Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận

 

 


 

 

NỘI DUNG.

Lời tựa

Cảm tạ

01 Giai đoạn khởi đầu

02 Tu Tập.

03 Cảm Giác

04 Những mối quan hệ

05 Khổ Đau

06 Lư Tưởng

07 Giới Hạn

08 Sự Lựa Chọn

09 Sự Phục Vụ

 

.

THIỀN trong T̀NH YÊU CÔNG VIỆC
Nguyên tác: Everyday Zen — Love & Work
Tác giả: Charlotte Joko Beck — Biên tập: Steve Smith
Dịch Việt: Lương Thanh B́nh

Chương 2:  Tu tập

Tu tập th́ không phải là

Nhiều người tu tập và có khái niệm rơ ràng về thế nào là tu tập và tu tập ra sao.  Cái mà tôi muốn nhấn mạnh lúc này là (từ nhiều góc độ khác nhau), thế nào tu tập th́ không phải là.

Đầu tiên, tu tập th́ không phải để tạo ra sự thay đổi về tâm lư.  Nếu chúng ta tu tập với sự hiểu biết tri thức, chuyển biến tâm lư sẽ phát sinh; tôi không nghi ngờ về điểm này — sự thật, nó rất kỳ diệu.  Tôi muốn nói là, sự tu tập được ra công để hướng về một mục đích khác.  Thay đổi tâm lư là sản phẩm phụ sẽ xảy ra trên con đường đi đến mục đích đó.  Nó không là cứu cánh.

Tu tập th́ không phải để hiểu biết về bản chất vật lư của thiên nhiên một cách tri thức, nguồn gốc cấu tạo và vận hành của vũ trụ.  Nếu tu tập nghiêm chỉnh, chúng ta có chiều hướng sở đạt phần nào đó trong lănh vực này.  Nhưng nó không phải là mục đích của tu tập. 

Tu tập th́ không phải để đạt được trạng thái tĩnh lặng, hạnh phúc, thấy viễn ảnh, màu sắc (xanh, đỏ, trắng, hồng..).  Tất cả những trạng thái này có thể và sẽ xảy ra nếu chúng ta tọa thiền đúng và đủ tiến bộ.  Nhưng đây cũng không phải là mục đích cơ bản.

Tu tập th́ không phải để vun bồi cho có được công năng đặt biệt.  Có nhiều loại công năng và mỗi người dù ít hay nhiều đều có nó một cách tự nhiên.  Ở trung tâm thiền này, tôi thĩnh thoăng có khả năng thấy được cách hai ngăn pḥng, người trong nhà trù sẽ chuẩn bị món ăn tối là ǵ.  Và nếu họ có món tôi không thích, tôi sẽ không đến.  Những khả năng như thế tuy có chút kỳ lạ nhưng vẫn không phải là mục đích của sự tu tập. 

Tu tập th́ không phải để rèn luyện Định lực cá nhân — sức mạnh do rèn luyện trong tọa thiền nhiều năm.  Định lực cũng chỉ là sản phẩm phụ trong Tọa thiền chứ không phải là cứu cánh.

Tu tập th́ không phải để có được những cảm giác sung sướng, vui vẽ. Hoặc là để cho ḿnh có cảm giác thánh thiện, đạo đức.  Lư do hay sản phẩm hay mục đích của tu tập không phải là để luôn luôn được trầm tĩnh hay tập trung.  Một lần nữa, nếu chúng ta công phu nổ lực, th́ những điểm này sẽ xuất hiện nhưng nó không phải là điều trọng yếu.

Tu tập th́ không phải để luyện cho cơ thể tránh được bệnh hoạn, hay ít đau đớn trong lúc có bệnh tật.  Tư thế ngồi có lợi cho một số người có được sức khỏe tốt hơn, nhưng đôi khi có kết quả trái ngược.  Nếu muốn t́m cách để có được sức khỏe tốt hơn, th́ tu tập Thiền không phải là cách; mặc dù sau nhiều năm tu tập có nhiều ảnh hưởng tốt cho sức khỏe của một số người, nhưng không có ǵ làm bảo đăm cả. 

Tu tập th́ không phải để đạt đến lănh vực thông thái của một người biết mọi chuyện, hay một người có khả năng chinh phục con người và các vấn đề của thế gian.  Thiền sinh có thể hiểu rơ ràng hơn trong một số vấn đề, nhưng người thông minh thông thường lại là người nói và làm những chuyện ngớ ngẩn, đần độn.  Quán triệt thông thái vẫn không phải là đối tượng cả tu tập.

Tu tập th́ không phải để trở thành thánh thiện như là người thế gian diễn tả. Nó th́ không phải là ǵ cả.  Vậy trừ phi là, chúng ta thấy rằng, chúng ta không thể trở nên “thiện lành”, th́ chúng ta sẽ trở thành đối tượng cho sự quyến rũ xa đọa và tai hại.

Tu tập cũng không phải là phân loại sự việc tốt và xấu; rồi loại bỏ tất cả những ǵ mà ta cho là “xấu” đi.  Xét cho cùng, không có ǵ là “Tốt” hay “Xấu” theo Chân đế.  Đấu tranh, đấm đá với tự thân để trở nên là tốt, đó không phải là tu tập.  Loại rèn luyện đó là một h́nh thức tế nhị của sự đào tạo thân thể. 

Chúng ta có thể tiếp tục bản liệt kê về mặt này măi măi không bao giờ dứt.  Thật sự, bất cứ ai trong tu tập đều có một số ảo tưởng trên.  Chúng ta ai cũng mong thay đổi, mong đến một nơi nào đó.  Chính sự mong muốn đó đă là sai lầm rồi.  Hăy xem sét, suy tư ḷng mong muốn này để hiểu nó rơ ràng; chính quá tŕnh tư duy đó (về sự mong muốn) sẽ tác động làm thay đổi cuộc sống của chúng ta.  Khi chúng ta bắt đầu hiểu thấu rằng, ḷng mong cầu của ḿnh — sự thay đổi bản thân tốt hơn, đạt đến nơi nào đó — là ảo tưởng, là nguồn gốc của khổ đau.

Nếu chiếc bè chở đầy những hy vọng, ảo tưởng, tham vọng (đạt đến đâu, thánh thiện, hoàn mỹ, giác ngộ) bị lật úp.  Chiếc bè trống đó là ǵ? Chúng ta là ai? Chúng ta nhận diện được ǵ trong ư thức hệ đời sống? Và cái ǵ là tu tập?

Tu tập là ǵ?

Tu tập th́ rất đơn giản.  Nó không có nghĩa là, nó sẽ không chuyển hướng cuộc đời và lối sống của chúng ta, dù thế nào đi nữa, tôi muốn duyệt xét lại những ǵ chúng ta làm trong lúc Tọa thiền.  Nếu bạn nghĩ là bạn đă vượt qua giai đoạn này, th́ có thể không cần phải nghe vậy. 

Ngồi thật ra là một h́nh thức đă được đơn giản hóa.  Cuộc sống hằng ngày của chúng ta là di động không ngừng: nhiều sự cố xảy ra, nhiều cuộc đàm thoại, nhiều tiết mục.  Trong những thứ đó xoay quanh liên tục, chúng ta khó mà cảm nhận được rơ về đời sống của ḿnh là ǵ.  Khi ta đơn giản hóa hoàn cảnh (trong lối ngồi), tạm thời chúng ta đặt ḿnh vào vị thế tách rời cái thế gian ḿnh đang sống trong đó: từ tiếng điện thoại reo, truyền h́nh, khách khứa, dắt chó đi bộ, .. cho chúng ta có cơ hội — tin tưởng rằng đáng giá làm vậy — để đối diện với chính ḿnh.  Thiền định không phải là cho một trạng thái, mà là cho tự thân của hành giả.  Nó không phải là những hoạt động cụ thể, hoặc sửa chửa một điều ǵ, hoặc hoàn tất một công tŕnh ǵ; mà là cho chính bản thân ta.  Nếu chúng ta không đơn giản t́nh trạng đang có, th́ cái cơ hội nh́n thấy được bản tâm rất ư là nhỏ — bởi v́ chúng ta luôn luôn có chiều hướng nh́n những thứ khác hơn là tâm ḿnh.  Mỗi khi có ǵ không ổn, chúng ta nh́n vào những ǵ?  Chúng ta nh́n xem cái ǵ bất ổn và đổ lỗi cho người khác đă là nguyên nhân của cái t́nh trạng sai trái của ta.  Chúng ta luôn nh́n ra bên ngoài trong mọi thời, chứ không bao giờ chịu nh́n vào bên trong.

Khi tôi nói thiền định là hướng về người hành thiền, tôi không có ư là chúng ta sẽ bị lôi cuốn vào sự tự phân.  Điều đó cũng không đúng. Vậy th́ chúng ta làm cái ǵ?

Khi chúng ta có một tư thế tốt nhất — vừa dễ chịu và thăng bằng, chúng ta chỉ ngồi và tọa thiền.  “Chỉ ngồi” là như thế nào?  Nó là nhu cầu cần thiết nhất trong tất cả mọi sinh hoạt.  Thường thường trong thiền định chúng ta không nhắm mắt lại.  Nhưng ở giai đoạn lúc này, tôi mong bạn hăy nhắm mắt và chỉ ngồi đó.  Cái ǵ đang xảy ra?  Đủ tất cả mọi thứ.  Một bắp cơ co nơi vai trái, sức ép tăng dần ở nơi hông..  Chú ư mặt của bạn một chút.  Cảm giác nó. Nó có chổ nào bị gồng cứng lên không? Nơi vùng miệng, nơi vùng trán? Di chuyển xuống một chút.  Cảm giác ở phạm vi chung quanh cổ của bạn.  Kế đến là hai bên vai, sau lưng, trước ngực, vùng bụng, hai cánh tay, hai vế.  Tiếp tục cảm giác bất cứ những ǵ bạn có thể cảm giác được.  Cuối cùng là cảm giác cái hơi thở ra và vào.  Đừng điều khiển nó, chỉ cảm nhận nó thôi.  Bản năng đầu tiên của ta là muốn điều khiển nó.  Hăy để nó tự nhiên, nó có thể vào đến ngực hoặc nó có thể đi sâu xuống vùng bụng, nó có thể căng phồng.  Chỉ kinh nghiệm hơi thở như-nó-là.  Chỉ cảm giác nó thôi, cảm tất cả về hơi thở.  Nếu chiếc xe chạy ngang qua, nghe tiếng xe.  Nếu phi cơ bay qua, nhận biết điều đó.  Bạn có thể nghe tiếng máy lạnh chạy và ngừng, chỉ nhận biết thế.  Chỉ vậy thôi, đó là tất cả những ǵ bạn cần phải làm, một cách triệt để tất cả những ǵ bại phải làm: kinh nghiệm những thứ đó và bám chặt theo nó.  Bây giờ bạn có thể mở mắt ra. 

Nếu bạn có thể làm như thế thôi, liên tục không bị gián đoạn trong ṿng ba phút thời gian th́ đă là một điều kỳ diệu lắm rồi. Thông thường sau chừng một phút là chúng ta bắt đầu suy nghĩ.  Sở thích của chúng ta về những diễn tiến ở hiện tại (những ǵ chúng ta đang làm) thật là tệ.  “Thầy muốn nói tất cả những thứ này là Tọa thiền đó sao?”  Chúng tôi không thích vậy. “Chúng tôi đi t́m sự giác ngộ kia mà, phải không?”  Sự thật ở hiện tại chừng như không hấp dẫn đối với chúng ta chút nào cả.  Dường như là không! Chúng ta muốn suy nghĩ.  Chúng ta muốn lo lắng về tất cả mọi sự việc mà đang làm cho ta suy tư.  Chúng ta muốn giải đáp và sắp đặt đời sống.  Do đó, trước khi chúng ta biết được những điều đó; chúng ta đă hững hờ đánh mất cái cuộc sống hiện tại đang có của ḿnh ngay bây giờ; chúng ta luôn thả hồn theo những thứ như: bạn bè, người t́nh, con cái, việc làm, nỗn lo lắng đang tồn tại trong tâm hồn ..  Thật ra không có ǵ là tội lỗi khi phát sinh những mơ mộng, chỉ là khi chúng ta đắm ch́m trong đó, chúng ta mất đi những thứ giá trị khác.  Khi chúng ta đắm say trong suy nghĩ, trong mơ mộng, chúng ta mất những ǵ?  Chúng ta mất phút giây hiện tại; đời sống đă rời khỏi tầm tay của chúng ta rồi. 

Đây là những ǵ con người đang làm; không phải chúng ta chỉ thỉnh thoăng làm, mà chúng ta luôn luôn làm vậy.  Tại sao chúng ta làm thế? Dĩ nhiên, bạn đă biết câu trả lời.  Chúng ta làm thế v́ bởi chúng ta đang luôn cố gắng bảo vệ bản ngă của ḿnh; chúng ta muốn thoát khỏi những khó khăn hiện đang có, hoặc là ít nhất hiểu được nó. Không có ǵ sai đối với tâm vị kỷ, chỉ là khi chúng ta đồng hóa với chúng, th́ hiện cảnh đời sống về sự thật của chúng ta bị khuất lấp.  Vậy chúng ta nên làm ǵ khi tư tưởng nổi lên?  Chúng ta nên đặt tên (Niệm) tư tưởng.  Nên cụ thể trong khi Niệm: không phải là ở mức độ hời hợt như là “suy nghĩ, suy nghĩ” hoặc “lo lắng, lo lắng” mà cho một cái tên chi tiết hơn.  Thí dụ: “Có tư tưởng là cô ta sao hống hách quá.” “Có tư tưởng là anh ta xử thế bất công với tôi.” “Có tư tưởng là tôi không bao giờ làm việc ǵ đúng.” Nên cụ thể.  Nếu tư tưởng tuông ra lẹ quá chúng ta không thể niệm kịp được ǵ cả, ngoại trừ sự mơ hồ, th́ đặt tên mớ hổn loạn kia là “mơ hồ”.  Nhưng nếu bạn kiên tŕ thử t́m đời sống của từng chập tư tưởng, sớm muộn ǵ rồi bạn sẽ bắt được.

Khi chúng ta tu tập theo cách này, chúng ta học làm quen với chính ḿnh, cuộc sống của ḿnh vận hành ra sao, chúng ta đang phản ứng thế nào với nó.  Nếu ta nhận thấy được vài loại tư tưởng trổi dậy hàng trăm lần, là chúng ta biết được vài điều về chính ḿnh mà ta đă chưa từng biết trước đây.  Có thể là trước đây, chúng ta cứ triền miên lang bạt vào quá khứ hay tương lai.  Một số người th́ hay nghĩ về những sự kiện đă xảy ra; cũng có người thích nghĩ về người khác; hoặc là có người thích luôn luôn nghĩ về bản thân ḿnh. Một số người chỉ muốn không ngừng phê phán người khác.  Chỉ khi nào chúng ta lập Niệm tư tưởng của ḿnh ít nhất bốn hay năm năm, th́ may ra ta mới có thể hiểu được phần nào về chính ḿnh.  Khi chúng ta niệm tư tưởng một cách chặc chẽ và chính xác, th́ cái ǵ sẽ xảy ra đối với chúng (tư tưởng)?  Chúng sẽ thưa dần.  Chúng ta đâu cần phải đàn áp để loại bỏ nó.  Khi nó bớt nổi lên, chúng ta quay trở lại với sự kinh nghiệm về thân và hơi thở; và cứ thế mà tái lập Niệm lần này sang lần khác.  Mặc dù tôi đă nhấn mạnh rất nhiều lần, nhưng tôi dẫn cảm thấy không bao giờ đủ; chúng ta không những lập lại cái chu kỳ này ba lần, thậm chí mười-ngàn lần; và khi ta làm như vậy, cuộc đời của ta sẽ biến chuyển.  Đó là trên lư thuyết đă mô tả về tọa thiền.  Nó đơn giản; không có ǵ là phức tạp cả. 

Bây giờ hăy lấy một thí dụ cụ thể trong đời sống.  Giả sử bạn làm việc trong một xưởng kỷ nghệ hàng không, và bạn được biết rằng (do tin tức hay lời đồn) hợp đồng hiện có với chính phủ xắp hết hạn và có thể sẽ không được tái lập.  Bạn tự bảo lấy ḿnh, “Tôi sẽ bị mất việc.  Tôi sẽ không có tiền lương để lo cho gia đ́nh.  Thật là khốn khổ!” Cái ǵ sẽ xảy ra đây?  Đầu óc bạn sẽ lẫn quẫn với vấn đề này.  “Rồi đây sẽ ra sao? Tôi phải làm sao?”  Đầu óc bạn sẽ quay cuồng càng lúc càng nghiêm trọng hơn với sự lo lắng. 

Không có ǵ là không đúng về việc trù định cho tương lai; chúng ta phải kế hoạch, dự kiến.  Nhưng khi chúng ta bị hổn loạn, chúng ta không chỉ kế hoạch, mà chúng ta c̣n bị nó ám ảnh.  Chúng ta bóp méo, vặn vẹo vấn đề theo hàng ngàn lối khác nhau.  Nếu chúng ta không hiểu biết đường lối của tâm lo lắng biến chuyển ra sao, th́ làm sao biết được cái ǵ sẽ xảy ra sau đó?  Tư tưởng sẽ tạo ra cảm giác và cảm giác sẽ làm cho chúng ta càng bị dao động hơn.  Tất cả những cơn dao động cảm quan đều do tâm tạo.  Và nếu chúng ta cứ để tiến tŕnh này xảy ra trong khoảng thời gian dài, chúng ta sẽ bị bệnh tật về thân thể và suy nhược về thần kinh.  Nếu tâm không duy tŕ bảo quản hoàn cảnh với sự tỉnh giác, th́ thân thể sẽ làm thay cho nó.  Thân thể này sẽ nói, “Nếu bạn không lo ǵ về hiện trạng này, tôi nghĩ tôi sẽ phải làm vậy.”  Và nó sẽ làm bằng phản ứng của riêng nó, bằng cách phát sinh: cảm cúm, phát ban, nổi mụn, loét bao tử,.. hoặc là ǵ đó tùy theo kiểu cách của mỗi cá nhân.  Một cái tâm không tỉnh giác thường tạo ra bệnh tật.  Đây không phải là sự chỉ trích.  Tôi không biết một người nào mà không từng bệnh qua, kể cả bản thân tôi.  Khi sự lo lắng trở thành quá to tát, chúng ta gầy dựng lên biết bao khó khăn, chướng ngại cho chính ḿnh.  Với sự tu tập đều đặn, chúng ta sẽ bớt được vấn đề này dần dần.  Bất cứ ǵ mà chúng ta không hoặc có sự chú tâm, đều tạo ra quả tương ưng, trên phương diện này hay khía cạnh khác. 

Từ góc độ nhân sinh, những ǵ xảy ra không tốt trong đời sống của chúng ta có thể chia ra làm hai loại.  Một loại là những sự kiện xảy ra ở bên ngoài ta, và loại kia là những biến chuyển tác động bên trong, ví dụ như là bệnh hoạn trên thân.  Cả hai điều là sự tu tập của chúng ta, và có thể giải quyết cùng một chiều hướng giống nhau.  Chúng ta lập Niệm tất cả những ǵ xảy ra chung quanh chúng, và kinh nghiệm chúng trên thân thể cả chính ḿnh.  Quá tŕnh đó là thực chất của sự tu tập Thiền.

Nói về điểm này th́ thật là dễ dàng, nhưng để làm được tốt th́ thật là cực kỳ khó khăn.  Tôi chưa biết được lấy một người có thể làm được trọn vẹn trong mọi lúc. Tôi có biết một ít người có thể làm tốt trong khoảng thời gian nào đó.  Nhưng khi chúng ta dụng công theo pháp tu này, trở nên tỉnh thức về mọi sự kiện tác động vào cuộc đời chúng ta (cả bên trong lẫn bên ngoài), th́ cuộc đời của chúng ta sẽ biến đổi.  Khi chúng ta có được khả năng, trí tuệ nội quán, và ngay cả sự giác ngộ, th́ nó cũng đơn giản là kinh nghiệm về bản chất chân thật của đời sống vô phân biệt, như-nó-là.  Vốn không có ǵ là huyền bí cả. 

Nếu bạn là người mới bắt đầu tu tập thiền, điều rất quan trọng cần nên hiểu rằng, chỉ đơn giản ngồi vào tọa cụ trong mười-lăm phút là một sự chiến thắng to lớn cho chính ḿnh rồi.  Chỉ ngồi với tư thế hoa sen, và có mặt trong hiện tại ở đây là sự bắt đầu tốt lắm rồi. 

Nếu chúng ta sợ ở trong nước và không biết bơi lội, th́ chiến thắng đầu tiên sẽ là khi ta nhúng ḿnh vào trong nước; rồi bước kế tiếp là ngâm mặt dưới mực nước. Nếu chúng ta là người bơi lội tài giỏi th́ thử thách có thể là đưa tay vào trong nước với góc độ nào đó và đánh bơi.  Vậy có nghĩa là người bơi lội này tài giỏi hơn người kia chăng? Không đúng! Cả hai đều là người hoàn hảo ở mức độ của ḿnh. Tu tập ở bất cứ tŕnh độ nào cũng là hiện hữu với ḿnh trong phút giây này, mà không có nét phán xét tốt xấu, giỏi dỡ.  Thỉnh thoăng sau buổi nói chuyện của tôi có người nói, “Tôi không hiểu những điều đó.” Và điều đó cũng tốt nữa.  Tŕnh độ hiểu biết của chúng ta sẽ tăng trưởng theo thời gian tu tập, nhưng ở bất cứ thời điểm nào chúng ta đều nên là chính ḿnh, ở mức độ và khả năng hiện tại vào điểm đó.

Chúng ta bắt đầu học được rằng, duy chỉ có một cá thể trong đời mà chúng ta có thể tùy thuộc hay nương tựa vào.  Cá thể đó là ǵ?  Chúng ta có thể nói, “Tôi trông cậy nơi người hôn phối của tôi.”  Chúng ta có thể thương yêu người vợ hoặc người chồng của ḿnh; nhưng chúng ta không thể nào hoàn toàn nương tựa vào họ; bởi v́ những người khác (giống như bản thân của chúng ta) th́ luôn luôn ở một chừng mức nào đó không đáng tin cậy.  Đương nhiên, chúng ta có thể thương yêu hay thân thiện với người khác; nhưng không có một cá nhân nào trên cơi đời này mà chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy được.  Theo góc độ nh́n này, chúng ta có thể nương tựa vào cái ǵ trong đời sống, nếu đó không là một con người?  Tôi đă từng hỏi nhiều người, có một lần cô ta nói, “Bản thân tôi.”  Bạn có thể nương tựa nơi bản thân ḿnh không?  Trông cậy vào tự thân th́ rất tốt, nhưng một cách hiển nhiên nó th́ rất là giới hạn.

Có một “tư tưởng hệ” trong đời sống là bạn có thể luôn luôn (nếu không muốn nói là tuyệt đối) tùy thuộc vào: Trạng thái của thực chất đời sống.  Hăy phát triển quan điểm này rơ ràng hơn.  Giả sử có những ǵ đó mà tôi thật sự rất là mong muốn: Có lẽ, tôi muốn chắc chắn kết hôn với một người nào đó, hoặc lấy được bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ, hoặc có được đứa con ngoan, khơe mạnh.  Nhưng biến diễn cuộc đời lại có thể xảy ra một cách hoàn toàn trái ngược lại những ǵ tôi mong muốn.  Chúng ta không thể nào biết chắc được rằng chúng ta sẽ kết hôn chính xác với một người nào đó.  Nếu được như ư, người đó có thể bị chết đi ngày mai.  Chúng ta có thể hoặc không thể lấy được bằng cấp cao học.  Có thể là sẽ có, nhưng chúng ta không thể tính được là có lúc này.  Chúng ta không thể nào dựa vào bất cứ một điều ǵ cả trong tương lai ở trong phút giây hiện tại.  Đời sống th́ luôn luôn thay đổi theo chiều hướng riêng của nó.  Vậy tại sao chúng ta không thể nương tựa vào sự thực?  Có ǵ khó khăn đâu về điểm này? Tại sao chúng ta lại bức xúc như vậy?  Giả dụ như căn nhà bạn mới vừa bị san bằng bởi một cơn địa chấn, và bạn mất một cánh tay, và mất sạch cả số tiền tiết kiệm của một đời làm việc.  Bạn có thể nào tùy thuộc vào sự thật cuộc đời như-nó-là không? Bạn có thể chấp nhận hoàn cảnh này không?  Nếu không, bạn có thể thay đổi khác hơn không?

Tin tưởng vào ḍng sống cuộc đời (nó xảy ra theo chiều hướng của nó) là một bí quyết sinh tồn, cũng là để đạt được sự b́nh thản nội tâm.  Nhưng chúng ta không muốn nghe như thế.  Tôi tuyệt đối tin tưởng rằng cuộc đời tôi ở năm tới sẽ thay đổi, sẽ khác hơn, nhưng theo chiều hướng của nó (có thể tốt hơn hay xấu hơn).  Nếu ngày mai tôi bị vỡ mạch tim, tôi có thể chấp nhận nó, bởi v́ nếu tôi bị th́ tôi bị vậy thôi!  Tôi có thể b́nh thản trôi theo ḍng đời như-nó-là.

Khi chúng ta làm một việc ǵ (ví như làm việc thiện), trong tư tưởng của chúng ta có một cái “Tôi” hiện hữu (giống như Krishnamurti nói trong nhiều cuốn sách Thiền của ông), th́ rồi mọi việc không c̣n suông sẽ nữa.  Đó là lư do tại sao chúng ta phải luôn Chánh Niệm, để giữ cái việc làm độc lập mà không bị dính theo bởi nhân ngă.  Khi chúng ta tu tập đủ lâu, chúng ta có thể nhận thấy được rằng, tư tưởng cũng chỉ là cảm xúc (đối tượng) giác quan của Ư căn, giống như âm thanh đối với Nhĩ căn hay h́nh sắc đối với Nhăn căn.  Và chúng ta có thể nhận diện tâm ta biến chuyển theo từng giai đoạn của ḍng vận hành từ lúc phát sinh: ban đầu, chúng ta luôn tin là tư tưởng của ta là thật, cho nên chúng ta nảy sinh ḷng luyến đắm tự kỷ; từ đó ta nh́n đời qua cái lăng kính Tự kỷ ám thị đó.  Do đó, ta không c̣n thấy người và cảnh một cách trung thực nữa; bởi v́ chúng ta bị kẹt cứng trong lăng kính tự kỷ kia rồi.  Bản thân của tư tưởng chỉ là đối tượng giác quan (Ư căn), là một mănh vỡ không tṛn vẹn của một năng lượng lớn hơn, có vậy thôi.  Nhưng chúng ta lại sợ khi thấy thực chất của tư tưởng là thế. 

Khi chúng ta thiết lập Niệm, là chúng ta bước lùi ra sau một bước để tạo nên một khoăng cách.  Chúng ta tách rời (tạm thời) sự tiếp xúc với đối tượng giác quan.  Có sự khác biệt to tát giữa hai tên cho cùng một niệm, “Cô ta thật phi lư” và “Có một tư tưởng rằng cô ta thật là phi lư.”  Nếu chúng ta kiên tŕ lập Niệm cho mỗi tư tưởng, th́ bộ mặt giả tạo của cảm giác sẽ bị rớt xuống, chỉ c̣n trơ trẽn một mănh vỡ của năng lượng không tên mà chúng ta không c̣n lư do ǵ để bị vướng mắc vào.  Nhưng nếu chúng ta nghĩ tư tưởng đó là thật, chúng ta sẽ bị nó sai khiến.  Nếu chúng ta làm theo sự điều khiển của nó, th́ cuộc sống của chúng ta sẽ bị xáo trộn.  Một lần nữa tôi muốn nói, tu tập là chúng ta phải thực hành Niệm ở lănh vực này măi cho đến khi nào nó trở thành một bản năng thứ hai của chúng ta.  Tu tập không phải là đạt đến sự nhận thức trong đầu, nó phải do thực tập để thể nhập vào thói quen (vào tới xương tủy) của chúng ta.  Dĩ nhiên chúng ta phải có tư tưởng-tri thức: làm theo cách hướng dẫn nấu ăn, làm sao lợp mái nhà, dự kiến cho cuộc nghĩ hè.  Nhưng chúng ta vốn không cần sự hoạt động của cảm giác tự kỷ trong lúc làm những việc này.  Đó không phải là suy nghĩ; nó là sự lầm lạc của suy nghĩ. 

Thiền là do đời sống mà có, nó nên thể nhập vào đời sống.  Khi chúng ta biết được tâm ta và cảm giác mà do sự suy nghĩ tạo ra, chúng ta có chiều hướng nh́n và ứng xử về sự việc trước mặt, trong cuộc đời tốt hơn.  Thiền là một đời sống tích cực, chớ không thụ động ngồi ́ ra đó không làm ǵ cả.  Nhưng tất cả mọi hành động của chúng ta đặt bản chất của thực tế.  Khi nào chúng ta có cách hành xử dựa trên nền tảng của phương thức suy nghĩ sai lầm (tức bị điều kiện hóa — méo mó bởi cảm giác tự ngă), th́ đó là những hành động không phù hợp với pháp.  Khi chúng ta thấu suốt được sự vận hành của tư tưởng, chúng ta có thể thấy được chúng ta cần nên làm ǵ.

Những ǵ chúng ta đang làm, không phải sửa lại bản năng của chúng ta, mà là giải phóng chúng ta ra khỏi ṿng kềm tỏa của bản năng tự ngă, bằng cách thấy được rằng, tự ngă là không thật có. Nếu sửa lại nó, th́ chỉ là tiến tŕnh thay đổi bằng cách nhảy từ căn tù này sang qua căn tù khác, rồi lế lối phản ứng và cách hành xử vẫn như cũ.  Giả dụ, tôi có một lập tŕnh gọi là, “Tôi thiếu tự tin.”  Và tôi quyết định tôi sẽ thay đổi nó trở thành, “Tôi có tự tin.”  Th́ cả hai lập tŕnh không thể nào đứng vững dưới sự tác động thay đổi của ḍng thác lũ cuộc đời; bởi v́ có cái “Tôi” trong đó.  Cái “Tôi” rất là dễ vỡ, không thật — và dễ dàng bị lừa dối.  Sự thật vốn không có cái “Tôi”.  Cái điểm quan trọng là thấy nó trống rỗng, ảo tưởng; chứ không phải là muốn phân hủy nó.  Khi tôi nói, nó trống rỗng là ư nói, nó không có thực chất; nó chỉ là sản phẩm do tư tưởng tự kỷ tạo ra.

Tu tập Thiền th́ không bao giờ đơn giản như là nói về nó.  Ngay cả một thiền sinh đă có được một mớ hiểu biết về phương pháp, và đă tu tập qua một thời gian, vẫn có xu hướng nhảy vọt qua phần cơ bản.  Nhưng khi chúng ta ngồi tốt th́ mọi thứ khác nương theo đó mà thể nhập, tuần tự, và trôi chảy. Do đó, không khác ǵ giữa người đă ngồi năm năm, hai-mươi năm, hay mới bắt đầu, là phải ngồi đúng đắn và tỉ mỉ.

Ngọn lửa của sự Chú tâm

Khoảng năm 1920, khi ấy tôi chừng tám hay mười tuổi và sống ở New Jersey.  Nơi đó mùa đông th́ lạnh lắm, chúng tôi phải có ḷ sưởi than trong nhà.  Đó là sự kiện dễ nhớ; trong khu phố mỗi khi chiếc xe vận tải đến từng nhà để cung ứng than vào từng kho than của mỗi nhà.  Tôi được biết có hai loại than trong kho: than hầm mỏ (than đá) và than bùn (than mềm).  Cha tôi bảo rằng sự khác nhau là sự cháy của than ra sao.  Than đá cháy rất sạch và để lại rất ít tro; c̣n than mềm th́ lại khác nó để lại rất nhiều tro.  Khi than bùn được dùng th́ ḷ trở nên đầy lọ và một ít có thể bay lên trên lầu và pḥng khách.  Mẹ tôi chắc chắn sẽ có vài lời về vấn đề này.  Vào buổi tối, cha tôi sẽ phải tấn ngọn lửa, và tôi cũng học cách làm thế.  Ngăn ngọn lửa nghĩa là bao chung quanh một lớp than rồi đóng cửa thông hơi lên trên ống thổi hơi nóng, vậy là lửa phải cháy ở độ thấp.  Đêm đi qua th́ nhiệt độ trong nhà sẽ lạnh xuống; buổi sáng ngọn lửa sẽ được khơi lên và ống thông hơi sẽ được mở ra để đi lên ống thổi, sưởi ấm nhà. 

Những thứ này có dính dáng ǵ với sự tu tập của chúng ta?  Tu tập là để cắt đứt sự vướng mắc vào cái tự ngă.  Cái quá tŕnh này đôi khi được gọi là thanh lọc tâm.  “Thanh lọc tâm” không có nghĩa là chúng ta trở thành thánh thiện hoặc trở thành một người khác hơn là chính ḿnh; nó chỉ có nghĩa là từ bỏ đi những ǵ ngăn trở chúng ta sống cách tốt nhất — giống như ḷ sưởi được đốt với than đá.  Nhưng không may là những ǵ trong chúng ta chỉ toàn là than bùn.  Trong quyển kinh thánh có nói: “Con người giống như ngọn lửa trong ḷ luyện kim.”  Đó là sự tương tợ có thể t́m thấy trong các tôn giáo khác.  Tọa thiền qua một khóa tu học giống như ngồi trên ngọn lửa của ḷ luyện kim.  Thiền sư Eido có một lần nói, “Thiền đường này không phải là một thiên đường hạnh phúc, mà nó là một cái buồng cháy dùng để đốt sự ít kỷ, sự mê mờ, ngu dốt.”   Thiền đường không phải là một nơi cho ta hạnh phúc và thư giản, mà là cái ḷ chuyên đốt tính ít kỷ, mê muội.  Dụng cụ nào chúng ta cần phải dùng? Chúng ta ai cũng biết nhưng lại rất ít khi dùng đến.  Nó được gọi là “sự chú tâm.” 

Sự chú tâm là thanh kiếm. Trong sự tu tập của chúng ta nên dùng thanh kiếm này càng nhiều càng tốt.  Không ai thích dùng thanh kiếm này; nhưng khi ta dùng — dù trong vài phút ngắn ngủi — th́ nó có tác dụng tức th́.  Tất cả mọi sự thực hành đều không ngoài mục đích tăng trưởng khả năng chú ư này, không phải chỉ trong lúc tọa thiền, mà là trong từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong lúc chúng ta ngồi, chúng ta hiểu thấu rằng tiến tŕnh khái niệm tư tưởng khởi sinh là không thật; và càng hiểu rơ vấn đề này th́ khả năng chú ư vào thực trạng của chúng ta càng nhạy bén.  Tổ Hoàng Bá có nói: “Nếu bạn có thể, chỉ cần thu dọn tư tưởng khái niệm, th́ bạn sẽ có cơ hội hoàn tất chuyện lớn.  Nhưng nếu bạn chỉ t́m hiểu phương pháp, mà không thực hành thu dọn tư tưởng khái niệm trong một chớp mắt, mặc dù bạn phấn đấu trong thời gian dài vô tận (kiếp sống này sang kiếp sống kế tiếp), bạn sẽ không bao giờ hoàn thành vấn đề sanh tử.”  Chúng ta “dọn dẹp tư tưởng khái niệm” khi — bằng cách duy tŕ quán sét — chúng ta nhận diện cái bản chất không thật của tư tưởng tự kỷ.  Được vậy, chúng ta trở về bản thể của ḿnh, điềm tĩnh và không c̣n bị tác động bởi chúng.  Đó không có nghĩa là chúng ta trở thành người lạnh lùng vô cảm.  Mà là, chúng ta không c̣n bị vướng mắc và lôi cuốn vào trong ṿng lẫn quẫn của hoàn cảnh hổn loạn chung quanh.

Đa số người trong chúng ta th́ không làm được vậy.  Vừa bắt đầu một ngày của cuộc sống, là chúng ta khám phá ra, là chúng ta không có sự điềm tĩnh chút nào cả.  Chúng ta có quá nhiều ư kiến từ cảm giác và luôn phê phán về mọi sự việc; cảm giác của chúng ta rất dễ bị người tổn hại.  Chúng ta không có một chút nào gọi là “điềm tĩnh và không dễ bị tác động” bởi điều kiện chung quanh.  Vậy, rất ư là tối quan trọng ghi nhớ rằng, mục đích chính yếu của khóa tu học là để thiêu đốt tư tưởng bằng ngọn lửa chú tâm, để cuộc sống của chúng ta có thể trở nên “điềm tĩnh và không c̣n bị tác động” bởi điều kiện bên ngoài.  Tôi nghĩ không có ai trong chúng ta ở đây làm được việc này trọn vẹn.  Nhưng sự tu tập của chúng ta là để làm việc đó.  Nếu chúng ta thật sự hoàn tất sự đốt cháy những vướng mắc, th́ không cần phải tọa thiền làm ǵ cả.  Nhưng tôi không nghĩ là có ai có thể nói thế.  Chúng ta cần khoảng thời gian thích hợp mỗi ngày để tọa thiền, để chú ư xem cái ǵ đang xảy ra trong thân và tâm của ḿnh.  Nếu chúng ta không ngồi thường xuyên, chúng ta không thể nào thấu hiểu được cách áp dụng nó một cách triệt để vào những công việc trong đời sống hàng ngày, như rửa xe, nói chuyện với quản lư trong văn pḥng, vv…

Tổ Lâm Tế nói, “Chúng ta không thể tháo gỡ Nghiệp trong quá khứ ngoại trừ sống trong giây phút hiện tại.  Khi mặc áo th́ mặc áo.  Khi đi bộ th́ đi bộ.  Đừng có một ư tưởng nào trong tâm về việc đi t́m Phật tánh.”  Một lần có người hỏi tôi, “Joko, có bao giờ thầy nghĩ là sẽ đạt đạo và chứng ngộ rốt ráo chăng?”  Tôi trả lời, “Tôi hy vọng là một ư tưởng như thế đừng bao giờ nảy sinh trong tâm tôi.”  Không có thời gian hay địa điểm đặt biệt cho sự giác ngộ bùng nổ.  Tổ Hoàng Bá nói, “Không có ǵ phân chia giữa Chân lư tuyệt đối và thế giới cảm giác.”  Nó không ngoài, đậu xe, mặc áo, tản bộ.  Nhưng nếu than bùn (vọng tưởng) là thứ mà ta đang đốt, th́ chúng ta sẽ không đi đến đâu cả.  Đốt than bùn cũng giống như ta đốt đời ta trong vọng tưởng.  Chúng ta không thể chặt đứt những rau mơ, rễ má khi chúng ta đụng độ chúng.  Mà thủ phạm lại chính là cảm giác chấp thủ của chúng ta đối với điều kiện chung quanh.  Ví dụ, xếp của bạn muốn bạn làm một việc ǵ thật là phi lư.  Trong phút giây đó, sự khác biệt là loại than nào ta nên đốt?  Hoặc là bạn phải đi t́m một việc làm mới — nhưng những việc làm chúng ta có thể được toàn là việc làm mà chúng ta không thích cả.  Hoặc là, đứa con của bạn bị vướng vào sự rắc rối ở trường..  Đối phó với những t́nh trạng này, sự khác biệt là chọn loại than ǵ để đốt?  Nếu không có được sự thấu hiểu về sự khác biệt, chúng ta đă phí bỏ bao thời gian cho khóa tu học rồi.  Phần lớn chúng ta đến đây để đi t́m Phật tánh (hay Tánh giác).  Nhưng Tánh giác chính là làm cách nào xử thế đối với xếp ở sở làm hay với con cái ở nhà, với người ḿnh yêu hoặc người hôn phối, hay bất cứ ai.  Cuộc sống của chúng ta th́ luôn luôn là tuyệt đối: Nó lúc nào cũng là một tổng thể trọn vẹn.  Sự thật không ở nơi nào khác.  Nhưng chúng ta lại có cái tâm (Vô minh) luôn cố gắng nghiền nát quá khứ hoặc ngấu nghiến tương lai.  Sống với (đối diện) hiện tại — Phật tánh — th́ chúng ta luôn tránh né.

Khi ngọn lửa trong ḷ được tấn than chung quanh, nếu bạn muốn ngọn lửa lớn mạnh th́ phải làm ǵ?  Bạn phải cho không khí vào.  Chúng ta cũng là ngọn lửa vậy; khi tâm lắng dịu, chúng ta có thể thở sâu hơn và không khí đi vào phổi nhiều hơn.  Chúng ta đốt trọn vẹn những ǵ đi vào, và hành động của chúng ta cũng phát sinh từ ngọn lửa vô nhiễm đó.  Thay v́ cố phân tích trong đầu để t́m một phương thức hành xử; chúng ta chỉ cần sự trong sáng tự thân, và trong sự trong sáng đó ta thấy được ta sẽ phải làm ǵ.  Tâm lắng dịu bởi v́ chúng ta quán sát nó thay v́ lặn ngụp trong nó.  Sau khi hơi thở trở nên sâu, đó là lúc ngọn lửa đốt hữu hiệu nhất, không có thứ ǵ mà không bị đốt sạch; khi đó ngay cả cái Ngă cũng không thể tồn tại nổi, tất cả trong ngoài trở thành một, không c̣n cái Ngă cách ngăn.

Chúng ta không thích chấp nhận là chúng ta chỉ là thật thể vật lư; nhưng toàn thể của sự chuyển hóa của tọa thiền là ở phương diện vật lư.  Nó không phải là phép mầu ǵ xảy ra trong đầu của ta.  Khi chúng ta đốt than bùn, là chúng ta đang xử dụng tâm không đúng; do đó những mơ mộng, ư kiến, tham vọng, suy đoán, phân tích làm nghẹt, trói buộc ta — và chúng ta vùng vẫy một cách vô vọng mong t́m một hành động đúng để thoát ra khỏi cái vũng lầy đó.  Khi cuộc sống chúng ta có trắc trỡ, chúng ta cố gắng làm ǵ? Chúng ta ngồi đó, phân tích nó, nghiền ngẫm nó, suy luận nó.  Những việc đó không giải quyết được ǵ cả.  Cách giải quyết là nhận biết tâm lư sai lầm của ḿnh — nó không phải suy tư thật sự.  Chúng ta quan sát tư tưởng cảm giác. “Vâng, tôi không thể hiểu cô ta! Cô ta thật phi lư!”  Chúng ta chỉ nhận biết, nhận biết, nhận biết.  Rồi th́ tâm và thân ta sẽ lắng dịu, ngọn lửa có cơ hội bùng lên, cháy sạch những vướng mắc tạo chỗ trống cho suy tư thật sự làm việc, và khả năng thấy được hành động thích hợp nhất cho vấn đề hiện tại hiện ra.  Tính linh động là một nghệ thuật được sinh ra từ ngọn lửa chú tâm cao độ đó.

Chúng ta muốn suy nghĩ, suy đoán, mơ mộng, giải quyết vấn đề, biết được bí mật vũ trụ.  Khi chúng ta ở trong trạng thái đó, cũng giống như ngọn lửa đang bị tấn một lớp than bùn thiếu không khí.  Rồi chúng ta ngạc nhiên tại sao chúng ta bị bệnh, tinh thần lẫn thể xác.  Hệ thống cháy bị nghẹt, hơi nóng không ra chỉ có bụi bặm và lọ thôi; và lọ than không chỉ làm cho ta dơ, nó c̣n làm bẩn những thứ khác.  Vậy rất là quan trọng để tọa thiền mỗi ngày, nếu không th́, do sự hiểu biết lờ mờ th́ sẽ làm ngọn lửa trong tâm lúc nào cũng bị bao phũ (thiếu không khí).  Chúng ta phải tọa thiền mỗi ngày — mười phút vẫn tốt hơn không ngồi ǵ cả.  Khóa tu cũng rất quan trọng cho những hành giả tích cực; ngồi mỗi ngày có thể giúp ngọn lửa cháy ở độ thấp, nhưng ít khi (không có nghĩa là không có) nó bùng lên thành ngọn lửa xanh. 

Vậy hăy tiếp tục với khóa tu.  Không có điều ǵ mà bạn không gặp trước khi bạn có được sự thành tựu: giận dữ, ganh tị, hạnh phúc, buồn chán.  Quan sát tự thân trong lúc bạn bị vướng mắc để cảm thấy buồn cho chính ḿnh; ngay trong lúc chấp chặt vào phiền năo, hay vào hoàn cảnh tăm tối của cuộc đời.  Đó là diễn kịch của đời bạn.  Sự thật mà nói, chúng ta rất thích thú tuồng kịch của đời ḿnh thật là nhiều.  Người ta kể cho tôi nghe là, họ muốn siêu thoát những khó khăn của họ; nhưng khi họ lặn ngụp trong những rau mơ rễ má của chính họ, mà họ vẫn muốn ǵn giữ, ôm ấp cái thế giới giả tạo mà họ đang có.  Chúng ta yêu thích tuồng kịch cuộc đời của chúng ta.  Chúng ta thích phàn nàn, khổ sở và rên rĩ (và các thứ t́nh tiết bi đát triền miên). “Thật là khổ sở! Tôi cô đơn quá! Không ai yêu tôi cả.”  Chúng ta vui vẽ với mớ than bùn của chúng ta.  Nhưng những cù cặn sau quá tŕnh cháy vỡ có thể để lại những thăm kịch cho tôi và cho bạn.  Hăy thực tập tốt.

Thúc đẩy cho Kinh nghiệm tự chứng

Ḍng chữ mà tôi thích nhất trong Trung Dung Lục: “Trên một cội cây héo tàn, có một bông hoa đang nở.”  Khi tất cả sự vướng mắc và ḷng tham dục bị phân hóa, Trí tuệ và ḷng bi mẫn phát sinh. Đây là trạng thái giác ngộ.  Theo tôi, không có người nào hoàn toàn sống trong trạng thái này; hoặc có vài người đạt được lănh vực này trong lịch sử nhân loại.  Nhưng chúng ta lầm lẫn giữa người có công năng đặt dị và người chứng quả giác ngộ.  Vậy hăy nh́n vào cái tiến tŕnh của sự giác ngộ, mà dụng công theo con đường ngược.

Trở thành bậc giác ngộ hoàn toàn (và có lẽ trên giả thuyết), th́ sẽ thể nhập tuyệt đối.  Không có ǵ trong vũ trụ có thể sánh bằng, Nam mô đại bổn sư, “Thể nhập với Chứng Quả Bồ Đề”.  Bạn và tôi không thể nói cái này hoàn toàn thích hợp với mọi thứ.  Chúng ta có thể làm là, cố gắng, nổ lực tận hết khả năng để làm (tu tập).  Nhưng chỉ vị Phật mới là người có thể nói điều đó (thể nhập Chân lư), không c̣n bị giới hạn và cách biệt với mọi vấn đề trong vũ trụ. 

Trước khi giác ngộ triệt để, th́ người đó phải đạt đến trạng thái ung dung tự tại thật sự.  Dĩ nhiên người này vẫn c̣n giới hạn (theo vật lư), hạn chế (theo tinh thần), cho nên ở một chừng mực nào đó trạng thái (tự tại) này sẽ bị găy (tới tột đỉnh của nó).  Tuy nhiên, đó chỉ là sự ḥa hợp thân và tâm (tự chủ), kỳ diệu và khác thường.  Phần lớn trong chúng ta cũng đang ở trong giai đoạn tiến dần theo chiều hướng để đến đó, có nghĩa là chúng ta có phần nào (không phải toàn bộ — thỉnh thoảng có sự căng kéo trong thân) làm chủ được thân ta.  Cho nên ta chỉ nói, chúng ta có thân này, chứ không nói là, chúng ta là thân này.  Rồi ở gian đoạn trước hơn đó (khi chúng ta chưa có quan hệ với thân này), chúng ta có thể nghĩ là, chúng ta chỉ là cái tâm.  Rồi ngay cả giai đoạn trước hơn đó (chúng ta không thật sự điều khiển những chập tâm) nữa; chúng ta tách những chập tâm đó ra theo từng nhóm.

Tuỳ thuộc vào điều kiện hiện tại, chúng ta có thể thấy ở chừng mực nào đó và nắm giữ ở một mức độ nào đó thôi.  Trạng thái tôi đă nhắc trên chỉ là tầm nhận xét hạn hẹp, thật nhỏ đến nỗi bất cứ những ǵ hơi lớn hơn được mang ra để nói sẽ dẫn đến sự sợ hăi.  Nếu nói quá sớm đôi khi c̣n có hại hơn là có lợi cho sự tu tập; v́ đây là phạm vi mà chúng ta va chạm với tác dụng không b́nh thường và có hại của sự tu tập.  Đối với một người giới hạn, họ thấy vũ trụ tương đương với tia sáng lớn bằng mũi kim, nếu cho họ thấy được tia sáng như mặt trời, v́ họ không thể chịu nổi, có thể họ sẽ phát điên.

Tôi đă trăi qua nhiều khóa tu học, nơi mà có những cảnh trạng la hét, quát mắng, xô đạp: bạn phải dụng công! bạn (cái Ngă) phải chết! Những đàn ông, đàn bà khóc thâu đêm, c̣n đối với vài người đă có nội hàm vững chắc th́ mọi sự không thành vấn đề.  Những người (thường là những thanh niên và thiếu nữ có tinh thần) chưa sẳn sàng — bỏ qua giai đoạn căn bản ban đầu, giai đoạn xây dựng khả năng để thấy phút giây hiện tại, để cho họ có một “lối vào” — mà nhảy vọt.  Có tốt không? Không! Không tốt.  Những ai đă sẳn sàng, kinh nghiệm mới sẽ là điều kỳ diệu trên đời.  Họ có thể cảm nhận được nó, trước khi họ có được nó và họ chuẩn bị sẳn sàng đón nhận nó.  Nhưng những ai chưa đủ khả năng, th́ không những không có kết quả ích lợi, mà trái lại c̣n có những tai hại to lớn là điều không thể tránh.

Một người thầy, có thể giúp thiền sinh bằng cách, cho mỗi người một công án để thâu nhỏ cái tầm nh́n và hạn chế khoăng không gian cho thiền sinh dễ tập trung, giống như Mă Tổ. (Mă Tổ: Một công án được đưa ra cho một thiền sinh mới để nghiền ngẫm bằng cách gom tâm về một chỗ.  Từ ngữ “Không” hay “Trống rỗng” không diễn đạt hết được tầm quan trọng của tu Thiền.)  Nhưng một người chưa có khả năng bén nhạy về mặt cảm giác, th́ những nổ lực như thế có thể sẽ tốt hơn bằng một pháp tu khác.  Cảnh giác cao độ đ̣i hỏi nhiều thời gian thực tập; kinh nghiệm tự chứng lúc c̣n non kém chưa phải là một điều tốt.  Để có loại kinh nghiệm đó (kinh nghiệm giác ngộ), nền tảng cơ bản phải gầy dựng trên chánh-tri-kiến — Vô Ngă và không có ǵ tồn tại trong vũ trụ một cách vĩnh hằng (mà là luôn thay đổi) — Vô thường.  Chúng ta sẽ đối đầu với trở ngại to lớn nhất đó là bản thân.  Khi nào chúng ta nhận chân (thể nhập và kinh nghiệm chứ không chỉ hiểu biết theo tri thức) được sự thật này, th́ chúng ta sẳn sàng cho sự giải thoát.  Nhưng đối với một người chưa sẳn sàng, th́ đó là sự hủy diệt hoàn toàn.  Ngay cả cho một người đă sẳn sàng cho loại kinh nghiệm ấy, có thể c̣n mất rất nhiều năm tu tập (đi quanh quẫn, dọn dẹp những cù cặn) cho sự trưởng thành để làm cho nó trở nên sáng tỏ ra.

Vài người thầy có những kinh nghiệm dồi giàu ở lănh vực cao, nhưng lại không có nhiều (hay không từng trăi qua v́ căn cơ sai khác) với giai đoạn cơ bản.  Dĩ nhiên họ thấy cả, nhưng căn cơ không hợp (không có duyên), sự ḥa hợp giữa cá nhân và pháp môn không khế hợp có thể mang đến tai hại mà không có kết quả tốt đẹp.

Chúng ta có thể tin tưởng rằng, kinh nghiệm tự chứng th́ giống như ăn một miếng bánh sinh nhật. “Nghe hấp dẫn quá! Tôi muốn được.”  Nhưng có người diễn tả loại kinh nghiệm này như là mang một món đồ trang sức nặng nề, đau đớn.  Ngoại trừ khi thân thể người mang nó đủ to lớn, mạnh khỏe, bằng không nó sẽ đè thân người đang mang nó găy đổ.  Do đó, chọn bất cứ ai đang đi ngoài đường kia, rồi thôi thúc (bắt họ khán thoại đầu hay tham công án) họ; đó không phải là một hành động thông minh. Vài vị thầy không chịu hiểu vấn đề đó: Họ làm việc theo trực giác mà không hiểu thấu căn cơ của mỗi người.  Nhiều năm trước tôi có hỏi một người đánh dương cầm giỏi, “Làm cách nào tôi có thể cải tiến tốt hơn khi đánh bài nhạc này?  Tôi thật sự có rất nhiều khó khăn khi đánh nó.”  Cô ta trả lời, “Ồ! thật là dễ.  Cứ đánh thế này.”  Đối với cô th́ rơ ràng và dễ dàng, nhưng với tôi th́ không giúp ích được ǵ cả.  Vấn đề vẫn tồn tại.

Thứ mà tôi đ̣i hỏi nơi bạn là sự kiên nhẫn.  Tôi đă gặp nhiều người từng tọa thiền trong thời gian dài và có được mức độ thành tựu đáng kể, nhưng tất cả đều bị hơng bởi v́ sự phát triển của họ không thăng bằng.  Trạng thái thăng bằng th́ không phải là vấn đề đơn giản ǵ.  Khi tọa thiền, chúng ta biết được cái tâm của chúng ta phức tạp như thế nào; và có muôn ngàn cơn xoáy cuốn trong cái Ngă huyền bí ấy, cho nên chúng ta cần nhiều người hiểu biết trên nhiều lănh vực khác nhau giúp đỡ ta.  Thiền không thể nào chăm sóc và cải thiện mọi thứ.  Khi cường độ của sự tu tập lên đến mức mănh liệt vào thời kỳ quá sớm, sẽ có nguy hiểm của sự mất thăng bằng, chúng ta cần phải chậm lại.  Chúng ta không nên thấy quá nhiều, quá sớm. 

Tại sao lại phải nói về sự giác ngộ? Khi một người đă sẳn sàng (khi tŕnh độ đă đến chứ không phải do cái tư tưởng nhị nguyên ṭ ṃ muốn biết), người đó có sự khát khao để biết rất mạnh; vị thầy có thể nhận thấy rơ ràng và chỉ cho thiền sinh cái ǵ cần phải làm kế tiếp.  Chúng ta cần phải nhẫn nại với cuộc đời của ḿnh, với ḷng tham về dục lạc, quyền lực, an ninh — không ai tránh khỏi những điểm này gồm cả bản thân tôi.  Vậy tôi mong rằng bạn hăy kiểm soát lại tư tưởng của ḿnh về sự mong muốn đựợc giác ngộ, rồi đối mặt với nó.  Đây là một việc cần phải làm một cách thông minh và phải làm liên tục, bền bĩ.  Với sự tu tập chuyên cần, đời sống của ta có thể tăng trưởng liên tục trong khả năng kiểm soát (tự thân) và tính hài ḥa (với hoàn cảnh chung quanh); khả năng kiểm soát bên trong và bên ngoài sẽ tạo ra nhiều lợi lạc trong mọi lănh vực. 

Mỗi khi chúng ta kéo tâm về phút giây hiện tại, khả năng kiểm soát tăng dần thêm một lần.  Mỗi lần chúng ta tỉnh giác được tâm ta lang thang khỏi hiện cảnh, khả năng kiểm nhận tăng lên một lần.  Rồi sự trầm tỉnh và trong sáng của tâm và thân sẽ hiển lộ.  Nó rất rơ — chúng ta có thể nhận ra khi một người có trạng thái đó khi bạn gặp họ.

Trong kiếp này, nếu chúng ta tu tập tốt, th́ chúng ta đi dọc theo con đường thanh tịnh đạo, có thể có được phần nào kinh nghiệm giác ngộ trên con đường trong lúc tu — Đó là điều tốt.  Nhưng chúng ta đừng bao giờ đánh giá thấp sự liên tục trong tu tập, chúng ta phải tấn công những hiểu biết sai lầm, thứ này sẽ làm cản bước tiến của chúng ta trên cuộc hành tŕnh đi t́m chân lư.  Xem xét bức tranh chăn trâu của Thiền Tông, ví dụ: một người muốn đi từ bước thứ nhất cho đến bước thứ mười.  Nhưng chúng ta có thể đang ở bước thứ chín và tuột về bước thứ hai.  Sự tiến bộ không phải luôn luôn là tồn tại và chắc chắn.  Chúng ta có thể ở tầng thứ mười trong vài giờ, rồi ngày sau lại rơi xuống tầng thứ hai.  Trong nhập thất, tâm chúng ta trở nên trong sáng và im lặng — nhưng nếu có người đến chỉ trích ta th́ sao?

Mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông: Bức tranh mô tả tiến tŕnh tuần tự trong pháp tu Thiền từ mê đến ngộ. Nó được phát họa trong quá tŕnh một người chăn con trâu.

 “Trên một cội cây héo tàn, có một bông hoa đang nở.” Hoặc trong kinh Thánh, “Để cho anh chết, anh sẽ không c̣n tái sinh.”  Dĩ nhiên, sự tu tập của chúng ta là từ bỏ đi dần dần, từng bước, những thứ ǵ mà ta bị ràng buộc vào (cái Ngă).  Nếu chúng ta c̣n bị trói buộc vào bất cứ đâu, nghĩa là chúng ta (cái Ngă) chưa chết.  Ví dụ như chúng ta c̣n vướng mắc với gia đ́nh của ḿnh.  Buông xả chấp thủ với người thân không có nghĩa là chúng ta không c̣n thương yêu họ nữa.  Chẳng hạn như là: vợ, chồng, người yêu — đó là lệ thuộc.  Càng tu tập lâu dài, sự lệ thuộc sẽ dần dần giăm thiểu.  T́nh thương th́ tăng thêm và lệ thuộc th́ giảm đi.  Chúng ta không thể yêu thương cái chúng ta lệ thuộc vào.  Nếu chúng ta lệ thuộc vào sự chấp nhận của ngoại vật (con người và sự kiện) th́ chúng ta không thể từ bỏ được.  Nếu chúng ta lệ thuộc vào quyền lực, vào địa vị, không thể chấp nhận được khi làm công việc của một người đày tớ, th́ chúng ta chưa từ bỏ được.  Chúng ta chưa buông xả đúng tinh thần của giáo pháp.  Tôi chỉ nhận biết về sự vướng mắc và tôi xả ly chưa đến mức.  Nhưng khi nói, có sự buông xả nghĩa là không có sự chấp thủ vào  khách trần ở đó (nên hiểu là, buông xả là buông xả sự vướng mắc chứ không phải buông xả khách trần).  Theo ư nghĩa này: Giác ngộ thật sự th́ không c̣n là con người nữa rồi — và tôi không biết có người như vậy.  Tôi đă quen biết nhiều người xuất sắc, phi thường nhưng không có người nào như thế cả.  Vậy hăy măn nguyện với hiện trạng của chúng ta và nổ lực từ đây.  Đối với chúng ta ở thời điểm và không gian này là hoàn hảo nhất. 

Khi chúng ta chấp chặc ít chừng nào, chúng ta lại có nhiều hơn trong đời sống của ḿnh, đây là lời nguyền của đức phật A Di Đà.  Cho đến khi sự tu tập của chúng ta chín mùi, chúng ta lại có nhiều hơn nữa, và chúng ta có thể giúp đỡ được nhiều người hơn; đó là cái tinh thần của Thiền.  Tọa thiền là phương cách, vậy hăy tận lực tu tập.  Tôi chỉ có thể là, tôi ở lúc này và nơi đây; tôi có thể kinh nghiệm trạng thái đó và làm việc với nó (trạng thái hiện tại).  Có thế thôi.  Những thứ c̣n lại khác chỉ là viễn ảnh không thật của tự ngă.

Cái giá cho sự Tu tập

Khi chúng ta gặp những khó khăn, bất toại nguyện trong đời sống, chúng ta cố gắng trốn chạy những vấn đề đó bằng nhiều phương pháp, cơ chế thật vi tế khác nhau.  Trong lúc cố gắng thử như thế, chúng ta đối diện với cuộc sống của ḿnh mà trong đó bao gồm một cái “Ta” và một nhóm khác “đời sống ngoài Ta”.  Bao giờ chúng ta c̣n nhận diện cuộc đời qua cái nhân sinh quan như thế, chúng ta sẽ vặn méo tất cả mọi phấn đấu của chúng ta, bằng cách thức là đi t́m một thứ ǵ đó hay là một người nào đó để xử lư cuộc đời của ta thay cho ta.  Chúng ta có thể t́m người ḿnh thương, vị thầy, vị linh hướng, một trung tâm — một người, sự kiện, một nơi chốn, để cáng đáng những khó khăn cuộc đời của ta dùm cho ta.  Chừng nào chúng ta c̣n thấy cuộc sống này qua lăng kính tương đối nhị nguyên; chúng ta đă luôn bị gạt gẫm chính ḿnh và tin tưởng từ bấy lâu nay rằng, chúng ta không cần phải trả cái giá nào cả mà vẫn có thể nhận ra thực chất của đời sống.  Tất cả chúng ta đều chia sẽ nhau sự hiểu biết sai lầm này ở một chừng mực khác nhau; và để nó dẫn dắt chúng ta vào những ngỏ cụt, tăm tối của cuộc đời. 

Trong khi sự tu tập của chúng ta tiến dần, th́ cũng chính là lúc những ảo tưởng đang bị tấn công.  Từ từ chúng ta bắt đầu cảm nhận (khủng khiếp!) được rằng, chúng ta phải trả một cái giá cho sự giải thoát; mà bản thân ta phải trả cái giá đó, không ai có thể thay thế.  Khi tôi nhận biết được sự thật đó, quả đă làm cơn sửng sốt lớn trong đời tôi.  Cuối cùng tôi hiểu rằng, sớm hay muộn rồi tôi cũng phải trả cái giá cho sự hiểu biết này; không ai có thể thay thế cho tôi.  Chừng nào chúng ta c̣n chưa hiểu rơ sự thật này, th́ chúng ta vẫn c̣n tŕ trệ trong việc tu tập.  Dù cho sau khi chúng ta đă nhận rơ sự thật này, những trở ngại cũng vẫn c̣n xảy ra nhưng đă bớt đi nhiều.  Rất là khó mà duy tŕ sự hiểu biết ở mức cao độ trong mọi lúc. 

Có cách nào mà chúng ta không cần phải trả cái giá này không?  Cách duy nhất là liên tục chịu sự khổ đau một cách miễn cưỡng; và măi tự dối ḿnh rằng, chúng ta có thể tránh né, hay xem như nó không hiện hữu, hoặc mong cho nó tự biến mất, hay hy vọng một người nào khác sẽ mang nó ra khỏi cuộc đời cho chúng ta.  Chúng ta nghĩ rằng, chúng ta có quyền không hứng chịu nỗi đau đớn của đời ḿnh.  Chúng ta hy vọng một cách tha thiết và sắp xếp cho người khác — chồng hay vợ, người t́nh, con cái — gánh chịu nổi đau đớn của chúng ta thay ta.  Sự ỷ lại như thế làm suy yếu sự tu tập của ta: “Tôi sẽ không ngồi buổi sáng nay; tôi không cảm thấy hứng thú.” “Tôi sẽ không nhập thất; tôi không thích thấy những thứ nổi dậy ấy.” “Tôi sẽ không ngậm miệng khi tôi nổi giận — tại sao tôi phải làm thế?”  Chúng ta nghi ngờ và khó ǵn giữ niềm tin chân thật của chính ḿnh mỗi khi có khổ đau trắc trở.  Chúng ta sẽ bỏ cuộc những mối quan hệ không c̣n giá trị giúp cho chúng ta đạt đến mục đích của ḿnh.   Tiềm ẩn bên dưới tất cả sự lẫn tránh này là, niềm tin những người khác sẽ thỏa măn chúng ta; thu dọn những rối ren, rác rưới mà chúng ta đă tạo ra.

Sự thật không ai có thể kinh nghiệm đời sống của ta thay ta; hay cảm giác được những niềm đau không thể tránh trong đời sống của ta thay cho ta.  Cái giá mà chúng ta phải trả để trưởng thành th́ luôn ngay trước mắt; chừng nào chúng ta nhận biết được rằng, chúng ta bắt buộc phải trả cái giá (chịu đựng khổ đau dù không muốn), th́ chúng ta mới có sự tu tập đúng đắn (để thoát khổ đau).  Thật buồn cười là, khi ta lẫn trốn cũng chính là lúc ta tách rời ḿnh khỏi những ǵ kỳ diệu nhất của đời sống và cũng tách xa bản chất thật của ḿnh.  Ta luôn mong mơi người khác sẽ xoa dịu bớt những cơn đau cho ḿnh.  Thay v́, ta tập trung tâm ư giải quyết vấn đề của ḿnh, th́ ngược lại, ta lại hao tốn thời gian t́m mọi phương cách điều khiển người khác, giữ họ với ḿnh, thậm chí lừa gạt họ để họ chăm sóc niềm đau khổ cho ta.  Nhưng đáng tiếc, trên thế gian vốn không có ǵ miễn phí, tặng không; mọi thứ đều phải có cái giá của nó.  Nếu ta muốn thoát ly Khổ, th́ ta phải đạt được trạng thái đó qua tiến tŕnh tu tập vững trăi không gián đoạn. 

Ta phải đạt được trạng thái an ổn của từng sát na trong đời sống, chứ không chỉ trong lănh vực tâm linh thôi.  Làm thế nào ta tṛn bổn phận với mọi người, làm thế nào ta giúp đỡ người, bất cứ ra sao ta luôn có sự chú tâm (Tỉnh giác) trong từng giây phút trong đời sống — khi ta sống như thế nghĩa là ta đang trả cho cái giá cho sự giải thoát. 

Tôi không phải đang gầy dựng lên một ư thức hệ mới cho “Tôi nên như thế nào.”  Tôi muốn nói là, ta chỉ có thể đạt được tính chân thật và cuộc sống hoàn thiện bằng mỗi hành động, mỗi lời nói của ḿnh.  Từ quan điểm thế gian, cái giá mà ta phải trả thật là to tác  — thế nhưng nh́n lại th́ nó không là ǵ cả, chỉ là cái đặc quyền.  Trong tiến tŕnh tu tập cao hơn, ta sẽ thấu hiểu cái đặc quyền này nhiều hơn.

Trong quá tŕnh, ta khám phá ra rằng, nổi đau của ta và của người khác vốn không khác biệt (nếu không nói là một).  Sự tu tập của ta và của họ cũng không riêng biệt, bởi v́ khi ta thật sự rộng mở đời ḿnh, là ta mở rộng cửa đối với mọi đời người (tất cả).  Sự cách biệt do ảo tưởng (mê mờ) đă thu nhỏ đời sống ta; nay trong sự tu tập chú tâm, ta nhận thức được điều đó nên khắc phục ảo tưởng, mở rộng đời sống ḿnh tới mọi người.  Ngày nào, ta c̣n chấp chặt vào sự phân biệt — quan niệm của tôi, quan niệm của bạn, cái tôi muốn, cái bạn muốn — th́ ta c̣n bị trói buộc (chưa trả cái giá), là c̣n phải khổ.  Trả cái giá nghĩa là, ta cho ra những ǵ — thời gian, tiền tài, vật chất — mà đời sống cần phải có (đừng lầm lẫn với thỏa măn đời sống bằng cách cung cấp cho cuộc đời ta những ǵ ta muốn có); đôi khi không cho những thứ này lại là giải pháp tốt nhất nữa.  Tinh tấn tu tập sẽ cho ta cái nh́n trong sáng về cái ǵ đời sống cần ta cho ra và cái ǵ bản thân ta muốn cho — đây vốn không phải là việc dễ dàng.  Sự tu tập cam go là cái giá ta cần phải trả nếu ta muốn đạt đến giải thoát khổ đau. 

Ta không thể giới hạn sự tu tập của ḿnh vơn vẹn trong thời gian tọa thiền, đúng là thời gian trong khi tọa thiền th́ rất ư quan trọng.  Nhưng tu tập phải là tiến tŕnh của mọi thời, hai-mươi-bốn giờ trong một ngày (cái giá đầy đủ không thể bớt).

Khi sự phấn đấu tăng trưởng theo thời gian, ta sẽ thấy rơ giá trị của chân lư cuộc đời.  Nhưng nếu ta vẫn c̣n lặn ngụp, quan trọng hóa mọi vấn đề, đời sống, xung đột, hoặc vẫn phung phí thời gian để giải quyết những vấn đề tương đối, th́ tia sáng cuối đường hầm sẽ không bao giờ có thể thấy được. 

Dù không thấy được nhưng trí tuệ giải thoát luôn hiện hữu — ta không thể nào thấy cho đến khi trả đủ giá (tu tập đủ).  Trí tuệ giải thoát là thứ mà đời sống ta cần, vấn đề là bạn có chịu trả giá để được nó hay không thôi?

Phần thưởng cho sự Tu tập

Chúng ta lúc nào cũng cố gắng thay đổi đời ḿnh từ buồn khổ để tới vui tươi hạnh phúc. Hoặc nói khác đi, chúng ta ước mong có một kiếp sống sung sướng, thay v́ đời sống đầy vất vă bôn ba đang có.  Nhưng hai lănh vực này lại không giống nhau: buồn khổ tới hạnh phúc th́ không giống với bôn ba vất vả đến sung sướng.  Vài phương pháp trị liệu t́m cách chuyển đổi ta từ một con người buồn bả thành một con người vui vẻ.  Nhưng Thiền (và có lẽ vài kỷ luật hoặc pháp trị liệu) có thể giúp ta từ một người không vui thành một người không c̣n phiền năo.

Có một cái “Ta” nghĩa là chúng ta là người vị kỷ.  Trạng thái vị kỷ — cho nên có những thứ khác ngoài ta — chúng ta lúc nào cũng bất an và lo lắng về bản thân.  Ta nổi giận nhanh chóng khi hoàn cảnh không như ư; ta dễ dàng bị dao động. Là con người vị kỷ, chúng ta thường hay bị lầm lẫn.  Đây là cách mà mọi người từng có kinh nghiệm trong đời ḿnh.

Mặc dù chúng ta không quen với trạng thái trái ngược của Tự ngă (tức là Vô ngă), hăy thử cố gắng h́nh dung thế nào là đời sống vô ngă.  Vô ngă không có nghĩa là hoàn toàn biến mất khỏi hành tinh này hay là không hiện hữu.  Nó cũng không phải là vị kỷ, mà cũng không không-vị-kỷ, mà chỉ là một thể.  Đời sống vô ngă không trụ vào bất cứ một cái ǵ, mà là “trụ mà không trụ” vào tất cả — nghĩa là hiện hữu mà không vướng mắc — cho nên không có chỗ cho một cái Ngă tồn tại.  Ta không bất an, không lo phiền, không nổi giận dễ dàng, không dao động dễ dàng, và hơn tất cả, cuộc sống của ta không có thói quen của mê mờ (theo bản năng).  V́ thế, vô ngă th́ tự tại. Không những thế, vô ngă không có điều tương phản cho nên có lợi cho tất cả.

Cho phần lớn trong chúng ta, tu tập phải đi theo tŕnh tự, liên tục không ngừng để phân hủy cái tự ngă.  Mà bước đầu tiên vẫn là đi từ không vui cho đến vui (niềm vui thế tục hay nhị biên).  Tại sao? Bởi v́ không thể nào có một con người không vui — một người luôn luôn bị xáo trộn bởi bản thân, người ngoài, hoàn cảnh (không có an lạc) — mà có thể có cuộc sống vô ngă.  Do đó, trước tiên sự tu tập giúp cho ta từ không vui đi đến vui; những năm đầu trong tọa thiền là cho giai đoạn này.  Cho vài người, trị liệu tâm lư có thể mang lại lợi ích ở điểm này.  Nhưng mỗi người mỗi khác, cho nên không có một công thức chung cho mọi người.  Tuy thế, chúng ta không thể (không nên) bỏ qua giai đoạn này.

Tại sao tôi gọi là niềm vui tương đối (nhị nguyên)?  Không cần biết ta cảm nhận cuộc đời ta vui sướng mức độ nào, nó vẫn đặt trên cái tự ngă, th́ niềm vui đó không bền vững và đó không phải là giải p