lầm rằng đây chỉ
là Samatha (thiền Chỉ), không liên hệ chi đến Vipassanà
(thiền Quán), xin hăy biết cho rằng đây không phải Samatha hay
Vipassanà ǵ cả. Pháp hành này được gọi là Bhàvanà (pháp Tu
Thiền), phương pháp được Đức Phật chỉ dạy và được thực hành
trong truyền thống Sơn Lâm (Forest Tradition) ở miền Đông Bắc
Thái Lan, mà Thầy tôi, ngài Ajahn Chah là một thành viên. Ngài Ajahn
Chah thường dạy, Chỉ và Quán không thể nào tách rời ra được, và cũng
không thể nào phát triển cặp đôi đó mà bỏ qua Chánh Kiến, Chánh Tư
duy, Chánh Nghiệp và các chi kế tiếp của Bát Chánh Đạo. Thật vậy, để
có thể tiến bộ trong bảy giai đoạn trên, thiền sinh cần phải thấu
hiểu và thực hành giáo pháp của Đức Phật, và giữ giới hạnh thật
thanh tịnh. Sự minh triết rất cần cho mỗi giai đoạn, và đó là sự
minh triết về buông bỏ, xả ly. Thiền sinh tiến triển càng xa
trên bảy giai đoạn đó, th́ trí tuệ minh triết càng thâm viễn, và nếu
bạn đă đạt tới Thiền-na, th́ Thiền-na sẽ làm thay đổi toàn thể sự
hiểu biết của bạn. Cũng tựa hồ như, Minh triết múa quanh Thiền-na và
Thiền-na cũng múa quanh Minh triết. Đây là con đường đi đến
Niết-bàn, bởi v́ Đức Phật có nói, "Người nào sống hỷ lạc trong
Thiền-na, có thể sẽ có bốn kết quả: Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và
A-la-hán" (Kinh Thanh tịnh - Pàsad́ka Sutta, kinh số 29, Trường
bộ kinh).
---- *----
Đối chiếu thuật ngữ
Anh-Việt
|
Ajahn
(Acariya) |
A-xà-lê,
Thầy, Sư |
|
Attention |
Chú tâm,
chú ư. |
|
Bhavana |
Tu thiền,
luyện tâm |
|
Beautiful breath |
Hơi thở mỹ
lệ, hơi thở tuyệt đẹp. |
|
Deep
meditation |
Mức thiền
thâm sâu. |
|
Experience |
Kinh
nghiệm, thể nghiệm |
|
First
Jhana |
Thiền-na
thứ nhất, Sơ Thiền |
|
Full
sustained attention on the breath |
Hoàn toàn
chú tâm vững bền vào hơi thở. |
|
Insight |
Minh triết |
|
Interview |
Phỏng vấn,
tŕnh pháp |
|
Jhana |
Thiền-na |
|
Meditation |
Hành thiền |
|
Meditation retreat |
Khóa thiền
ẩn cư, thiền tích cực |
|
Nimitta |
Định tướng |
|
Perception |
Tri giác |
|
Present
moment awareness
(mindfulness sustained in the present moment) |
Giác niệm
về thời khắc hiện tại |
|
Samatha |
Thiền chỉ,
thiền an chỉ |
|
Silent
awareness of the present moment |
Giác niệm
tĩnh lặng về thời khắc hiện tại |
|
Stillness |
An trụ, an
định, bất động |
|
Sustained attention on the breath |
Chú tâm
vững bền vào hơi thở. |
|
The
Doer |
Tác nhân,
người tạo tác. |
|
The
Knower |
Tri nhân,
người nhận biết. |
|
Vipassana |
Thiền
quán, thiền minh sát |
-ooOoo-
|
Nguyên tác Anh ngữ |