|

| |
|
1-Dừng lại, nh́n và làm chủ cái giận
- Erasto Fernandez - |
|
2 - Phương pháp đưa đến sự hài ḥa xă hội
- Venerable Pyinnyathiha - |
|
3 - Sống với pháp trong cuộc đời
- Venerable Ajahn Chah |
|
4 - Thiền là ǵ ?
Venerable Ajahn Sumedho |
|
5- Vũ trụ học Phật giáo
- Rev. Tri Ratna Priya Karuna |
| |
| |
 |
| |
|
.
|
DỪNG LẠI, NH̀N VÀ LÀM CHỦ CÁI GIẬN
Erasto Fernandez -Truyền việt |
|
 |
|
 |
Nổi nóng lúc bị khiêu khích, Terrence đă bào chữa như sau :" Tôi
không thể làm khác được. Tôi là một người rất nóng tánh, và tôi nghĩ
rằng tôi sẽ luôn như thế." Đây là một trong những câu thông thường
mà chúng ta hằng nghe, nơi những người tin rằng họ là những kẻ kém may
mắn luôn chịu những phiền toái của cuộc đời trong khi đó những người
khác th́ hẳn là sung sướng hơn và không có khuyết điểm nầy.
Trong quyển sách bán chạy nhất "Bảy thói quen" , Stephen
Covey kết luận cho chúng ta thấy rằng con người không bao giờ là nạn
nhân của thuyết quyết định di truyền ( truyền từ đời nầy sang đời khác)
hoặc thuyết quyết định tâm lư (cha mẹ làm cho ḿnh như thế) hoặc thuyết
quyết định môi trường chung quanh (những người chung quanh làm cho ḿnh
như thế). Những lư thuyết nầy tin rằng có một sự liên hệ tự động giữa sự
kích thích và sự phản ứng, được định trước và đến từ phía bên ngoài.
Một chút suy nghĩ chính chắn cho thấy rằng có một khoảng
cách hệ trọng giữa sự kích thích và sự phản ứng - khoảng trống nầy là
điểm mà chúng ta có thể thực tập và được coi như là một vốn liếng của
con người : Tự do nhân quyền, khả năng chọn lựa phản ứng của chúng ta.
Nếu có một liên kết tự động giữa 2 điều nầy trong
cuộc sống của chúng ta, là v́ chúng ta chọn lựa để được tự bảo tồn. Và
nếu chúng ta có thể liên kết được chúng, th́ chúng ta cũng đương nhiên
có khả năng cắt đứt chúng.
Theo kinh nghiệm trong trại tập trung Đức, Viktor Frank,
trong quyển sách ''T́m hiểu ư nghĩa của con người'", đă phổ biến khái
niệm sự tự do gọi là "freedom" khác với sự tự do gọi "liberty". Sự tự do
"liberty" chỉ định sự hiện diện của nhiều thứ mà nơi đó tôi có thể lựa
chọn. Tự do thật sự "freedom" thể hiện một sức mạnh bên trong để thực
hành những lựa chọn của ḿnh -
phản ứng hay không phản ứng - và không chỉ đơn
thuần bằng phản ứng cách nầy hay cách khác.
Một khi chúng ta thấy rơ sự khác biệt của những
điều nầy, cảm nhận được sức mạnh của nội tâm, th́ ta sẽ có cơ hội để sửa
đổi, cho dù đó là những thói quen xấu lâu đời.
Chúa Jesus cũng có nói, " Muốn người ta đối với ḿnh như
thế nào th́ nên đối xử với người chung quanh như thế đó". Nếu ta gieo
toàn những hạt giống tốt th́ quả tốt sẽ không thiếu. Nếu luôn có những
quả tốt th́ những thế hệ tiếp nối sẽ luôn được sống trong sự tốt lành.
Trong quyển "Từng bước an lạc", Thầy Nhất Hạnh có kể câu
chuyện của một cậu bé 11 tuổi, cậu rất giận cha của cậu. Mỗi lần cậu bé
chạy chơi té ngă, th́ cha cậu lại la mắng cậu. Cậu bé tự hứa rằng sau
nầy cậu lớn lên, cậu sẽ không bao giờ phản ứng như cha của ḿnh. Nhưng
vài năm sau, ngày nọ, em gái của cậu té xích đu và bị thương tích. Lúc
đó, cậu bé tự dưng cảm thấy rất là tức giận. Cậu muốn chạy lại la em của
ḿnh; nhưng ngay khi đó, cậu dừng lại được, v́ lúc ấy cậu đă biết tập
quán chiếu và tập hít thở, cậu đă kịp nhận ra cơn giận dữ và đă ngừng
lại kịp thời.
Trong khi mọi người chạy lại lo lắng cho em cậu, th́ cậu
tránh thật xa và bắt đầu hít thở để hóa giải cơn giận của ḿnh. Th́nh
ĺnh cậu bé nhận ra rằng ḿnh đă phản ứng y hệt cha của ḿnh. Cậu bé nói
với Thầy Nhất Hạnh sau đó, " Lúc đó, con biết nếu con không làm ǵ để
đối trị cơn giận trong ḷng, th́ sau nầy con sẽ trao truyền lại cái giận
đó cho con của con."
Và cậu bé cũng nhận ra rằng cha của cậu cũng thế, cũng là nạn nhân của
cơn giận được trao truyền lại. Và khi mà cậu tiếp tục tập quán chiếu,
th́ cơn giận của cậu cũng được hoán chuyển và mất hẳn theo thời gian
thực tập.
Mỗi người chúng ta đều có sức mạnh để trở thành bất cứ
hạng người nào mà ta muốn - chỉ khi nào ta nhận diện được sự tự do nội
tại mà ta đang sở hữu, và biết sử dụng nó một cách thích nghi.
Bước đầu tiên : Hăy chú ư đến những ǵ đang xảy ra chung quanh ta, chẳng
hạn, thấy ḿnh đang phản ứng một cách thái quá. Quan trọng là ngay trong
lúc nầy, phải biết dừng lại, dừng lại trước khi có những phản ứng không
hay. Trong khoảng cách giữa thấy nghe và phản ứng, ta hăy tập trung để
nắm lấy cái khoảng cách đó mà tự hỏi rằng, " Có cần thiết là ta phải
phản ứng ngược lại không ? Có cách nào khác để mà phản ứng hay không ?"
|
PHƯƠNG PHÁP ĐƯA ĐẾN SỰ HÀI HOÀ XĂ HỘI
Venerable Pyinnyathiha - Truyền việt |
|
 |
|
 |
I. Trách Nhiệm Trong Gia Đ́nh
Trong đời sống của mỗi chúng ta, mọi người đều có những
bổn phận cần được hoàn thành. Nếu chúng ta không lơ là, chểnh mảng th́
không có ǵ nguy hiểm; nếu không th́ sẽ có những chuyện đáng tiếc xảy ra
không thể nào tránh khỏi như : lơ là nhiệm vụ, oán ghét, ấu đả, và xung
đột .
Để tăng trưởng ḷng tử tế, sự cảm thông, ḷng từ và sự
ḥa hợp giữa con người, để có thể sống hạnh phúc, Đức Phật đă đề ra
những trách nhiệm về mặt xă hội cho mọi người nương theo.
Đức Phật xuất hiện ở Ấn Độ và giáo pháp của Ngài đă tồn
tại khoảng 2,532 năm. Vài người nói, "Có quá nhiều thay đổi trong thời
gian dài đó, và phong tục được thực hành cũng thay đổi theo từng địa
phương. V́ vậy vài điều trong giáo pháp của Đức Phật có vẻ lỗi thời và
không thể nào thực tập được."
Đức Phật không bao giờ có ư kềm hăm con người, và chưa
bao giờ Ngài bắt mọi người phải tuân theo lời Ngài mà chưa có sự thể
nghiệm hay kiểm chứng. Ngài khuyến khích mọi người hăy đặt câu hỏi về
những giáo lư, trong kinh 'Kalama', Đức Phật nói, "Đừng tin vào những ǵ
mà ḿnh chỉ nghe nói lại, hay v́ đó là tập quán lâu đời, hoặc là nghe
rao truyền, hoặc thấy trong kinh điển, hoặc v́ đó là bài luận giải rất
hay; hăy tự ḿnh suy nghĩ những ǵ ḿnh nghe được, biết được đây là
những điều xấu, có hại, bị chê trách bởi những bậc hiền triết; đây là
những điều gây đau khổ cho người, th́ lập tức chúng ta từ bỏ chúng. Khi
mà chúng ta biết, đây là những điều có lợi ích, đem đến hạnh phúc th́
hăy thi hành và thực tập."
Đức Phật không đề ra những luật lệ nếu chúng không đem lại lợi ích cho
con người. V́ thế, để xóa tan nghi ngờ, bạn đọc nên thử hoàn chỉnh những
trách nhiệm liên quan đến xă hội để biết được như thế nào mà ta có thể
làm lợi ích cho những người thân yêu và những người chung quanh ḿnh.
Trách nhiệm của bậc cha mẹ
Đức Phật tŕnh bày về nhiệm vụ của cha mẹ đối với con cái
như sau; cha mẹ phải khuyên răn con tránh điều ác, khuyến khích con làm
việc lành, cho con học chữ hoặc nghề, lo việc hôn nhân cho con và để gia
tài lại cho con đúng thời, đúng lúc.
Cha mẹ là những người thầy quan trọng đầu tiên cho con
cái. Khi c̣n nhỏ, con cái sống với cha mẹ và học hỏi nhiều điều nơi cha
mẹ và kế đó chúng mới thu thập kiến thức nơi thầy cô giáo.
Khi c̣n nhỏ dại, sự hiểu biết của chúng chưa trưởng thành.
Tâm trí chúng của chúng thường do dự giữa tốt và xấu, và thường dễ
nghiêng về những thói quen xấu. Tâm trí của chúng giống như đất sét hay
sáp vậy, dễ bị uốn nắn. Và như vậy, muốn được những h́nh tượng đẹp th́
phải nhờ vào 'tay nghề' của thợ đúc tượng. Cũng như vậy, bước đầu huấn
luyện con cái rất quan trọng và nương dựa rất nhiều về việc dạy dỗ của
cha mẹ.
Trong lúc nầy, cha mẹ hiểu biết sẽ dùng mọi cách thích
hợp để răn dạy con cái về những bài học đạo đức cũng như những hiểu biết
căn bản. Cha mẹ c̣n phải quan tâm con cái bằng cách đừng cho con giao du
với những thành phần bất hảo để tránh cho con cái ḿnh những ảnh hưởng
xấu, có hại.
Những đứa con được nuôi nấng, dạy dỗ tử tế, sẽ là những
công dân tốt trong xă hội. V́ vậy cha mẹ cần phải cố gắng sao cho con
cái ḿnh nhận được sự dạy dỗ tốt. Có những cha mẹ hiểu biết, dù phận
nghèo, vẫn cố gắng hy sinh, cho con ăn học thành tài. Có những bậc cha
mẹ làm ăn phi pháp để có tiền lo cho gia đ́nh, nuôi con, nhưng không để
con ḿnh tham dự vào việc làm phi pháp của ḿnh. Có bậc cha mẹ, rất tệ,
dùng con cái vào việc làm ăn phi pháp của ḿnh. Họ không lo lắng cho
con, lại c̣n hành hạ và lạm dụng chúng thay v́ phải thương yêu chúng.
Những đứa trẻ bị hành hạ bởi cha mẹ; lúc lớn lên và hiểu biết chúng rất
oán ghét cha mẹ chúng. Đôi lúc chúng tự làm khổ chúng chỉ v́ oán ghét sự
ác độc nơi cha mẹ. V́ thế, cha mẹ cần phải tránh những hành động tàn ác
và làm gương xấu cho con.
Cha mẹ có thể nghĩ rằng những hành động tốt sẽ tự động
phát triển khi mà những điều xấu dở bị cấm đoán. Nhưng họ cũng nên biết
rằng con cái họ hay do dự khi phải làm những điều tốt.
Thí dụ, có những đứa con tự nó không phải dở, nhưng chúng
không thích học hành. Trong trường hợp nầy, cha mẹ cần phải thuyết phục
chúng gắng lo học. Cha mẹ nên hết ḷng giúp đỡ chúng bằng cách t́m hiểu
những yếu điểm của chúng về thân cũng như tâm.
Nếu cha mẹ v́ quá thương yêu con cái, để cho con cái ḿnh
tự do, muốn làm ǵ th́ làm, mà không một lời răn dạy th́ đây không phải
là bậc cha mẹ tốt.
Một câu ngạn ngữ Anh nói, "Dẹp cái roi, làm con hư ".
Thêm vào đó, con cái có thể trở thành thù địch của cha mẹ. Khi mà chúng
không thể kiếm đủ tiền bằng phương tiện chân chánh, v́ thiếu hiểu biết,
chúng đi theo những kẻ xấu và kiếm tiền một cách phi pháp, hoặc giả
chúng có thể phung phí tiền bạc cha mẹ làm ra, hoặc đánh cắp tiền của
trong nhà. Trong trường hợp nầy, điều phiền muộn do con cái gây ra có
thể kéo theo những phiền toái khác. Để tránh gặp phải trường hợp nầy,
cha mẹ cần phải hiểu rơ trách nhiệm của ḿnh đối với con cái.
Cha mẹ cũng đừng quên giảng dạy cho con những hiểu biết
về tôn giáo, v́ mọi tôn giáo trực tiếp hay gián tiếp đều dũa mài và làm
giàu thêm cho con người về mặt đạo đức, hạnh kiểm, tánh t́nh, v...v...
Hấp thụ giáo lư tôn giáo đối với giới trẻ thật là khó.
Cha mẹ nên truyền lại cho con cái gia tài tôn giáo mà họ đang có. Muốn
được như vậy, cha mẹ phải là người ngoan đạo sáng suốt, ham học hỏi giáo
lư, và biết chọn cho ḿnh một tôn giáo thích hợp để mà thực tập. Ngược
lại, cha mẹ sẽ khó mà giải thích tại sao ḿnh theo tôn giáo đó, v́ sao
họ lại thực tập giáo lư đó, và giáo lư đó đă đem lại lợi ích ǵ cho cuộc
sống hiện tại của họ, v...v... và để noi gương cha mẹ, con cái miễn
cưỡng thực hành theo.
Sau đây là một thí dụ cho trường hợp nầy.
Thời Đức Phật c̣n tại thế, có một ông trưởng gỉa rất
thành tâm, tên là Anathapindika. Con trai ông, Kala, th́ không có thích
viếng Phật và nghe pháp. Kala không bao giờ nghe lời cha để đi nghe Phật
thuyết pháp. Ông trưởng giả mới nghĩ rằng, "Nếu con ḿnh không biết tu
tập, th́ tương lai nó sẽ phải đi những đường xấu. Hiện nay, không một ai
mà không bị ảnh hưởng bởi tiền bạc; vậy ta sẽ thuyết phục nó bằng cách
nầy vậy." Nói rồi, ông gọi con trai đến và nói rằng, " Nầy con thân yêu,
hăy đến thiền viện, thọ giới và nghe pháp trong một buổi. Khi về, cha sẽ
cho con một trăm đồng tiền vàng."
Kala bằng ḷng và đi đến thiền viện. Nhưng chàng đâu muốn
nghe pháp, nên t́m một chỗ để ngủ và trở về nhà rất sớm. Ông trưởng giả
rất vui ḷng và bảo người ở dọn bàn cho Kala ăn . Kala bảo phải đưa tiền
thưởng trước xong chàng mới ăn, v́ sợ cha cho ăn rồi không đưa tiền.
Ngày hôm sau, ông trưởng giả lại nói với con ḿnh rằng, "
Con thương, cha sẽ cho con một ngàn đồng tiền vàng nếu con đến viếng
Phật và hiểu được một bài kệ. " Như đă giao ước, Kala đến thiền viện và
ngồi trước mặt Phật.
Chàng chỉ cần hiểu được một câu kinh là sẽ rời thiền viện tức khắc. Đức
Phật bèn làm cho chàng hiểu sai nghĩa. Kala bèn nghĩ, " Ta sẽ ráng nhớ
câu kế tiếp vậy." Thế rồi, chàng ngồi lại và cuối cùng th́ nghe trọn vẹn
bài pháp, và như vậy Kala đă bước vào ngưỡng cửa đầu tiên của giải thoát
với sự thấu hiểu sâu sắc.
Ngày kế tiếp, chàng theo phái đoàn tăng sĩ, dẫn đầu là
Đức Phật đến nhà của ḿnh. Khi thấy Kala cùng Phật và các tăng sĩ đến,
ông trưởng giả nh́n con tự nói, "bữa nay thái độ của con ta thật làm ta
vui quá.", và ngay khi đó, Kala nghĩ, " Mong rằng cha ta sẽ không đưa
tiền thưởng cho ta trước mặt Đức Phật. Mong rằng cha ta sẽ giấu chuyện
ta đi nghe pháp v́ tiền thưởng. " Ông trưởng giả mời Phật cùng các tăng
sĩ thọ trai. Kala cũng ngồi xuống dùng bữa. Khi Đức Phật thọ trai xong,
ông trưởng giả đặt lên bàn một túi đựng một ngàn đồng tiền vàng trước
mặt con trai và nói, "Con thương, con đă học và hiểu được bài kệ, như đă
hứa, đây là tiền thưởng của con." Kala rất là mắc cỡ và nói, "Con không
cần tiền đâu ", và nhất định từ chối đụng vào tiền đó.
Ông trưởng giả bèn hỏi Phật về thái độ của con ḿnh. Đức
Phật đáp, " Con ông đang bước vào ngưỡng cửa giải thoát, v́ thế hắn
không muốn lấy tiền của ông đâu. " Mặc dầu ông trưởng giả biết là con
ḿnh có thay đổi, nhưng ông muốn Phật xác định điều đó. (Dha, v 178).
Cha mẹ không cần phải ép buộc con cái theo đạo. Chỉ cần
nói về đạo và rồi đưa sách cho chúng đọc trong những giờ rảnh rỗi. Chỉ
cần như vậy là cha mẹ có thể khiến chúng thích t́m hiểu về tôn giáo.
Khi con cái học kém và không thể học lên cao, th́ cha mẹ
cần phải cho con một số vốn làm ăn hoặc cho con đi học nghề để có thể tự
kiếm sống. Khi mà con cái có một nghề chuyên môn th́ chúng sinh sống nơi
nào cũng không lo. Tiền của có thể bị mất khi gặp hỏa hoạn, lụt lội,
trộm cướp, kẻ thù, hay chính quyền thối nát, hoặc v́ con cái ngu si
không biết ǵn giữ. V́ vậy tốt nhất là dạy cho chúng một nghề, hoặc nhờ
vào học vấn mà có thể tự kiếm sống.
Ngày xưa, cha mẹ quyết định sự hôn nhân cho con cái, và
người con chỉ vâng lời tuân theo. Ngày nay, tập tục nầy đang dần biến
mất. Con cái muốn được tự do lựa chọn người phối ngẫu, và cha mẹ không
can dự vào quyết định nầy.
Thật ra, cha mẹ có nhiều kinh nghiệm trong đời sống hôn
nhân. V́ thế, họ muốn chọn một người thích hợp cho con họ để con họ sau
nầy tránh được những phiền muộn trong hôn nhân, và họ muốn cho con ư
kiến của ḿnh.
Vài cặp vợ chồng nghĩ là không phải phận sự của họ săn
sóc cha mẹ chồng, hay cha mẹ vợ, bởi v́ họ dọn ra ở riêng sau khi thành
hôn. Nhưng dù cho họ có ở với cha mẹ chồng / vợ hay không, nếu họ không
quên bổn phận của họ đối với cha mẹ, th́ ḷng tử tế cũng thấm nhuần nơi
gia đ́nh và như vậy họ có thể sống chung một cách hạnh phúc.
Cha mẹ chồng / vợ cũng có thể giúp đỡ con dâu hay con rễ tùy theo khả
năng của ḿnh. Khi một cặp vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng / vợ, họ
chỉ cần kính trọng cha mẹ, đừng ganh tỵ, th́ sẽ không có chuyện ǵ . Nếu
không, th́ sự bực bội, chán ghét và đối đầu là điều sẽ không tránh khỏi.
Bổn phận của con cái
Con cái khi làm ra tiền, phải nên phụng dưỡng cha mẹ;
phải giữ ǵn truyền thống của ḍng họ, phải hết ḷng kính trọng cha mẹ
và khi cha mẹ qua đời, con cái phải bố thí và hồi hướng công đức cho cha
mẹ.
T́nh thương của bậc cha mẹ tốt, thật là vô bờ bến, họ lo
lắng cho con cái với t́nh âu yếm và lo cho con ăn học thành tài. V́ thế,
cha mẹ xứng đáng được con cái kính trọng, nhớ ơn, vâng lời và chăm sóc
lúc họ già yếu.
Từ khi mang thai đến lúc cho ra đời một đứa trẻ, cha mẹ
vui vẻ săn sóc, làm lụng cực nhọc để nuôi con, và hy sinh tất cả v́ con.
Cha mẹ không bao giờ phàn nàn về việc chăm sóc con ḿnh lúc con c̣n nhỏ
dại. Lúc nào cũng cố gắng lo cho con ḿnh đầy đủ về mặt tinh thần cũng
như vật chất. Cha mẹ luôn sẵn sàng hy sinh thân mạng, tiền của, sức khỏe
của ḿnh v́ con. T́nh thương và ḷng hy sinh của cha mẹ thật không kể
xiết, và khó có thể được đền bù xứng đáng.
Trong thời gian Đức Phật c̣n tại thế, có một vị vua ở Ấn
Độ tên là 'Ajatasattu', có nghĩa là "kẻ thù của cha trước khi được sanh
ra", bởi v́ khi mẹ của ông đang mang thai ông, bà thèm được uống máu của
chồng, tức là cha của ông. Và cha của ông liền lấy dao đâm xuyên qua
cánh tay ḿnh để lấy máu đưa cho vợ uống. Một nhà tiên tri trong hoàng
cung mới nói rằng, "Đưá nhỏ sau nầy sẽ giết cha của nó ". Khi nghe như
thế, người mẹ có ư định hủy cái bào thai, nhưng chồng bà ngăn lại và
nhất định không cho bà thực hiện ư định dù biết rằng mạng sống của ông
sẽ bị đe dọa.
Khi Ajatasattu lớn lên, lại hiệp lực với Devadatta, một
tăng sĩ có ác tâm. Nghe lời Devadatta xúi dục, Ajatasutta giết cha để
chiếm lấy ngôi hoàng đế.
Ajatasutta ra lệnh cho bắt vua cha giam lại,và bỏ đói vua cha cho đến
chết.
Cùng lúc, vợ của Ajatasutta vừa cho ra đời một đứa con. Khi Ajatasutta
nghe tin ḿnh có đứa con th́ t́nh thương con dào dạt dâng lên trong ḷng
và Vua liền nghĩ đến vua cha đă chết. Vua nghĩ chắc cha ḿnh cũng thương
ḿnh như thế, và rồi Vua đi t́m mẹ để hỏi xem cha ḿnh có thương ḿnh
không.
Mẹ vua bảo rằng, " Cha con thương con lắm, cha biết rằng sau nầy con sẽ
giết cha, nhưng cha cấm không ai được làm hại con. Lúc nhỏ, con bị chín
mé ( y học - một mụt nhọt có mủ sưng lên ở ngón tay hay ngón chân ).
Ngày đó, con đau quá nên ngủ không được, và khóc cả đêm. Cha con mới ôm
con vào ḷng và ru cho con ngủ. Con đă đặt ngón tay sưng vào miệng cha
để cho bớt đau, và rồi con ngủ thiếp đi. Trong lúc đó, mụt nhọt bể, mủ
chảy ra, nhưng cha nuốt mủ vào bụng, không dám nhổ ra v́ sợ con bị đánh
thức."
Khi Ajatasutta nghe mẹ kể xong th́ ông rất hối hận về
việc ḿnh xử chết vua cha. Từ lúc đó, ông không bao giờ ngủ yên giấc v́
toàn gặp ác mộng...
( DA Samannaphala Sutta ).
Con cái khi c̣n nhỏ, ít khi nào hiểu được t́nh thương của
cha mẹ dành cho ḿnh. Nhưng khi chính những đứa con nầy lớn lên, có gia
đ́nh, có con, họ mới hiểu được thế nào là t́nh thương của bậc cha mẹ. Có
những người trẻ nghĩ một cách sai lầm, ḿnh được sanh ra v́ dục tính của
cha mẹ, và v́ vậy cha mẹ phải có bổn phận lo cho ḿnh : bởi thế, đâu cần
phải nhớ ơn cha mẹ.
Dù thế nào đi chăng nữa, chúng ta được sanh ra bởi luật
tự nhiên hay v́ dục tính của cha mẹ, th́ chúng ta cũng phải mang ơn hai
bậc sanh thành, v́ cha mẹ lo lắng cho chúng ta từ lúc sơ sinh cho đến
lúc trưởng thành. Nhớ ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, con cái phải
giúp đỡ cha mẹ trong công việc nhà, và lo lắng cho cha mẹ khi cha mẹ
bệnh hoạn.
Dù không giúp đỡ được cha mẹ bằng vật chất, con cái vẫn
có thể lo cho cha mẹ về mặt tâm linh, hoặc là vâng lời, hiếu kính với
cha mẹ, để cho cha mẹ có thể sống vui, hạnh phúc trong những ngày c̣n
lại. Trong gia đ́nh mà được như vậy, th́ hạnh phúc, an lạc, hài ḥa sẽ
hiện diện.
Để tránh những xung đột và phiền toái trong gia đ́nh,
những cặp vợ chồng thích sống riêng, và để cha mẹ sống riêng một nơi
khác. Điều nầy dường như là rất tốt cho cả đôi bên. Khi cha mẹ c̣n sức
khỏe và có thể tự lo th́ không thành vấn đề. Nhưng khi lớn tuổi hơn, th́
họ cần sự giúp đỡ của những người khác. Thật là tội nghiệp khi thấy
những người già ở một ḿnh, ít bạn, không thân nhân bên cạnh, phải đi
chợ một ḿnh. Cho dù những người già có tiền dành dụm để tự lo, họ vẫn
không thể nào nhận được sự thương yêu lo lắng do nhân viên xă hội mang
lại. V́ vậy, ít nhất phải có một đứa con, trai hoặc gái, dọn về ở chung
để săn sóc và an ủi cha mẹ già.
Con cái khi thành tài, thành danh nên giúp đỡ cha mẹ già.
Cha mẹ hy sinh, lo lắng, bảo bọc cho con từ lúc sơ sinh cho đến lúc
trưởng thành. Họ không mong ǵ hơn là con họ có chân đứng trong xă hội,
và họ rất hănh diện về điều nầy. Cha mẹ tốt không bao giờ mong đợi con
cái trả ơn, hoặc mong hưởng lợi từ tài danh của con ḿnh. V́ thế, con
cái không nên do dự, nên sẵn ḷng chăm sóc mẹ cha và lo lắng cho họ khi
ḿnh có đủ khả năng .
Một vấn đề thường xảy ra trong gia đ́nh đông con. Cha mẹ
có khuynh hướng thương đứa con trai hoặc đứa con gái nầy, v́ nó làm vừa
ḷng ḿnh hơn. Trong trường hợp nầy, những đứa con khác sẽ nghĩ rằng cha
mẹ thiên vị.
Mặc dù họ có thể không lo lắng cho cha mẹ, nhưng họ vẫn ganh tỵ và ghét
cha mẹ. Họ lơ là bổn phận làm con nhưng vẫn ganh ghét anh chị em nào
đang giúp đỡ cha mẹ.
Cha mẹ phải chia gia tài cho con cái đúng thời, đúng lúc.
Có những trường hợp sau khi chia gia tài xong, th́ con cái mạnh ai nấy
lo phần ḿnh, bỏ cha mẹ trơ trọi. V́ vậy, cha mẹ cần phải thận trọng
trong lúc nầy.
Trường hợp nầy đă xảy ra trong lúc Đức Phật c̣n tại thế,
có một ông trưởng giả giàu có bốn người con trai. Khi bốn người con trai
lấy vợ, ông chia cho mỗi đứa con bốn trăm ngàn đồng tiền vàng để làm
vốn. Sau đó ít lâu, vợ ông chết, bốn đứa con sợ rằng cha ḿnh sẽ lấy vợ
khác, th́ tài sản sẽ phải chia cho những anh em cùng cha khác mẹ. V́ vậy
họ bàn với nhau, phải nên chăm sóc lo lắng cho ông hết sức tốt đẹp, và
rồi th́ họ năn nỉ, khuyến dụ ông chia tất cả gia tài cho họ. Khi thấy
các con chăm sóc ḿnh chu đáo, ông trưởng giả đồng ư chia hết toàn bộ
gia tài, chỉ để lại cho ḿnh một bộ đồ.
Sau đó, th́ ông đến nhà người con lớn để ở, nhưng cũng
không bao lâu, người con nghe lời vợ, bảo ông đến nhà người em ở. Cứ thế
cho đến lúc ông không ở được với người con nào, ông đành lang thang đi
ăn xin sống qua ngày.
Tuổi già sức yếu, phải rày đây mai đó, ông mới t́m đến
Đức Phật xin giúp đỡ. Đức Phật dạy ông một bài vè đại khái như sau, "Tôi
rất vui mừng khi các con tôi ra đời. Tôi chỉ mong chúng thành công,
nhưng v́ nghe theo vợ, chúng đă đuổi tôi ra khỏi nhà như chó đuổi lợn.
Chúng gọi tôi - ' Cha thương yêu, cha thương yêu' nhưng chúng bỏ tôi khi
tôi già yếu. Như ngựa già yếu, vô dụng bị chủ bỏ rơi. Một người cha bị
con cái bỏ rơi, phải đi ăn xin từng nhà. Cây gậy dẫn đường vẫn có ích
hơn những đứa con bỏ rơi cha mẹ. Cây gậy có thể xua đuổi chó và trâu
rừng, giúp người già ḍ đường trong bóng đêm hay tránh những vũng nước.
Với cây gậy nầy, người yếu có thể giữ thăng bằng khi sắp té.'
Ông trưởng giả học thuộc và đi xin ăn bằng bài vè đó. Sau
đó ông đến pháp hội của Đức Phật và hát bài nầy, bao người nghe đều bất
măn và họ đ̣i phải trừng trị những đứa con bất hiếu nầy.
Thời bấy giờ luật xă hội sẽ tử h́nh những người con không
chăm sóc cha mẹ. V́ thế, những đứa con của ông trưởng già quỳ xuống xin
cha tha tội cho chúng. Và họ đem cha già về phụng dưỡng hết ḷng. Ông
trưởng giả sống an vui và cảm ơn Đức Phật đă dạy ông bài vè ấy. (DhA. v
324)
Bố thí hồi hướng cho cha mẹ đă quá văng
Con trai cũng như con gái có bổn phận bố thí và hồi hướng
công đức cho cha mẹ đă quá văng. Theo Phật giáo, thần thức của một người
sẽ tiếp tục tái sinh cho đến lúc họ không c̣n ái nhiễm. Những người có
chánh kiến, tin tưởng vào kết quả của những hành động thiện, trong lời
nói, việc làm và ư nghĩ, sẽ được tái sinh trong cảnh giới trời hay người
sau khi chết. Nơi đây, họ sẽ hưởng thụ những quả tốt lành mà họ đă gieo
trong kiếp sống trước.
Những người chuyên làm ác sẽ phải tái sinh làm thú hay
ngạ quỷ; đây là những cảnh giới thấp mà nơi đó họ sẽ phải lănh chịu
những hậu quả mà họ đă gây ra. Người gian ác, không bao giờ làm việc
thiện sẽ tái sinh trong địa ngục.
Chuyện kể rằng có một người kia không bao giờ biết làm
điều lành, khi anh ta chết bị đày xuống địa ngục, bị Diêm Vương tra vấn.
Anh ta là kẻ bất hiếu đối với cha mẹ, không biết kính trọng những bậc tu
hành, không biết săn sóc hiếu kính người già trong gia đ́nh. Diêm Vương
hỏi anh ta rằng, "Nầy anh, tại sao trong cuộc sống, anh không chịu làm
lành, lánh dữ, để bị xuống đây vậy ? " Anh ta đáp, " Đâu có ai cho tôi
biết là chết sẽ bị phán xét như thế nầy đâu. Nếu được báo trước th́ tôi
đă thay đổi làm lành lánh dữ rồi."
Diêm Vương nói, " Chẳng lẽ anh không thấy các sứ giả mà ta gửi đến ? "
Anh thanh niên đáp, " Tôi thật chẳng thấy sứ giả nào hết."
Diêm Vương phán, " Tại v́ anh không chịu để ư nên mới không thấy thôi.
Sứ giả đầu tiên là đứa bé mới sinh ra đời. Sứ giả thứ hai là một ông già
tám chín chục tuổi. Sứ giả thứ ba là người bệnh nằm rên rỉ, kêu la. Sứ
giả thứ tư là một kẻ ác bị chính quyền bắt tội và tra tấn. Và sứ giả thứ
năm là thần chết. Khi thấy những hiện tượng nầy, tại sao anh không lo
làm lành, lánh dữ. Nếu bây giờ anh kể cho Ta nghe được một việc thiện
anh đă làm lúc c̣n sống, th́ Ta tức khắc sẽ đưa anh ra khỏi chỗ nầy. "
(M.iii. 180)
Và v́ khi c̣n sống anh ta chưa làm một việc thiện nhỏ nhặt nào, thế nên
cuối cùng th́ anh phải đi chịu tội nơi địa ngục.
Nếu một người thân qua đời bị đọa vào đường ngạ quỷ là v́
trước khi chết họ không biết buông xả, c̣n bám víu rất nhiều nơi người
và vật. Ngạ quỷ luôn đói khát. Đức Phật có nói, "Ngạ quỷ hay đứng chờ
ngoài bờ tường, ngă tư hay cổng nhà của họ để trông chờ thân nhân bố thí
và hồi hướng công đức cho họ, đặng họ có thể nương theo công đức hồi
hướng đó mà thoát kiếp ngạ quỷ. Khi một người qua đời, những người c̣n
sống khóc lóc, kêu gào. Những việc nầy không ích lợi ǵ cho thân nhân đă
chết. Tốt nhất là thân nhân hăy bố thí, cúng dường và hồi hướng cho
người quá cố như sau, "Đây là công đức bố thí, cúng dường của thân nhân
chúng tôi. Mong là thân nhân chúng tôi được hưởng lợi ích qua sự cúng
dường nầy." Cho dù thân nhân có đang ở cơi không tốt, nhân nơi đây mà có
thể rời khỏi thế giới thấp để bước qua một thế giới khác tốt hơn.
(Khuđakapatha, Tirokutha Sutta).
Đức Phật có nói, như nước mưa từ vùng cao chảy xuống vùng
thấp, những ǵ chúng ta làm và hồi hướng ở cơi nầy th́ ở cơi thấp hơn
những ngạ quỷ cũng được lợi ích. Tôi đoán biết tại sao người Phật tử khi
cúng dường hồi hướng, thường đổ nước từ tách nầy sang tách khác. Nước
lọc đă được tẩy trùng, th́ trong, sạch, mát và có thể tuôn chảy khắp
nơi. Cũng vậy, người cúng dường phải có được một tâm trí trong sạch,
không ích kỷ, không tham, sân, si v..v..
trong lúc họ đang hồi hướng cho thân nhân họ.
Khi tâm trí trong sạch và rộng lượng, một ḷng chỉ cầu
mong cho thân nhân thoát khổ, và v́ vậy, sự hồi hướng đó sẽ mang lợi ích
rất nhiều cho kẻ quá văng. Cho dù thân nhân không bị đọa vào đường của
ngạ quỷ, th́ công việc hồi hướng cũng không phải hoàn toàn vô ích. Người
cúng dường vẫn được năm điều lợi ích sau đây.
Người cúng dường được nhiều người thương mến, người tốt
và giàu sang sẽ đến với họ, họ được khen ngợi là người rộng lượng, trong
đám đông họ được mọi người kính nể, và cuối cùng sau khi chết, họ chỉ
tái sanh trong cơi người, hoặc là cơi trời mà thôi. V́ thế, mọi người
nên thực hành bố thí, cúng dường và hồi hướng công đức cho người thân đă
quá văng.
Trách nhiệm của vợ chồng
Người chồng không nên xem thường vợ, mà phải đối xử với
vợ một cách tử tế, dịu dàng; phải chung thủy với vợ; cho vợ quyền xử lư
các công việc trong nhà; nên mua sắm quần áo và nữ trang cho vợ.
Người vợ th́ phải lo việc nội trợ một cách chu đáo; phải
cần mẫn trong công việc; phải biết ǵn giữ tiền do chồng mang lại, không
được phung phí; phải chung thủy với chồng; phải hiếu khách với gia đ́nh
hai họ.
Để cuộc sống hôn nhân được hạnh phúc, cả hai vợ chồng đều
phải tuân hành theo những bổn phận nêu trên. Quan trọng nhất là ḷng
chung thủy của hai người. Nếu một trong hai người không thỏa măn trong
vấn đề sinh lư với người phối ngẫu th́ họ có thể đi t́m lạc thú ở một
người khác. Nên nhớ rằng sự thiếu chung thủy sẽ làm người phối ngẫu rất
đau ḷng, và tạo nên những phiền lụy trong cuộc sống vợ chồng cũng như
tạo nên những vấn đề trong xă hội. Nếu quá tệ, th́ ly dị là điều không
tránh khỏi. Đàn bà Miến Điện có tục ngữ như sau, "Người vợ có thể chia
phần bánh của ḿnh nhưng nhất định không chia chồng ḿnh với người đàn
bà khác."
Việc ngoại t́nh phiền lụy đến ít nhất là ba người. Người
đàn ông hay đàn bà ngoại t́nh lúc nào cũng nghĩ đến việc đi gặp người
t́nh một cách bí mật, và lúc nào cũng muốn giấu nhẹm chuyện ḿnh ngoại
t́nh; họ luôn là mồi cho căng thẳng và xốn xang. Những hành động không
thành thật nầy làm day dứt tinh thần của người phối ngẫu. Về mặt xă hội
th́ họ bị mang tiếng xấu, có thêm kẻ thù. V́ vậy, nếu chúng ta hiểu rơ
được những nhu cầu của thân cũng như tâm, ta có thể v́ đạo đức và luật
xă hội, mà biết kềm hăm dục vọng của ḿnh, và nên tránh việc ngoại t́nh.
Nếu không, một người có thể ngoại t́nh bằng cách dùng quyền lực, tiền
của hay sắc đẹp, v..v..
Trong thời Đức Phật, Vua Pasenadi Kosala khi du ngoạn
ngoại thành, t́nh cờ gặp một người đàn bà trẻ đẹp, Vua cảm thấy yêu nàng
quá mới t́m cách đem nàng về hoàng cung. Nhưng người thiếu phụ xinh đẹp
tuyệt vời đó đă có gia đ́nh, v́ thế, Vua đem người chồng về hoàng cung
sai vặt. Chờ có cơ hội để bắt tội và xử tử người chồng. Chẳng ngờ người
chồng là một người giúp việc rất tốt. V́ thế Vua bèn bắt người chồng
phải đi bộ đến tận một nơi xa xôi, mười hai dặm đường cách thành
Savathhi, để đem về những hoa sen và phấn thơm cho Vua tắm trong ngay
chiều ngày hôm đó.
Chiều hôm đó, Vua Pasenadi sợ rằng người chồng sẽ về kịp
lúc nên Vua ra lệnh đóng cửa thành sớm hơn mọi khi. Người chồng trở về
và khi thấy cửa thành bị đóng, anh ta liền để phấn thơm trên thành tường
và cắm những hoa dưới đất. Và rồi anh lớn tiếng nói rằng, " Nhân dân hăy
làm chứng cho tôi! Tôi đă làm xong nhiệm vụ được giao phó, trở về đúng
giờ như Vua đă giao hẹn. Thế mà Vua lại có ư định muốn giết tôi." Nói
xong, anh ta bỏ đi và t́m đến thiền viện Jetavana tá túc và t́m an ủi
nơi thiền môn thanh tịnh nầy.
Trong lúc đó, Vua Pasenadi, bị dục vọng khống chế, nên
không ngủ được, và cứ măi suy nghĩ để t́m cách hại người chồng để chiếm
đoạt người vợ. Vào khoảng nửa đêm, Vua nghe nhiều tiếng động quái lạ;
đấy là tiếng than thở của bốn người ở địa ngục (Lohakumbhi Niraya), họ
đang rất khổ sở. Nghe những tiếng than vản nầy, Vua rất là sợ hăi. Theo
lời khuyên của Hoàng hậu Mallika, Vua liền đến tham vấn Phật. Sau khi
nghe Vua kể lại, Đức Phật nói với Vua rằng đấy là bốn người con của một
nhà giàu trong thời Đức Phật Kassapa. Họ đang phải chịu thống khổ ở địa
ngục (Lohakumbhi Niraya), v́ họ đă phạm giới thứ ba, một trong năm giới.
Họ chuyên đi ngoại t́nh với những người đàn bà có chồng. Ngay khi đó Vua
hiểu rằng h́nh phạt của việc ngoại t́nh rất là nặng. Và sau đó Vua tự
hứa nhất định sẽ không bao giờ c̣n dám tơ tưởng đến vợ của người khác.
Vua c̣n suy ngẫm ra rằng, "có lẽ v́ dục vọng quá mạnh, Vua chỉ lo tơ
tưởng đến cách chiếm đoạt người đẹp nên đă không ngủ được. (Dha v 60.
Dựa theo dịch bản của Daw Mya Tin ).
Một người đàn ông và một người đàn bà cần phải t́m hiểu
nhau cho rơ trước khi lập gia đ́nh với nhau. Họ cần phải tôn trọng ư
kiến cũng như ước muốn của người phối ngẫu, và không nên ép buộc người
kia phải ch́u theo ư ḿnh.
Họ nên tránh những cuộc căi vă quyết liệt có thể làm tan
vỡ mái gia đ́nh.
Nếu có con th́ việc ly dị chẳng những làm hai bên đau khổ, mà những đứa
con cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Con cái cần rất nhiều thứ nơi bậc cha
mẹ. Hôn nhân là chia xẻ - làm việc chung - và cùng nhau chăm sóc con
cái.
Chỉ một người cha hay một người mẹ không thể nào lo lắng
cho con cái chu toàn, bởi v́ họ không thể có đủ thời gian để vừa đi làm,
vừa chăm sóc con một cách hoàn hảo. Những đứa trẻ sống chỉ với mẹ hoặc
cha, sẽ rất khổ sở nếu cha hay mẹ không nhiều có thời gian chăm sóc
chúng.
Trong bất cứ trường hợp nào, hạnh phúc lứa đôi chỉ được
thể hiện khi mà cặp vợ chồng có những quan niệm tương đồng như : " niềm
tin, đạo đức, rộng lượng, và hiểu biết." Họ biết săn sóc nhau, biết tự
chủ, biết nói với nhau những lời êm dịu, tốt đẹp, th́ cặp vợ chồng nầy
có thể sống với nhau bền lâu. Ngược lại, th́ họ khó mà có thể hưởng được
niềm hạnh phúc lứa đôi.
Bạn đọc có thể hiểu rằng giá trị đạo đức rất là quan
trọng cho cả vợ lẫn chồng trong câu chuyện sau đây, xảy ra thời Đức Phật
c̣n tại thế.
Có một ông trưởng giả có bốn cô con gái đến tuổi lập gia
đ́nh. Có bốn người đàn ông đến cầu hôn. Người thứ nhất th́ đẹp đẻ, sang
trọng. Người thứ hai th́ lớn tuổi. Người thứ ba th́ giàu có, và người
thứ tư là một người phẩm hạnh, đạo đức. Ông trưởng giả không biết phải
gă con cho ai, nên ông đến tịnh xá Jetavana t́m Phật để xin Phật giúp
ông chọn được người rễ xứng đáng. Đức Phật đáp rằng, " Trong tiền kiếp
ông đă nhiều lần hỏi câu nầy, nhưng v́ luân hồi măi nên ông đă quên
hết." Và Đức Phật nói với ông như sau, " Sang trọng và đẹp đẽ cũng tốt.
Người lớn tuổi th́ được kính nể. Nhưng con người c̣n cần thêm những ưu
điểm khác nữa. Một người sẽ bị khinh khi, chê bai nếu họ không có đạo
đức." Sau khi nghe xong câu trả lời của Đức Phật, ông trưởng giả quyết
định gă con cho người có phẩm hạnh, đạo đức.
(Ja. No. 200 )
Tôi chẳng dám lạm bàn về cuộc sống lứa đôi v́ tôi không
có kinh nghiệm về hôn nhân. Tôi chỉ xin tŕnh bày về những lời giảng dạy
của Đức Thế Tôn trong cuộc sống đôi lứa .
Bảy hạng vợ
Khi mà Đức Thế Tôn ở rừng Jeta, trong công viên của
Anathapindika; ngày nọ Đức Phật đến nhà Anathapindika để khất thực. Lúc
ấy trong nhà có rất nhiều tiếng ồn ào. Khi hỏi nguyên nhân, Đức Phật
được Anathapindika kể lại rằng, "Tôi có một cô con dâu. Cô là con nhà
giàu. Cô chẳng màng để ư đến cha chồng, mẹ chồng, và chồng; cô cũng
chẳng biết kính trọng Đức Phật."
Đức Phật bèn cho gọi nàng dâu Sujata đến và hỏi nàng có muốn nghe pháp
không, và nàng bằng ḷng. Đức Phật liền nói cho nàng nghe về bảy hạng vợ
:
- Vợ như là tên sát nhân,
- vợ như là tên cướp,
- vợ như là chủ nhân,
- vợ như là mẹ,
- vợ như là chị hay em,
- vợ như là bạn,
- và vợ như là người hầu.
Sujata nói, "Con không hiểu rơ nghĩa những ǵ Thế Tôn vừa
nói, xin Ngài giải thích rơ dùm cho con hiểu."
Đức Phật bèn giải thích như sau : "Vợ như tên sát nhân,
khi mà tánh t́nh nóng nảy, lúc nào cũng nạt nộ chồng. Vợ như tên cướp,
khi mà tiêu xài phung phí tiền bạc do chồng làm ra. Vợ như chủ nhân,
không thích việc nội trợ, thích lấn lướt chồng, không tử tế, lười biếng
và tham lam. Vợ như mẹ, khi mà biết chăm sóc, và không phung phí tiền
của do chồng mang lại. Vợ như là chị hay em, xem chồng như anh em, biết
kính trọng và luôn ch́u ư chồng. Vợ như là bạn, người có đạo đức, biết
kính trọng chồng, lúc nào cũng vui vẻ khi gặp mặt chồng như bạn thân lâu
năm vừa gặp lại. Vợ như người hầu khi mà trong ḷng luôn an lạc, không
giận dữ cho dù chồng không đối xử tốt với ḿnh, vẫn luôn tŕu mến và
chăm sóc chồng. Theo thái độ của ba hạng vợ đầu tiên, th́ con đường đưa
đến địa ngục là điều không tránh khỏi; và bốn hạng vợ sau th́ thiên
đường là nơi họ đến sau khi chết. V́ vậy, Sujata, con muốn làm hạng vợ
nào trong bảy hạng kể trên?"
Sujata đáp, " Thưa Thế Tôn, từ nay con xin nguyện làm người hầu cho
chồng."
Gia đ́nh của ông trưởng gỉa rất là hài ḷng khi nghe Sujata trả lời như
thế.
Làm thế nào để sống với người chồng
Ngày nọ, lúc Đức Phật ở rừng Jatiya, có một người tên là
Uggaha thỉnh Phật đến thọ trai. Uggaha dọn nhiều thức ăn để cúng dường
Phật, sau khi Phật thọ trai xong, Uggaha nói, "Thưa Thế Tôn, các con gái
của con sẽ phải về nhà chồng trong nay mai. Xin Thế Tôn cho vài lời để
các con gái của con sau khi về nhà chồng sẽ biết cách đối xử, và nhân đó
được nhiều lợi ích."
Đức Phật nói với các cô gái đó rằng họ nên thực tập như
sau : "Người vợ phải dậy sớm hơn chồng, và đi ngủ sau chồng, sẵn sàng
ch́u ư chồng, đối xử với chồng một cách tử tế; vợ nên biết kính trọng
gia đ́nh, bạn hữu của chồng, và nên hiếu khách với những người nầy; vợ
phải biết việc nội trợ, đảm đang, không nên lười biếng; phải biết điều
khiển người hầu, và trả lương hay tăng thưởng họ cho xứng đáng, không
nên phung phí tiền bạc của chồng làm ra, phải biết cần kiệm và giữ ǵn
đàng hoàng."
( A. iii. 36)
Hiện nay, vợ cũng như chồng đều phải đi làm để kiếm tiền.
Người vợ không c̣n phải nương tựa chồng để có tiền. Và v́ thế, họ có thể
nghĩ rằng những điều nói trên đă lạc hậu và nếu họ thực tập theo th́ họ
tự làm giảm gía trị của chính ḿnh. Nói như thế, có nghĩa là họ vẫn chưa
bỏ được tánh tự cao, ngă mạn và không thể có từ tâm thật sự đối với
người chồng.
Không có lư do nào có thể cản trở họ làm những bổn phận nói trên nếu họ
thực sự thương yêu người chồng của ḿnh. Cũng không có hại ǵ nếu họ
thực hiện những điều nói trên như là một cuộc thử thách. Khi mà người vợ
thực hành những điều nói trên, th́ họ sẽ nhận được t́nh yêu và sự chăm
sóc chu đáo nơi người chồng.
II. Bổn phận xă hội
Phận sự của bằng hữu
Con người là một phần tử của xă hội, v́ thế sau khi được
sinh ra đời, con người cần có ít nhất một người ở bên cạnh. T́nh trạng
sức khỏe, học vấn, sự sung túc của một người nương vào môi trường chung
quanh mà họ được sanh ra và lớn lên. Ṿng tṛn xă hội được lan rộng dần
với thời gian. Trong thời niên thiếu, con người được cha mẹ hướng dẫn,
chỉ dạy để tránh những ảnh hưởng nơi bạn xấu. Lớn chút nữa, th́ một
người phải tự chọn bạn mà chơi, v́ khi chúng ta cần sự giúp đỡ, không
phải bạn nào cũng sẵng sàng nâng đỡ chúng ta. Có một câu ngạn ngữ như
sau: "Khi sa cơ mới biết bạn hiền."
Một người không nên chọn bạn v́ bạn ḿnh có địa vị và
giàu sang.
Tất cả bạn hữu đúng nghĩa đều đáng quư.
Có một câu chuyện về bạn như sau:
Có một tiền kiếp mà Đức Phật là con của một thương gia
giàu có. Ngày nọ, Bồ Tát và các bạn ngồi nơi ngă tư đường, và họ thấy
một người thợ săn chở một xe đầy thịt hướng về phía họ. Một người trong
bọn nói, : " Ê! Thợ săn, cho tôi một miếng thịt." Người thợ săn đáp, "
Anh bạn, khi xin điều ǵ th́ phải nói năng lễ phép. Miếng thịt tôi cho
anh sẽ xứng đáng như lời anh hỏi xin, " và người thợ săn cho anh nầy một
miếng thịt dở. Người thứ hai trong bọn nói," Anh hai ơi! Tôi có thể xin
anh một miếng thịt không ?" Thợ săn đáp, " Anh em là huyết thống, có
liên hệ mật thiết", và thợ săn cho anh ta một cái đùi thịt. Người thứ ba
trong bọn nói, " Cha ơi! Cha có thể nào cho con xin một miếng thịt không
?" Thợ săn đáp, " Con sẽ được một miếng thịt ngon như lời con xin, người
cha nào mà không động ḷng khi nghe con ḿnh cầu xin", và thợ săn cho
anh nầy một trái tim và một miếng thịt thật ngon. Lúc nầy, người trẻ
nhất trong bọn, Bồ Tát lúc bấy giờ đến gần thợ săn và nói, " Bạn ơi!
Người bạn tử tế của tôi, có thể nào bạn cho tôi một miếng thịt không?"
Thợ săn đáp," Anh sẽ nhận được miếng thịt như lời anh xin. Người mà
không có bạn như là lữ hành đi trong rừng hoang. Tôi rất sung sướng và
vui ḷng khi nghe lời thỉnh cầu từ nơi người bạn của tôi." và rồi thợ
săn dâng tặng cho Bồ Tát của chúng ta cả xe thịt, và vị Bồ Tát của chúng
ta thết đăi người thợ săn với tất cả ḷng hiếu khách và kính trọng, và
sau đó Bồ Tát khuyên người thợ săn nên đổi nghề và họ làm việc chung,
sống với nhau và trở nên đôi tri kỷ. (Ja. No. 315)
Để phân biệt bạn tốt với bạn "xă giao", Đức Phật đă giảng
cho Singala về những đức tính của những người bạn "xă giao" như sau.
Một người lúc nào cũng có ư muốn được cái ǵ nơi bạn. Họ
đến nhà bạn tay không và khen những đồ vật mà bạn đang sở hữu để rồi bạn
phải cho họ một vật ǵ đó để họ đem về. Họ cho bạn rất ít mà muốn lấy về
nhiều hơn.
Họ chỉ đến với bạn khi họ cần bạn giúp đỡ. Họ thân cận với bạn để họ
được lợi. Khi bạn đến nhà họ, họ nói, "Ô tiếc quá, hôm nay chẳng có ǵ
để đăi bạn, hôm qua có rất nhiều món ngon, mong bạn đến mà không thấy;
nếu bạn đến hôm qua th́ tôi đă đăi bạn nhiều món ngon rồi. Hy vọng mai
nầy bạn đến, tôi có thể đăi bạn những món đặc biệt." Họ ăn mặc sang
trọng, dùng những vật dụng mắc tiền, họ nói, "Tôi muốn cho bạn những thứ
nầy lắm, nhưng mà tôi không có dư để cho bạn. Xin lỗi bạn nhé."
Khi bạn cần sự giúp đỡ, họ sẽ nói họ không có khả năng, khi bạn mượn vật
ǵ th́ họ sẵn sàng cho bạn mượn đồ hư cũ của họ. Họ cũng sẵng sàng rủ
bạn đi uống rượu, đi đến những nơi cờ bạc, đi xem hát, và khuyến khích
bạn làm những việc sai trái. Họ cổ vơ bạn làm những việc tốt cũng như
xấu, và luôn miệng khen bạn khi bạn có mặt và khi bạn vắng mặt th́ họ
dèm pha, nói xấu.
Đức Phật nói với Singala về bốn hạng người mà ta có thể
xem là bằng hưũ.
Một là người hay giúp đỡ. Người nầy sẵn sàng chạy đến
giúp bạn khi biết bạn đang gặp khó khăn, và sẵn sàng cho bạn vay tiền
khi cần thiết. Họ sẵn sàng săn sóc bạn bè, và lo lắng cho tài sản cũng
như gia đ́nh của người bạn của họ. Nói như thế, có một người phê b́nh
như sau, "Kể cả khi người bạn bị nghiện rượu, ta không tránh họ mà lại
c̣n giúp họ, bằng cách lo cho tài sản và gia đ́nh của họ." Chúng tôi
không đồng ư với quan điểm nầy, v́ chúng ta biết rằng khi thân cận với
người nghiện rượu, tài sản của chúng ta cũng dễ bị tiêu ṃn. Đúng ra là
thế. Nhưng chúng ta nên biết không ai là hoàn toàn cả. Chẳng hạn một
người bạn của chúng ta không phải xấu từ khi mới sanh ra, mà tại v́ bạn
ta tập một thói quen xấu, hoặc bị ảnh hưởng xấu và gây ra lỗi lầm. Một
lần, hai lần, nếu chúng ta từ bỏ họ ngay lúc đó, th́ chúng ta cũng chưa
phải là bạn tốt. Ngược lại nếu chúng ta tiếp tục có liên hệ với họ nhưng
không khuyên nhủ hay chỉ bảo cho họ th́ chúng ta là những người bạn
không đáng tin cậy. V́ thế, chúng ta trước tiên phải giải thích cho bạn
ḿnh những ảnh hưởng cũng như kết quả xấu của việc nghiện rượu, và thúc
giục bạn bỏ đi thói quen xấu nầy. Nếu người bạn của chúng ta không nghe
lời khuyên của chúng ta và vẫn tiếp tục cái thói quen xấu ấy, th́ chúng
ta nên rời xa họ là tốt nhất.
Người nào mà chia xẻ những niềm vui nỗi buồn của bạn ḿnh
là một người bạn thật sự. Người nầy tâm sự những việc thầm kín của ḿnh
với bạn, nhưng tuyệt nhiên không nói những việc bí mật của bạn ḿnh cho
người khác. Khi thấy bạn gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng hy sinh thân mạng
ḿnh để cứu bạn.
Họ khuyên nhủ bạn đừng làm điều xấu ác, nói cho bạn nghe những điều hay
và dẫn dắt bạn trên con đường đưa đến an lạc, hạnh phúc.
Đây là một câu chuyện có liên hệ đến những điều đă nói ở
trên. Trong thời Đức Phật Kassapa, có một người Bà-La-Môn, tên Ghatikara
làm đồ gốm, là một người hết ḷng ủng hộ Phật . Anh có một người bạn tên
Jotipala.
Ngày nọ, anh thợ đồ gốm mới bảo bạn đến viếng Phật. Jotipala đáp,
"Có hay ho ǵ khi đi viếng một thầy tu?" Lần nào cũng thế, mỗi lần
Ghatikara bảo đi viếng Phật th́ Jotipala đều từ chối.
Ngày kia, cả hai đi đến một ḍng sông để tắm. Khi đến ḍng sông, anh thợ
đồ gốm mới bảo bạn, " Nầy, hay là chúng ta đến viếng Đức Phật , tịnh xá
của Ngài cũng gần đây thôi." Jotipala cũng từ chối như bao lần khác.
Cuối cùng, th́ anh thợ đồ gốm nắm lấy tóc của bạn và lôi bạn đi đến gặp
Phật. Jotipala lúc đó liền nghĩ, "Anh nầy giai cấp hạ tiện mà dám nắm
tóc ḿnh, chắc là phải có ǵ hay nơi Đức Phật," và rồi anh đồng ư đến
viếng Phật.
Sau khi nghe xong thời pháp thoại, Jotipala bảo bạn hăy cùng ḿnh trở
thành tu sĩ. Anh thợ đồ gốm đáp,"Tôi c̣n cha mẹ mù ḷa phải phụng dưỡng,
tôi không đi được. Nhưng tôi sẽ rất vui mừng khi thấy anh trở thành một
tăng sĩ của Đức Phật."
Và rồi th́ Jotipala được xuống tóc và trở thành tỳ khưu và thực tập pháp
một cách rất là hiệu quả. ( M. ii. 45ff )
Một người bạn thân th́ không vui khi thấy bạn ḿnh thất
bại hay bị chê bai, nhưng lại vui mừng khi thấy bạn được khen hay thành
công trong cuộc đời.
Một người phải tự biết chọn bạn mà giao thiệp, khi thân cận một người
tốt và được họ giúp đỡ th́ ta sẽ dễ dàng thành công trong cuộc đời.
Một lần Ngài Ananda nói với Đức Phật là phân nửa sự thành
công trong việc tu học là có những bạn đồng hành tốt, Đức Phật đáp, "
Nầy Ananda, ông không nên nói như thế, v́ người thành công trên bước
đường tu tập, đạt được mục đích là nhờ sự giúp đỡ của những bạn tốt."
Chỉ chọn bạn tốt mà chơi cũng chưa đủ. Ta c̣n cần phải biết làm bạn.
Để cũng cố t́nh bạn được lâu bền, Đức Phật dạy một bài học về cách đối
xử với bạn như sau. ( S. i. 87 )
Một người phải rộng lượng, cho bạn những ǵ bạn cần; phải
nói với bạn những lời nhă nhặn; phải lo lắng cho an vui của bạn; phải
đối xử với bạn như ḿnh đối xử với chính ḿnh, và phải luôn giữ lời hứa.
Bạn của ḿnh cũng phải đối lại với ḿnh như sau: phải lo lắng cho cơ
nghiệp của bạn, khi bạn ḿnh không c̣n khả năng để tự lo; khi bạn gặp
hiểm nguy ta phải hết ḷng giúp đỡ; không bỏ rơi bạn lúc bạn gặp khó
khăn, và nên giúp đỡ gia đ́nh của bạn.
Hơn nữa, mọi người nên học những lời của Đức Phật dạy về
t́nh bạn.
" Nếu không gặp bạn đồng hành bằng hay giỏi hơn ḿnh, th́
thà là một ḿnh đơn độc chứ không làm bạn với người ngu." ( Dhp. v. 61 )
" Khi gặp một người khôn ngoan, như là người khám phá kho
tàng, họ chỉ những cái hay cũng như cái dở của ta để giúp ta thăng
tiến." (Dhp. v. 76)
"Thân cận với người ngu là một điều đau khổ như thân cận
với kẻ thù.
Gần được người trí chẳng khác nào như gặp người thân." (Dhp. v.207)
Bổn phận của chủ nhân và người làm công
Người chủ cần chỉ định nhân viên của ḿnh làm những công
việc thích hợp với khả năng, sức lực, và tinh thần của họ; cần phải trả
tiền công cho họ đúng hạn và tùy theo sự làm việc mà tặng cho họ tiền
thưởng; cần phải lo cho họ khi họ chẳng may bệnh tật; cần chia xẻ những
thức ngon với họ, và khi cần thiết nên cho họ nghỉ phép.
Người làm công bù lại phải thức khuya dậy sớm lo công việc cho chủ nhân,
chỉ lấy những ǵ chủ cho; làm việc sốt sắng, và ǵn giữ tiếng thơm cho
chủ.
Những điều nói trên dành cho chủ nhân và người làm trong
nhà. Nhưng hiện nay, nếu chúng ta có học qua về ngành kinh tế, chúng ta
sẽ thấy các hăng xưởng ở những nước tân tiến đều áp dụng những ǵ mà Đức
Phật đă dạy ở trên, và theo cách thức đó, đất nước của họ đang giàu
mạnh.
Bổn phận của chủ nhân cũng như người làm công cho thấy
rằng cần phải có một sự liên hệ cảm thông giữa hai bên th́ mọi việc mới
thuận lợi.
Hơn nữa, sự phát đạt của một hăng xưởng nương rất nhiều vào một quản lư
giỏi. Cho dù một người có nhiều vốn, nếu không biết cách quản lư, hoặc
giả không hiểu biết về vấn đề làm thương mại th́ cũng khó mà thành công
trong việc mua bán. Nếu hăng xưởng không có thợ tài giỏi, th́ việc làm
cẩu thả, sớm hay muộn ǵ hăng cũng sẽ phải bị dẹp.
Khi tiền lương không được trả đúng thời hạn, th́ thợ tay nghề giỏi sẽ
không khi nào chịu làm việc cho hăng đó.
Sau đây là câu chuyện về một người biết buôn bán. Trong
một tiền kiếp Đức Phật là con của một người thủ quỹ, biết tiên đoán vị
lai.
Ngày nọ, trên đường đến viếng Vua Brahmadatta, Bồ Tát
thấy xác một con chuột nằm trên đường, và khi nh́n vị trí của những tinh
cầu lúc đó, Bồ Tát nói, "nếu có người nào tử tế, sáng dạ, có thể dùng
con chuột nầy để làm vốn buôn bán, và có thể trở thành một người giàu
có."
Lúc ấy có một người thanh niên con nhà tử tế, nhưng
nghèo, nghe vậy, anh liền lượm xác con chuột và bán cho người nuôi mèo
với giá một cắc. Sau đó anh mua một cắc mật. Rồi anh lại dùng mật đó bỏ
vào nước và đem nước mật cho những người hái hoa . Những người nầy cảm
ơn anh đă làm nước mật cho họ giải khát bằng cách tặng cho anh một bó
hoa. Anh bán được bó hoa và lại dùng tiền mua mật bỏ vào nước, đem nước
đến cho những người hái hoa, và rồi anh lại được trả công bằng rất nhiều
hoa đẹp, và anh đem hoa đi bán được những tám xu trong một thời gian
ngắn.
Ngày kế tiếp, khi anh đi ngang vườn thượng uyển anh thấy
nhiều cành cây mục và lá rụng đầy ḍng suối mà người thợ làm vườn không
biết cách nào để làm sạch con suối. Anh bèn nhờ những người bạn của ḿnh
đến giúp anh thợ làm vườn để làm sạch con suối, sau đó anh đăi họ nước
mật. Người thợ làm vườn tặng cho anh một số củi. Anh bán củi đó cho thợ
làm đồ gốm được mười sáu xu, năm cái chén và tô. Tất cả tổng cộng là hai
mươi bốn xu, và rồi anh phát họa một chương tŕnh. Anh liền đến vùng lân
cận cửa thành với một b́nh nước mật, và anh tặng nước mật cho đám thợ
gặt ở đó. Sau đó, họ nói, "Nầy anh bạn, chúng tôi có thể giúp được ǵ
cho anh không?" Anh trả lời, " Ô, khi nào tôi cần, tôi sẽ gọi các anh".
Anh làm quen được với chủ bến tàu và vị tỉnh trưởng, và anh hỏi họ về
tin tức của những đoàn thương buôn bán ngựa. Được biết đoàn thương gia
sẽ đến thành với năm trăm con ngựa, anh liền đến những thợ gặt xin họ
mỗi người cho anh một bó cỏ, và bảo họ đừng bán cỏ cho ai, cho đến khi
nào anh bán được những bó cỏ của anh.
Sau đó, anh bán cỏ cho ngựa của đoàn thương gia được tới
một ngàn đồng. Vài ngày sau đó, anh lại được tin có một tàu sẽ cặp bến;
anh mướn xe và đến hải cảng trong trang phục của một thương gia giàu có.
Anh mua chịu tất cả hàng hóa và để lại một chiếc nhẫn đắt tiền làm tin.
Lúc ấy có khoảng một trăm thương gia đến bến tàu để mua
hàng hóa nhưng tất cả hàng hóa đều đă được bán cho chàng thanh niên nọ.
V́ thế, sau cùng họ phải mua lại hàng hóa của chàng thanh niên, và anh
nầy bán được số hàng với giá hai trăm ngàn đồng. Anh thanh niên tặng
phân nửa số tiền đó để tạ ơn Bồ Tát đă chỉ dẫn. Và khi được biết chỉ với
xác con chuột mà anh làm nên việc lớn. Bồ Tát lúc ấy rất hài ḷng và gă
con gái của người cho anh thanh niên nọ."
Làm thương mại, muốn phát tài, cần phải có tiền vốn, sự
siêng năng, và sự hiểu biết trong công việc làm ăn của ḿnh. Biết cần
kiệm, cần phải có bạn bè giúp đỡ và phải biết quản lư tiền bạc. Một
người có thể nghĩ họ có thể làm giàu một cách nhanh chóng bằng đường
tắt. Nhưng nếu một người có nhiệt tâm, cẩn trọng, tư tưởng, lời nói,
hành động trong sáng, và nếu làm bất cứ việc ǵ cũng cẩn thận và chu
đáo, làm ra tiền một cách hợp pháp, th́ tiền của và tiếng tăm của người
đó sẽ được lan rộng.
Đức Phật khuyến khích mọi người nên hùng vốn và làm việc
chung như bầy ong cùng làm ra mật, như mối cùng xây tổ, và Đức Phật nói
như sau về việc tiêu tiền như thế nào : "Một người cần phải chia tài sản
ra làm bốn phần: một phần cho ḿnh và việc làm từ thiện; hai phần dành
cho việc buôn bán, và một phần để dành pḥng khi cần kíp, hay là để dành
cho chính ḿnh lúc về già."
|
SỐNG VỚI PHÁP TRONG CUỘC ĐỜI
Venerable Ajahn Chah -Truyền việt |
|
 |
|
 |
Có một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập Thiền. Họ nghĩ
rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp thoại là thực tập. Thật là như
vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm
nơi phần tinh thần, với một đối tượng. Đấy mới là sự thực tập thật sự.
Ví dụ khi người ta nói một điều ǵ đó mà ḿnh không thích
th́ sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói ǵ đó mà ta thích th́ ta vui
vẻ và đồng ḷng. Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập. Thực tập như thế
nào ? Đây mới là vấn đề chính.
Nếu chúng ta chỉ luôn luôn chạy theo sự sung sướng và
quay lưng với đau khổ th́ suốt đời ta không thấy được pháp. Thật là vô
ích! Khi sung sướng hay đau khổ xuất hiện, chúng ta hăy thực tập giáo
pháp để thoát khỏi sự kềm chế của chúng, và đây mới là sự thực tập tốt,
có lợi ích.
Thông thường, khi chúng ta đối diện với một điều bất như ư, chúng ta
không chấp nhận nó.
Như người ta thường than van : " Đừng làm phiền tôi! Tại sao đổ lỗi cho
tôi ?" Đây là một người hoàn toàn bị "bưng bít" và bị tách rời.
Lúc nầy là lúc mà ta cần phải thực tập. Khi người ta phê
b́nh, chúng ta nên lắng nghe. Nếu họ đang nói sự thật ? Chúng ta nên cởi
mở cơi ḷng và gắng sửa đổi. Có thể có một điều nào đó mà họ nói đúng,
và v́ tự ái ta đă phản ứng lại và chống đối họ. Nếu người ta chỉ lỗi của
ḿnh cho ḿnh thấy th́ ḿnh nên cố gắng loại bỏ thói xấu ấy. Và đây mới
là sự thực tập của một người có trí tuệ.
Có những người không chịu được sự phê b́nh, họ rất là tự
cao. Và như vậy họ quay lại và gây gỗ. Đây là một sự thật hiển nhiên khi
một người lớn đối xử với một đứa nhỏ. Đôi lúc những đứa trẻ nói những
điều rất là hay, rất là thông minh, nhưng nếu bạn là bậc cha mẹ, chẳng
hạn, th́ bạn đâu dễ dàng ǵ mà chấp nhận. Nếu bạn là một thầy, cô giáo
mà học sinh nói một điều ǵ đó mà bạn không biết, bạn đâu có chấp nhận
dễ vậy. Và nếu nghĩ như thế th́ đă sai rồi.
Trong thời Đức Phật c̣n tại thế, một đệ tử của Phật rất
là thông minh.
Một lần, trong lúc đang giảng pháp, Phật quay sang và hỏi người đệ tử,
" Sariputta, ông có tin điều nầy không ?" Ngài Sariputta đáp, " Thưa,
con chưa tin." Phật liền khen, " Giỏi lắm, Sariputta, ông thật là một
người sáng suốt. Một người sáng suốt không bao giờ tin liền một điều ǵ,
họ phải lắng nghe với một tinh thần cởi mở, và so sánh để thấy được sự
thật của việc đó trước khi kết luận là tin hay là không tin."
Nơi đây Đức Phật đă làm một gương sáng cho những vị thầy. Những ǵ Ngài
Sariputta nói là sự thật, Ngài chỉ nói như Ngài biết. Vài người cho rằng
khi nói như thế là ḿnh đang đánh giá người thầy, và như vậy là vô phép,
cho nên họ rất sợ phải nói lên sự thật. Họ cứ nghe và đồng ư.
Thường th́ thiên hạ thích như thế hơn, nhưng Đức Phật th́ không thấy
mích ḷng. Không có ǵ phải xấu hổ khi ḿnh không biết và nói tôi không
biết. V́ thế mà Ngài Sariputta mới nói "Thưa, con chưa tin.". Đức Phật
đă khen ông.
"Vị tỳ kheo nầy thật thông minh, sáng suốt. Suy nghĩ rất kỹ trước khi
quyết định tin hay không tin." Đây là một gương sáng cho những người
thầy sau nầy đối với học tṛ của ḿnh. Đôi lúc chúng ta học được nhiều
điều hay nơi trẻ em, v́ thế đừng cứng ngắc tin vào quyền hạn hay địa vị
của ḿnh.
Trong khi bạn đứng, ngồi, hay đi đây đó, bạn vẫn có thể
học được nhiều điều ở chung quanh ḿnh. Chúng ta học một cách tự nhiên,
mở ḷng ra với mọi vật, dù là thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay tưởng
tượng. Người sáng suốt th́ quan tâm đến tất cả mọi thứ. Thực tập đúng
nhất là khi mà chúng ta không c̣n phải lưu ư cân nhắc đến mọi thứ trong
tư tưởng.
Nếu chúng ta c̣n chưa nhận biết sự thích hay không thích
lúc chúng xuất hiện, th́ lúc đó vẫn c̣n phải lưu tâm đến những ư trong
tư tưởng.
Nếu chúng ta biết được sự thật của những thứ nầy, chúng ta sẽ nghĩ : "Ô,
đâu có ǵ trong cái cảm giác thích thú nầy. Đây chỉ là một thứ cảm giác
xuất hiện rồi sẽ biến mất. Không thích cũng thế, chỉ là một cảm giác có
rồi mất. Tại sao chúng ta phải rắc rối với chúng?"
Nếu chúng ta nghĩ sung sướng hay đau khổ là những thứ mà ta sở hữu được,
th́ chúng ta sẽ bị nguy to, chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi dây
xích vô tận của thương và ghét. Và phần đông nhiều người trong chúng ta
đều nằm trong trường hợp nầy.
Hiện nay khi thuyết pháp người ta không chú ư đến tư
tưởng, không bàn về sự thật. Nếu bạn nói về sự thật th́ người ta sẽ nói,
"Ông đó không biết ǵ về thời gian và không gian, ông ta không biết nói
chuyện cách tử tế".
Nhưng mà con người cần phải nghe sự thật. Người thầy đúng nghĩa sẽ chỉ
nói sự thật, họ không nói bằng kư ức. Phần đông chúng ta khi nói chuyện,
chúng ta nói bằng kư ức, và nói để xưng tụng chính ḿnh. Người thầy thật
sự th́ không như thế, ông ta chỉ nói sự thật, sự thật như nó là.
Người ta thường hay không hiểu khi vị thầy giảng về sự thật, cho dù ông
thầy có cố gắng cách mấy, họ vẫn không hiểu. Hiểu được pháp (dharma)
không phải là một điều dễ. Nếu bạn hiểu được pháp th́ bạn nên thực hành
theo sự hiểu biết của ḿnh. Không cần thiết phải trở thành tu sĩ, mặc
dầu h́nh thức tu sĩ là phương cách tốt nhất để thực hành. Để thực hành
đúng nghĩa bạn phải nên quên đi sự hỗn loạn của thế giới, phải từ bỏ của
cải cũng như gia đ́nh, phải vào rừng. Rừng cây là nơi thực tập lư tưởng
nhất.
Nhưng nếu chúng ta c̣n gia đ́nh và bổn phận th́ làm sao
để thực tập ?
Vài người nói rất là khó mà thực hành khi chúng ta c̣n là
cư sĩ. Hăy nh́n xem nhóm nào đông người nhất, nhóm tu sĩ hay cư sĩ ?
Dĩ nhiên là cư sĩ nhiều hơn . Nếu mà chỉ có nhóm tu sĩ thực tập c̣n cư
sĩ th́ không, th́ tất nhiên sẽ có nhiều vấn đề lộn xộn. Đây là hiểu sai.
"Tôi không thể trở thành tu sĩ..." Trở thành tu sĩ không phải là điểm
đáng nói!
Trở thành tu sĩ không có nghĩa lư ǵ cả khi mà bạn không thực tập.
Nếu bạn thật sự hiểu pháp th́ địa vị hay nghề nghiệp ǵ ǵ đi nữa, làm
thầy cô giáo, làm bác sĩ, làm công chức ... bạn vẫn có thể thực tập pháp
trong mỗi giây phút trong ngày.
Nghĩ rằng ḿnh không thể thực tập v́ ḿnh là cư sĩ th́ ta đă đi sai
đường rồi.
Tại sao con người có thể t́m ra động lực nào thúc đẩy
ḿnh làm nhiều việc ? Nếu họ cảm thấy họ thiếu vật ǵ th́ họ cố gắng làm
để cho có được.
Nếu có đủ ḷng ham muốn, con người có thể làm mọi việc, vài người nói,
"Tôi không có thời gian để mà thực hành pháp." Tôi nói, " Vậy sao bạn có
thời gian để thở ?" Hít thở là việc quan trọng, việc sống c̣n của đời
sống con người. Nếu họ thấy thực hành pháp cũng quan trọng không kém ǵ
sự hít thở của đời sống th́ họ sẽ thực tập liền.
Bạn không phải chạy ṿng ṿng hoặc phải nhọc nhằn khi
thực hành pháp. Chỉ cần chú ư đền những cảm giác đang xuất hiện nơi tư
tưởng bạn. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân thể xúc
chạm, ... tất cả đều xuất hiện nơi tư tưởng, "cái mà biết". Khi mà tư
tưởng nhận thấy những điều nầy th́ điều ǵ xảy ra? Nếu chúng ta thích
vật đó th́ lập tức chúng ta cảm thấy sung sướng, nếu chúng ta không
thích th́ chúng ta cảm thấy bực bội. Tất cả chỉ có như vậy thôi.
Vậy th́ bạn đi đâu để t́m hạnh phúc trong cuộc đời nầy ?
Chẳng lẽ bạn chờ đợi mọi người chỉ nói những điều hay,những điều dễ nghe
trong suốt cuộc đời bạn? Có thể như thế được không ?
Thật là hoang tưởng. Nếu không được, th́ bạn sẽ đi đâu ?
Thế gian chỉ có thế, chúng ta cần phải rơ thế gian - Lokavidu-- biết
được sự thật của thế gian. Đức Phật đă sống nơi thế gian, chứ không ở
đâu khác. Ngài cũng có gia đ́nh, nhưng Ngài thấy được giới hạn của nó và
Ngài đă tách ḿnh ra khỏi chúng. Bây giờ làm thế nào cho người cư sĩ
thực tập?
Nếu bạn muốn thực tập th́ bạn phải cố gắng đi con đường đă chọn. Nếu bạn
cố gắng thực hành đúng cách th́ với sự thực tập bạn sẽ dần dần thấy được
giới hạn của đời sống nầy và sẽ có thể buông bỏ một cách dễ dàng.
Người dùng rượu đôi khi nói, " Tôi không thể bỏ được
rượu".
Tại sao họ không bỏ được?
Bởi v́ họ không thấy được nguy cơ của sự nghiện rượu.
Nếu họ thấy rơ sự nguy hiểm của rượu th́ họ sẽ tức thời
từ bỏ rượu, không cần phải đợi người khuyên răn. Nếu bạn không thấy được
cái nguy cơ của một sự việc th́ làm sao bạn có thể thấy được sự lợi lạc
khi từ bỏ việc đó.
Như thế sự thực tập của bạn sẽ không có kết quả, bạn chỉ đùa chơi với sự
thực tập. Ví như có người chài lưới nghe thấy có một vật đập đập trong
bẫy giăng cá. Nghĩ rằng đó là một con cá, anh ta tḥ tay vào trong bẫy.
V́ không thấy được bên trong, anh ta có 2 ư nghĩ : có thể là một con
lươn, hoặc có thể là một con rắn. Nếu anh ta liệng cái bẫy th́ có thể
anh ta sẽ hối tiếc lắm, nếu đấy là một con lươn. Ngược lại, nếu là con
rắn anh ta có thể bị rắn cắn. Ngay lúc nầy anh ta đang phân vân lưỡng
lự. Sự ham muốn được con lươn rất mạnh nên anh cố gắng t́m cách để xem
bên trong bẫy, anh thấy da có sọc, có vằn lập tức anh liệng nó xuống
nước. Anh không cần đợi ai phải nói cho biết, "Đó là con rắn, liệng đi!"
H́nh dạng con rắn cho anh biết nhanh hơn là lời nói.
Tại sao? V́ khi anh thấy được sự hiểm nguy -- rắn có thể cắn!
Cũng thế, trong khi thực hành pháp, chúng ta sẽ thấy được sự vật như nó
là và chúng ta sẽ không ngần ngại mà từ bỏ những thứ có tác hại cho
ḿnh.
Con người không thực tập bằng cách nầy, họ thực tập cho
những thứ khác.
Họ không suy ngẫm mọi sự vật, họ không suy nghĩ về già, bệnh, và chết.
Họ chỉ nói về không già, và không chết, v́ thế họ không có ḷng để thực
hành pháp. Họ đến để nghe pháp thoại, nhưng thực ra họ chẳng có nghe.
Đôi lúc tôi được mời đến nói chuyện ở những nơi hội hợp
quan trọng, nhưng thật là phiền cho tôi khi phải đi. Tại v́ sao? V́ khi
tôi nh́n những người có mặt ở đó, tôi thấy rơ là họ đến không phải để
nghe pháp thoại.
Vài người mang mùi rượu nặc nồng, họ hút thuốc, họ tán gẫu...
Nói pháp thoại ở những nơi nầy thật là không có lợi ích.
Người ta phụng phịu, lơ đăng, họ nghĩ, "Chừng nào ông thầy mới hết nói
đây?... Làm cái nầy không được, làm cái kia không được..." và cứ như thế
tư tưởng họ chạy lung tung.
Đôi lúc họ mời tôi đến để nói chuyện chỉ v́ xă giao thôi. "Thưa Thầy,
xin Thầy đến cho chúng con một bài pháp thoại."
Họ không muốn tôi nói nhiều, v́ có thể làm họ khó chịu!
Khi mà tôi nghe nói như vậy, th́ tôi đă hiểu việc ra sao rồi.
Những người nầy không thích nghe pháp. Pháp thoại làm họ khó chịu. Nếu
tôi cho một bài pháp ngắn th́ họ sẽ không hiểu. Cũng như khi bạn chỉ ăn
có một ít, có đủ no không ?
Dĩ nhiên là không rồi.
Đôi lúc tôi đang nói để giới thiệu bài pháp thoại bữa đó,
th́ có một ông say lớn tiếng, " Được rồi, tránh đường, tránh đường, hăy
nhường lối cho Thầy ra!" -- ông ta muốn đuổi tôi ấy mà!
Khi mà gặp những người như thế, tôi hay suy ngẫm về bản chất của con
người. Giống như là một người có chai nước đầy rồi mà c̣n đi xin thêm
nước. Đâu c̣n chỗ nữa mà bỏ thêm vào.
Thật là phí thời gian và công sức mà giảng dạy cho họ, v́
tư tưởng họ đă đầy ấp rồi. Nếu c̣n bỏ thêm vào th́ chỉ làm tràn một cách
vô ích.
Nếu chai của họ trống th́ c̣n có chỗ mà bỏ nước vào, và như thế th́ lợi
ích cho cả hai người, người xin cũng như người cho.
Cũng như vậy, khi mà người ta thật sự muốn nghe pháp
thoại, họ ngồi yên lặng, lắng nghe chăm chú, tôi sẽ thấy hứng thú giảng
dạy cho họ hơn.
Nếu họ không chú ư th́ cũng như người đă có chai nước đầy... không c̣n
chỗ để bỏ thêm ǵ khác. Thật là phí thời gian của tôi khi nói chuyện với
những người như thế. Trong những trường hợp nầy, tôi thật không có sức
để mà giảng dạy. Bạn không thể bỏ nhiều công sức trong lúc cho, khi mà
người có mặt không bỏ ra công sức để thâu nhận.
Thời gian gần đây, những cuộc pháp đàm đều như thế, và càng lúc càng tệ.
Con người không kiếm sự thật, họ học chỉ để có được sự
hiểu biết cần thiết để mà làm ra tiền, lo cho gia đ́nh, và nuôi sống bản
thân. Học sinh hiện nay biết nhiều hơn học sinh thời trước. Họ học hỏi
được nhiều hơn, và mọi thứ tiện lợi hơn. Nhưng đồng thời họ cũng lộn xộn
hơn và khổ hơn lúc xưa.
Tại sao như vậy? Bởi v́ họ chỉ chú trọng đến cái hiểu biết để sau dùng
làm phương tiện sinh sống.
Cả đến giới tu sĩ cũng như thế. Đôi lúc tôi nghe họ nói, " Tôi không trở
thành tu sĩ để thực hành pháp. Tôi chỉ thọ giới để được học". Đây là lời
nói của người đă tự tách rời khỏi con đường thực tập. Không có tương
lai, đây là ngơ cụt. Khi mà những người thầy như vầy giảng dạy th́ họ
chỉ nói bằng kư ức. Họ dạy một việc nhưng mà tư tưởng họ lại ở những nơi
khác. Những bài giảng như thế không có ư nghĩa ǵ hết.
Cuộc đời là như vậy đó.
Nếu bạn gắng sống đạm bạc, thực hành pháp và sống yên lành, th́ người ta
nói bạn kỳ cục và phản xă hội. Họ nói bạn làm chận đứng sự phát triển
của xă hội. Họ c̣n hăm dọa bạn nữa. Dần dần bạn bắt đầu tin rằng họ đúng
và trở lại nếp sống của thế gian, ch́m sâu từ từ trong thế gian và rồi
th́ không thể nào ra khỏi được. Vài người nói, " Tôi không thể ra được
v́ tôi đă ch́m sâu lắm rồi." Và xă hội là như thế đó. Xă hội không thấy
được giá trị của phật pháp.
Giá trị của phật pháp không thể t́m trong sách vở. Đấy
chỉ là những phiến diện của pháp, pháp thật sự chỉ có nơi kinh nghiệm
của người thực tập.
Nếu bạn hiểu rơ được pháp th́ bạn sẽ hiểu rơ được tư tưởng ḿnh, bạn sẽ
thấy được sự thật nơi đó. Khi mà sự thật hiện hữu th́ mọi vọng tưởng sẽ
tự dưng bị chặt đứt.
Dù trong hiện tại hay tương lai, lời dạy của Đức Phật là một sự thật
trường tồn. Đức Phật đă phơi bày sự thật nầy 2.500 năm trước và đến nay
sự thật ấy vẫn không đổi thay. Lời dạy của Đức Phật không thể được thêm
vô hay bị cắt bớt. Đức Phật đă nói, " Những ǵ Như Lai đă đề ra không
được loại bỏ, và những ǵ Như Lai không nói đến không được thêm vào." Và
như thế, Đức Phật đă ngăn chận sự thêm bớt có thể xảy ra đối với giáo
pháp của Ngài.
Tại sao như thế?
Bởi v́ đấy là lời dạy của một người đă không c̣n ô nhiễm. Không cần biết
xă hội thay đổi ra sao, nhưng những lời dạy của Đức Phật sẽ luôn luôn là
sự thật, không bao giờ thay đổi. Bao thế hệ đến rồi đi, nhưng những điều
Phật dạy không bao giờ thay đổi, bởi v́ đó là những sự thật.
Ai đă đặt ra sự thật nầy ?
Sự thật tự nơi nó phát sinh! Có phải chính Đức Phật đă đặt ra nó ?
Thưa không. Đức Phật chỉ t́m thấy sự thật, sự thật của mọi vật như nó
là, và Ngài đă nói lên những ǵ Ngài khám phá ra được.
Sự thật luôn là sự thật cho dù có Phật ra đời hay không.
Đức Phật chỉ là người khám phá ra sự thật chứ không phải là người đă
"chế biến" ra sự thật.
Sự thật luôn hiện hữu. Chỉ có Đức Phật là người đă đi t́m
và khám phá ra sự thật để t́m ra cái "bất tử" đă được dạy trong giáo
pháp của Ngài.
Ngài chỉ khám phá ra cái sự thật hiện hữu muôn đời mà trước Ngài chưa ai
t́m thấy.
Có một thời gian sự thật nầy sáng tỏ và sự thực tập giáo
pháp được tăng trưởng. Theo thời gian và những thế hệ tiếp nối sự thực
tập bị suy thoái và giáo pháp bị phai tàn.
Sau đó th́ giáo pháp được chỉnh đốn lại và một lần nữa lại nở rộ.
Theo thời gian th́ môn đồ của giáo pháp cũng tăng dần, phồn thịnh được
một lúc rồi th́ một lần nữa giáo pháp lại bắt đầu đi vào bóng tối của
thế gian. Cho đến một lúc giáo pháp không thể c̣n tồn tại, và lúc nầy
th́ sự hỗn loạn sẽ ngự trị. Rồi lại đến một lúc sự thật được phục hồi.
Sự thật th́ chẳng mất đi đâu hết. Khi Đức Phật nhập diệt th́ giáo pháp
vẫn tồn tại, hiện hữu.
Thế giới xoay tṛn như thế. Giống như cây xoài. Cây
trưởng thành, nở hoa, kết trái, trái lớn và chín dần. Sau đó th́ trái hư
hoại và hạt cây rớt xuống đất để trở thành một cây xoài mới. Và cứ thế
chu kỳ mới lại bắt đầu lần nữa. Tuần tự có rất nhiều trái chín tiếp tục
sinh, trụ, hoại, diệt.
Thế gian cũng như thế. Thật ra không có ǵ thay đổi nhiều, thế gian chỉ
xoay quanh chu kỳ của sự vật.
Cuộc sống của chúng ta ngày nay cũng vậy. Ngày hôm nay
chúng ta chỉ làm những việc cũ thường làm. Con người suy nghĩ nhiều quá.
Có rất nhiều thứ làm họ thích thú, nhưng chẳng có thứ nào đưa họ đến sự
đầy đủ.
Có những môn khoa học như toán, vật lư, tâm lư, v...v... Bạn có thể t́m
ṭi nghiên cứu bất cứ thứ ǵ, nhưng bạn chỉ có thể kết luận mọi thứ với
sự thật.
Ví như có một chiếc xe ḅ. Bánh xe th́ không dài, nhưng
vết xe dài. Khi nào con ḅ kéo xe th́ vết xe đi theo. Bánh xe tṛn, vết
xe dài; vết xe th́ dài mà bánh xe th́ tṛn. Khi con ḅ kéo xe đi th́ bạn
thấy vết xe kéo dài ra . Khi nào mà con ḅ kéo, th́ bánh xe tiếp tục
lăn...cho đến một lúc nào đó, con ḅ mệt mỏi và liệng đi cái xe, cái xe
trống nằm đó, bánh xe không lăn nữa. Với thời gian, cái xe sẽ hư hoại,
mục nát, và những bộ phận của nó sẽ trở về với đất, nước, gió, lửa.
T́m sự b́nh an trong thế gian giống như bạn đang kéo xe
vậy, vết xe sẽ kéo dài vô tận. Khi mà bạn theo thế gian th́ không có sự
ngừng nghỉ.
Nếu bạn chịu dừng lại không theo nữa, th́ chiếc xe sẽ được nghỉ, bánh xe
thôi không lăn. Theo thế gian là bánh xe lăn không bao giờ dừng.
Tạo nghiệp xấu cũng giống như thế. Nếu bạn theo thói quen cũ th́ sẽ
không bao giờ có sự ngừng nghỉ. Nếu bạn dừng lại th́ tức khắc có sự
ngưng nghỉ. Và như thế là bạn đang bắt đầu thực hành giáo pháp đấy.

|
THIỀN LÀ G̀
?
Venerable Ajahn Sumedho -Truyền việt |
|
 |
|
 |
Hiện nay, chữ "Thiền" được sử dụng rất nhiều để diễn tả nhiều cách thực
tập.
Trong Phật giáo, chữ Thiền được dùng để chỉ định hai cách
thực tập sau đây.
Cách thực tập một gọi là "Thiền định " (samatha), và cái
thứ hai gọi là "Thiền Minh Sát " (Vipassana).
Thiền định
(Samatha) là cách tập trung ư tưởng vào một vật và không để bị chi phối
bởi ǵ khác. Ta chọn một đề mục như hơi thở chẳng hạn, và chú tâm theo
dơi hơi thở ra vào. Trong cách thực hành nầy sau một thời gian huân tập,
tâm trí của bạn sẽ được an lành, yên tịnh, v́ những ư tưởng lăng xăng
lộn xộn đến từ những cảm thọ đă bị cắt đứt. Không cần phải nói, muốn
được yên tịnh, bạn cần phải sử dụng những ǵ có thể mang lại sự yên
tịnh. Nếu bạn muốn náo nhiệt th́ đừng t́m đến thiền viện, mà hăy đi vào
vũ trường. Sự náo nhiệt hay làm chúng ta chú ư, phải không nào ?
Sự náo nhiệt có những rung động rất mạnh và chúng hút bạn
vào trong đó. Nếu đi xem phim mà phim sôi động th́ bạn cũng náo nức
không kém. Bạn chẳng cần chút cố gắng nào. Nhưng nếu bảo bạn phải chú
tâm vào cái ǵ yên tịnh th́ thiệt là chán, phải vậy không ? C̣n ǵ chán
bằng khi phải theo dơi hơi thở khi mà bạn đă từng quen chú ư đến những
cái náo nhiệt hơn ?
V́ thế đối với sự thực tập nầy, bạn cần phải có một sự cố
gắng lớn nơi tâm trí của bạn, v́ hơi thở không có ǵ đặc biệt, không
lăng mạn, không phiêu lưu, hay hấp dẫn... hơi thở rất là tầm thường. Nó
chỉ có như thế, v́ vậy bạn phải cố gắng nhiều hơn.
Trong cách thiền nầy, bạn không cần phải sáng tạo bất cứ
một h́nh ảnh nào. Chỉ cần chú tâm theo dơi hơi thở. Sau một thời gian
theo dơi hơi thở, dần dần hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng, đều đặn, và bạn
sẽ trở nên trầm lặng hơn... Tôi biết có những lời khuyên nên tập thiền
định để giúp không bị áp huyết cao, v́ thiền định làm cho nhịp tim đập
tốt hơn. Đây là một cách thực tập để được yên tịnh. Bạn có thể chọn
những đề mục khác nhau để tập trung sự chú tâm cho đến khi mà bạn cảm
thấy ḿnh và đề mục chú tâm trở nên Một. Sau một thời gian tập luyện đến
mức độ nầy th́ gọi là "sự ḥa nhập."
Trong khi Thiền Minh Sát (Vipassana) hoặc "Thiền
quán" th́ với cách thực tập theo cái nh́n thấu đáo th́ tư tưởng của bạn
sẽ được mở rộng.
Bạn không cần phải chọn những đề mục đặc biệt để tập chú tâm, hoặc phải
ḥa nhập với chúng. Nhưng bạn chỉ cần nh́n, quan sát để hiểu rơ sự vật
như nó là. Khi nào bạn thấy rơ sự vật như nó là th́ bạn sẽ thấy những
cảm xúc thật là vô thường. Mọi thứ bạn thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm;
tất cả những khái niệm trừu tượng... những cảm giác của bạn, kư ức hay ư
nghĩ -- đang trên đà thay đổi, và tâm tưởng của bạn cũng v́ thế mà đổi
thay... Chúng xuất hiện một lúc rồi chúng biến mất.
Trong Thiền Vipassana, chúng ta giữ ư niệm của sự vô
thường (hoặc thay đổi) như là một cách để quan sát những cảm thọ. Đây
không phải là một triết lư hay một sự tin tưởng có tính cách Phật học,
mà đây là thấy được Vô thường -- thấy mọi vật một cách thấu đáo, với cặp
mắt của hiểu biết, để biết rơ mọi sự vật như nó là.
Đây không phải là cách phân tách những sự vật để đánh giá
rằng chúng như thế nầy hay thế khác - và khi sự vật không như ta nghĩ,
ta lại t́m cách suy đoán nguyên nhân tại sao. Với sự thực tập về "cái
thấy rốt ráo", chúng ta không phân tách hay thay đổi sự vật theo ư của
ḿnh.
Trong cách thực tập nầy, chúng ta chỉ kiên nhẫn quan sát
để thấy những ǵ xuất hiện sẽ biến mất, cho dù trên phương diện tinh
thần hay vật chất. Khi 'căn' và 'trần' duyên với nhau th́ ư thức liền
xuất hiện.
Sau đó là cảm giác thương hoặc ghét đối với những ǵ
chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm. Tất cả những tên gọi, những ư
tưởng, những chữ và khái niệm, chúng ta đặt ra theo kinh nghiệm của sự
cảm thọ.
Phần lớn đời sống của chúng ta được dựa trên sự phán đoán
sai lầm v́ chúng ta không hiểu cũng như không chịu t́m ṭi sự thật. V́
vậy đối với một người không "tỉnh thức", cuộc sống dường như chán
chường, lộn xộn, nhất là lúc mà những thất vọng hay đau buồn xảy đến. Và
như vậy, người đó dễ bị khủng hoảng thần kinh, v́ họ đă không quan sát
được sự vật như chúng là.
Trong danh từ Phật giáo, chúng ta dùng chữ Pháp (Dhamma
or Dharma) có nghĩa "sự thể như nó là" - "luật thiên nhiên". Khi chúng
ta quan sát và "thực tập pháp", chúng ta mở rộng tư tưởng của chính ḿnh
để hiểu rơ sự vật như nó là. Như vậy, chúng ta sẽ không c̣n phản ứng mù
quáng, chạy theo những cảm thọ; chúng ta đă hiểu được, và với sự hiểu
biết nầy, là một bắt đầu cho sự từ bỏ chạy theo cảm thọ.
Chúng ta không bị bề ngoài của sự vật làm mờ mắt, và
chúng ta bắt đầu giải thoát cho chính ḿnh khỏi sự ràng buộc. Để được
tỉnh thức không phải là để trở thành như thế nào mà là "sống như thế".
V́ vậy, chúng ta hăy tập quan sát ngay bây giờ xem làm
thế nào để trở nên như thế trong tương lai. Ngồi nơi đây, chúng ta quan
sát thân thể như nó là. Thân thể thuộc về thiên nhiên, phải không nào ?
Cơ thể con người thuộc về đất, nó cần được nuôi dưỡng
bằng những thức từ mặt đất. Bạn không thể sống bằng không khí hoặc thực
phẩm nhập cảng từ hành tinh hay vệ tinh. Bạn cần phải ăn những thức ăn
được nuôi dưỡng và lớn lên từ trái đất nầy. Khi mà cơ thể hư hoại, nó
trở về cát bụi, nó hư thối, mục rửa và trở nên một với đất. Nó chỉ theo
chu tŕnh tự nhiên của sinh và diệt, của thành và hoại. Tất cả những ǵ
sanh ra sẽ lớn lên, già đi và rồi chết. Tất cả mọi thứ trong thiên nhiên
cho đến vũ trụ, cũng có thời hạn của chúng; sanh rồi chết, bắt đầu và
kết thúc. Tất cả những ǵ chúng ta nhận thấy và có khái niệm đều trên đà
thay đổi; chúng vô thường, v́ thế không có ǵ có thể làm bạn hài ḷng
lâu dài.
Với sự thực tập pháp, chúng ta quan sát sự bất như ư của
các cảm thọ.
Bạn hăy để ư xem, trong cuộc sống của bạn, khi bạn muốn được như ư từ
những cảm thọ th́ sự thỏa măn nầy chỉ ngắn hạn, dù hạnh phúc, cũng chỉ
trong giây phút -- và rồi th́ nó cũng thay đổi. Bởi v́ trong ư thức cảm
thọ, không có tính chất thường c̣n. V́ vậy cảm thọ luôn đổi thay và v́
si mê, thiếu hiểu biết, nên chúng ta hay đ̣i hỏi quá đáng nơi những cảm
thọ.
Chúng ta hay hy vọng, đ̣i hỏi, tạo ra đủ mọi thứ để rồi
sau đó cảm thấy thất vọng, chán chường, hối tiếc, với nỗi thống khổ già,
bệnh, chết.
Đây là cách xem xét ư thức của cảm thọ. Tư tưởng có thể
suy nghĩ một cách trừu tượng, có thể tạo ra đủ thứ ư kiến và h́nh ảnh,
có thể làm cho mọi vật trở nên xinh đẹp hay thô xấu. Nó có thể biến một
trạng thái từ sang đẹp, hạnh phúc tới đau đớn, thô kệch, khổ sở : từ
thiên đàng đến địa ngục. Nhưng không có thiên đàng hay địa ngục thường
trực, bởi v́ tất cả đều là vô thường. Trong lúc chúng ta thực tập thiền,
chúng ta bắt đầu biết được những giới hạn, thấy rơ sự bất như ư, tính
chất thay đổi của cảm thọ; chúng ta cũng bắt đầu hiểu rằng không có ǵ
là "tôi" hay "của tôi", tất cả chỉ là "anatta", vô ngă.
V́ vậy, khi hiểu rơ điều nầy, chúng ta bắt đầu giải thoát
cho chính chúng ta khỏi những ràng buộc với những trạng thái của cảm
thọ. Không phải là chúng ta chán ghét chúng nhưng để hiểu rơ thực chất
của chúng.
Đây là một sự thật cần được thấu hiểu, không phải là niềm
tin.
"Anatta" không phải là niềm tin của Phật giáo nhưng mà là một chứng
nghiệm thực sự. Bây giờ nếu bạn không chịu bỏ thời gian để t́m hiểu điều
nầy, và v́ thế suốt cuộc sống của bạn, bạn tin rằng bạn là thân thể nầy.
Măc dù đôi lúc bạn cũng chợt nghĩ, "Ô, tôi không phải là thân nầy" trong
lúc bạn đọc một bài thơ gây hứng khởi hoặc một đoạn về triết lư mới.
Bạn có thể nghĩ thật là hay quá, v́ ḿnh không phải là
thân thể nầy, nhưng chính bạn đâu có chứng nghiệm được điều đó. Cho dù
có những người rất thông thái sẽ nói, "chúng ta không phải là thân thể,
thân thể không phải là ta." - Nhưng thật ra, nói th́ dễ, thật sự Biết
th́ là việc khác.
Xuyên qua việc thực tập Thiền, khi có được sự hiểu biết
về tính chất thật của sự vật, chúng ta bắt đầu cởi trói cho chính chúng
ta khỏi những ràng buộc tham đắm. Khi chúng ta không c̣n đ̣i hỏi, ham
muốn th́ chúng ta sẽ không c̣n hối tiếc hay chán nản, đau buồn khi chúng
ta không được những ǵ chúng ta muốn.
Và đây là mục đích -- Niết bàn (Nibbana hay Nirvana), là
sự thấu hiểu về không ham muốn bất cứ điều ǵ có bắt đầu và có kết thúc.
Khi chúng ta bỏ đi những ham muốn thường hằng, chúng ta bắt đầu thấu
hiểu được sự bất tử.
Nhiều người chỉ sống một cuộc sống giống như con chó của
Pavlovian.
Dù có thông minh nhưng chỉ là sự thông minh được "uốn nắn" sẵn.
Nh́n xem con chó của Pavlovian, chảy nước dăi khi nghe tiếng chuông -
chúng ta cũng có hơn ǵ đâu. Bởi v́ với kinh nghiệm cảm thọ, tất cả chỉ
là được "uốn nắn" sẵn. Thân thể, cảm giác, kư ức, ư nghĩ là những khái
niệm đă ''có sẵn '' trong tâm thức, xuyên qua cuộc sống làm người.
Được sanh ra trong một gia đ́nh, chủng tộc, quốc tịch,
thuộc về một giai cấp nào đó, dựa trên cơ thể đàn ông hay đàn bà, xấu
hay đẹp, vân vân và vân vân. Đây là tất cả những trạng thái ''có sẵn '',
không phải là của chúng ta, không phải Tôi hay Của tôi.
Những trạng thái nầy theo quá tŕnh của quy luật thiên
nhiên, chúng ta không thể nói, "Tôi không muốn già đi" -- Chúng ta có
thể nói như thế, nhưng mà cơ thể vẫn cứ già. Chúng ta không thể nào đ̣i
hỏi cơ thể không bao giờ đau đớn hay đừng bịnh, lúc nào cặp mắt cũng
thấy rơ, tai lúc nào cũng nghe rơ.
Chúng ta thường hy vọng như vậy, có phải không nào ?
"Tôi mong sao cho tôi luôn khỏe mạnh, không bao giờ bị tàn tật, luôn
luôn có mắt sáng, không bao giờ bị mù ḷa; có tai thính để luôn luôn
nghe rơ, không như những người già lăng tai, luôn bị người la vào mặt;
và tôi sẽ không bị lăng trí, lúc nào cũng điều khiển được các giác quan
của ḿnh cho đến 95 tuổi, vẫn c̣n lanh lẹ, sáng suốt, yêu đời, và được
chết trong giấc ngủ không đau đớn."
Chúng ta ai ai cũng đều mong muốn như vậy cả. Có những
người trong chúng ta có thể sống lâu và chết an lành. Cũng có thể xảy ra
như thế, nhưng mà khó nói trước lắm!
Tuy nhiên, gánh nặng cuộc sống sẽ nhẹ đi nhiều nếu chúng
ta biết được giới hạn của chính ḿnh. Chúng ta biết được chúng ta làm
được ǵ và học được ǵ trong đời sống nầy. Những nỗi khổ đau của con
người đều bắt nguồn từ những ham muốn quá đáng, muốn được hết những ǵ
ḿnh đ̣i hỏi.
Do đó, khi thực tập thiền, th́ chúng ta sẽ thấu hiểu rơ
ràng về sự vật cũng như tính chất thật của chúng. Chúng ta có thể thấy
vẻ đẹp, vẻ cao quư, sự sung sướng, cũng như sự xấu xí, sự đau đớn, nỗi
khổ đau, là những trạng thái vô thường.
Nếu bạn thật sự hiểu điều nầy th́ bạn có thể sung sướng
và chịu đựng tất cả những ǵ có thể xảy ra cho bạn. Thật ra, bài học của
cuộc sống là học chịu đựng những ǵ chúng ta không thích nơi chúng ta
cũng như nơi cuộc sống, để trở nên kiên nhẫn và tử tế hơn; và sẽ không
quá chú trọng đến những ǵ bất toàn nơi những cảm thọ. Chúng ta có thể
thích ứng và chịu đựng cũng như chấp nhận tính cách đổi thay của sự vật,
để không c̣n bám víu vào chúng nữa. Khi chúng ta không c̣n đồng hóa ḿnh
với sự vật, chúng ta sẽ kinh nghiệm được bản chất thật của ḿnh. Một cái
ǵ đó trong sạch, sáng suốt, hiểu biết. Không c̣n sự lệ thuộc giữa ta và
vật. Không có "của tôi" hay "tôi"... không có ǵ để bám víu vào hay phải
đạt cho bằng được.
Những lời dạy của Đức Phật giúp chúng ta thấy rơ được sự
vật như nó là. Những lời dạy đưa chúng ta đến sự hiểu biết. Những lời
nầy không phải là những lời răn hay giáo điều mà chúng ta buộc phải chấp
nhận hay tin tưởng. Chúng ta không học những lời dạy của Đức Phật như
học bài; nhưng mà học những lời nầy để tự nhắc nhở ḿnh phải luôn tỉnh
thức, sáng suốt và chú ư đến những ǵ đang xuất hiện cũng như biến mất.
Đây là một cách luôn luôn theo dơi và quan sát không
ngừng nghỉ về những hiện tượng của cảm thọ. Khi có được thân thể nầy và
sống trong một xă hội như hiện nay, ai ai trong chúng ta cũng cảm thấy
bị "bực bội" phần nào.
Mọi sự diễn biến rất nhanh... truyền h́nh và máy móc hiện đại, xe cộ...
mọi thứ dường như tiến triển ở mức độ khá nhanh.
Thật là hay, thật là náo nhiệt và thích thú, và mọi thứ
h́nh như thu hút mọi giác quan của chúng ta. Chẳng hạn ở Luân Đôn, để ư
xem, chúng ta sẽ thấy những bích chương quảng cáo mời gọi chúng ta dùng
rượu và thuốc lá!
Sự chú ư của chúng ta được mời gọi để tiêu thụ, các giác
quan luôn luôn t́m kiếm những kích thích mới cho sự cảm thọ. Xă hội vật
chất luôn kích thích ḷng tham của chúng ta, để cho chúng ta phải xài
tiền, và sẽ không bao giờ hài ḷng với những ǵ ḿnh đang có. Lúc nào
cũng phải có ǵ khác hơn, tốt hơn, đẹp hơn, ngon hơn, mới hơn những thứ
của ngày hôm qua....
Và cứ tiếp tục như thế, các giác quan của bạn bị bao thứ mời gọi, lôi
kéo...
Nhưng khi chúng ta bước vào thiền pḥng, chúng ta không
đến đây để nh́n nhau, hoặc để cho những đồ vật trong pḥng lôi cuốn.
Nh́n mọi vật để nhắc nhở lấy ḿnh, nên tập trung tư tưởng vào một vật an
lành, hoặc t́m hiểu và suy ngẫm về bản chất của sự vật. Chúng ta cần
phải chứng nghiệm điều nầy tự nơi bản thân mỗi người. Không có sự giác
ngộ của ai khác có thể làm cho ḿnh trở nên giác ngộ. Đây là một việc
làm đ̣i hỏi nơi tự tâm. Không thể nào đem sự giác ngộ của người khác để
giúp ḿnh giác ngộ.
Đây là một cơ hội để khuyến khích và chỉ dẫn cho những ai
muốn "tự thức tỉnh". Nơi đây, thường th́ không ai giựt bóp của bạn cả!
V́ đây là Thiền Viện nên vẫn an toàn hơn ngồi ở gánh xiếc phải không nào
? Thiền Viện là nơi tạm trú để khai thị tư tưởng của chúng ta. Đây là
một cơ hội duy nhất của chúng ta để thực tập Thiền khi chúng ta đang
mang được thân người.
Được làm người chúng ta có được tư tưởng có thể suy ngẫm
và quan sát. Bạn có thể quan sát sự giận dữ, hay ghen tuông, hoặc sự lộn
xộn nơi tư tưởng của ḿnh. Khi bạn ngồi xuống và cảm thấy thật sự lộn
xộn hay tức giận, có một cái ǵ nơi bạn đang biết được điều nầy.
Nếu bạn không thích nó th́ bạn sẽ phản ứng một cách mù
quáng.
Nhưng nếu bạn kiên nhẫn và quan sát th́ bạn sẽ thấy sự tức giận, lộn
xộn, hay tham lam đều là những trạng thái luôn thay đổi, không thường
hằng.
Như một con thú th́ không thể quan sát như chúng ta được.
Khi nó giận th́ nó chỉ biết giận. Thử bảo một con vật nào đang giận,
quan sát cái giận của nó xem! Dĩ nhiên là không thể nào được.
Nhưng chúng ta có thể quan sát được con mèo, và luôn cả
những ham muốn của nó khi nó nh́n thấy đồ ngon. Chúng ta thấy đồ ngon,
thích thú những đồng thời cũng thấy được cái ham muốn nơi chính ḿnh. Và
đây là cách dùng sự sáng suốt của chính ḿnh để theo dơi cái ham muốn và
để hiểu rơ nó hơn. Cái mà đang quan sát sự ham muốn. Sự ham muốn không
thể quan sát lấy chính nó. V́ thế cái mà đang quan sát theo dơi sự vật,
chúng ta gọi là "Phật" hay "Phật tánh" -- "Cái biết" , sự chú ư về những
ǵ đang xảy ra.
Trích trong " The meditation teaching of Ven. Sumedho."
Mindfulness : The Path to the Deathless
|
VỤ TRỤ HỌC PHẬT GIÁO
(Nguyên tác : Buddhist Cosmology by Rev. Tri
Ratna Priya Karuna)
Rev. Tri Ratna Priya Karuna -Truyền việt |
|
 |
|
 |
Chủ đề của buổi thuyết pháp hôm nay là Vũ trụ học Phật giáo,
một từ không khi nào nghe thấy trong các buổi nói chuyện thường
ngày. Thế thì Vũ trụ học là gì ? Tự điển giải thích rằng
đó là một ngành triết lý có liên hệ đến nguồn gốc, sự tiến
triển và cấu trúc của vũ trụ.
Điều nầy nghe như một định nghĩa ghê gớm, mà sự
thăm dò của ngành nầy ít có liên quan đến những vấn đề mà
chúng ta hằng ngày gặp phải. Thật ra, vấn đề ngược lại thì
đúng hơn, từ khi có sự hiểu biết về những vận hành và quy
luật của vũ trụ, và mô hình của quy luật nầy đang mở bày ra để
có thể cung cấp cho chúng ta, những con người tầm thường, sự
chỉ dẫn quý báu. Nếu chúng ta đủ sáng suốt để đi theo sự hướng dẫn
nầy, chúng ta sẽ tránh được những quyết định sai lầm có thể dẫn đến
những hậu quả không tốt, thay v́ tiến triển đến các mục đích tốt đẹp
trong đời sống của chúng ta.
Thêm vào đó, bởi trí tuệ vô hạn của Thầy chúng
ta, đức Phật Sakyamuni (Thích Ca) và những bậc trước đó đã
xuất hiện trên thế gian trước thời của đức Phật Thích Ca, chúng
ta thật may mắn là những người thừa kế một truyền thống vũ
trụ học vĩ đại, đáng kính, đáng sợ, hoàn toàn làm lu mờ
những khái niệm tôn giáo Tây phương. Kể cả trước thời của đức
Phật, những nhà thông thái và triết gia Ấn Độ qua sự tưởng
tượng, sử dụng những sức mạnh siêu phàm và sự trầm tư của
một trí tuệ cổ xưa nhất đã có từ thời tiền sử, đã xoay xở
để đạt đến khái niệm của vũ trụ bao la, của không gian, và thời
gian không thể đo lường. Trên thực tế, họ đã đạt đến một điểm
– điểm vô tận.
Văn học Phật giáo rõ ràng chứng minh sự thật là
đức Phật, với Phật nhãn, đã thanh lọc và hoàn hảo hoá sự
hiểu biết về cái vô hạn thực sự của vũ trụ cũng như thời
gian dài không thể tính được của thời quá khứ, hiện tại, và
tương lai trong vòng tròn của sinh diệt và hiện hữu. Vũ trụ
được khoa học biết đến chỉ là tầng thấp nhất của ba mươi mốt
tầng, vũ trụ không thể đếm được, vì không có khởi đầu.
Vũ trụ vật chất bao gồm sự vô hạn định của nhiều
hệ thống thế giới nằm rải rác trong không gian vô định, mỗi thế
giới đều thành hình và rồi bị huỷ diệt trong ṿng thời gian vô
thuỷ vô chung.
Để cho các đệ tử hiểu chút ít về ư nghĩa của số
lượng lớn thời gian cần có, để hiểu về cuộc sống mà họ hiện đang trải
qua, đức Phật tuyên bố số lượng sữa mẹ được uống và nước mắt đă chảy
trong những kiếp sống trước c̣n nhiều hơn nước trong bốn đại dương.
Khái niệm của Phật giáo bao gồm chân trời to tát, rộng
lớn với tầm nh́n vô tận, ngược lại với khái niệm hạn hẹp của địa lư được
t́m thấy ở văn chương tôn giáo của Do Thái và Ả Rập (Semitic), đặc biệt
là Kinh Thánh; theo lời của một tác giả đương thời, “giống như bước ra
một túp lều không cửa sổ và nh́n lên bầu trời nửa đêm đầy sao".
Chiều dài không tính được của thời gian thế giới được nói
đến như là một kiếp hoặc một đại kiếp. Một kiếp được chia ra thành bốn
thời gian ngắn, mỗi thời gian rất dài, không thể đo lường kể cả bằng
ngàn năm. Trong thời gian đầu của một kiếp, hệ thống của những thế giới
đă hiện hữu hoàn toàn bị tiêu huỷ, hoặc chuyển thể sang những nguyên tố
kết hợp. Phần đông chúng sinh sống ở nhiều tầng hiện hữu khác nhau, được
tái sanh ở thế giới của Phạm Thiên, tầng hiện hữu cao nhất và tinh tế
nhất, không bị huỷ diệt và tan biến. Thời gian thứ hai của một kiếp bắt
đầu, chúng ta t́m những phần tử năng lượng c̣n lại, tiêu biểu hoàn toàn
tính khách quan, và thế giới Phạm Thiên và các chúng sinh sống ở đó,
biểu hiện tính cách chủ quan, bị chia cách bởi các thái cực của sự hiện
hữu phi thường. Sự tách rời nầy tiếp tục cho đến thời gian thứ ba của
một kiếp đang h́nh thành. Trong thời gian nầy, hệ thống thế giới tiến
hoá từ những phần tử c̣n lại, trong khi số đông chúng sinh th́ từ trời
Phạm Thiên thác sinh trở lại trên mặt đất tối tăm và đầy nước. Điều nầy
dường như không làm phiền đến các chúng sinh có tâm thức ở từng trời
Phạm Thiên, họ vẫn sống như họ từng sống, thân thể sáng chói, được nuôi
dưỡng bởi sự sung sướng và không có giới tính.
Với thời gian dài vô tận, các điều kiện (nhân duyên) bắt
đầu thay đổi. Cặn bă, với một chút sôi sục của nước gạo, bắt đầu tụ lại
trên mặt đất lạnh, và những sinh vật của địa cầu bắt đầu nếm thử và
thích thú với vị giác nầy. Niềm sung sướng nầy dẫn đến sự ham muốn và
dần dần họ nương tựa vào cặn bă nầy để làm món ăn. Những con người ở đây
thấy thân thể nhẹ nhàng của họ mất dần ánh sáng, và trở nên nặng nề, thô
kệch, và h́nh dạng và diện mạo của họ bắt đầu biến đổi. Dần dần, nước
phủ trên mặt đất rút xuống; sương mù biến mất, và mặt trời, mặt trăng
hiện rơ trên nền trời.
Với thời tiến hoá liên tục, đầu tiên rêu mọc, rồi đến các
cây ḅ sát, cây leo, và cuối cùng là những hạt giống ăn được xuất hiện.
Lúc con người học tồn tại nhờ vào những nguồn thức ăn nầy, họ trở nên
thô kệch, mất hết ánh sáng và nét rạng rỡ. Và rồi, họ thay đổi, trở
thành những giống khác nhau, cũng như trở thành nam và nữ. Sự chia rẽ
thành hai giới tính đưa đến t́nh trạng ham muốn nhục dục, đam mê, và
ganh ghét, và đồng thời h́nh thành nhóm gia đ́nh, và rồi sự thành lập xă
hội. Hồ sơ vấy máu của vài chục ngàn năm vừa qua, là bằng chứng cụ thể
về t́nh trạng điển h́nh của thời kỳ cuối của giai đoạn thứ ba của một
kiếp.
Phần thứ tư và cuối cùng của một kiếp là lúc hệ thống thế
giới vẫn giữ ở nấc thang phát triển mà nó đă đạt đến, cho đến lúc bắt
đầu một kiếp mới, trong lúc nầy cả tiến tŕnh được lập lại. Dù muốn dù
không, chúng ta cũng đang ở bên lề giai đoạn thứ tư của kiếp hiện tại.
Cần phải thấy rơ là tiến tŕnh khó tin nầy chứa đựng một mâu thuẫn gây
đau khổ : Khi hệ thống thế giới đi theo con đường đưa đến sự tiến bộ rất
cao về mặt vật chất, mỗi một bước tiến về mặt vật chất kèm theo đó là
một bước tuột dốc về mặt tinh thần, hoặc tâm linh.
Nguyên tắc nầy áp dụng cho toàn bộ hệ thống thế giới, và
trái đất vô nghĩa nầy là một phần trong hệ thống ấy. Hệ thống thế giới
có khoảng 10.000 thế giới.
Có rất nhiều hệ thống thế giới như nói ở trên, và chiều
dài của một kiếp thật là dài quá sức tưởng tượng, sự xuất
hiện của đức Phật chỉ là việc hiếm có, so với thời gian một
kiếp. Có vài kiếp được xem là những kiếp trống không v́ không có vị Phật
nào xuất hiện. Những kiếp khác may mắn hơn có thể có một hoặc nhiều vị
Phật. Hệ thống thế giới của chúng ta, trong ṿng nhiều kiếp được ưu đăi
với 28 vị Phật, kể cả đức Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni). Kiếp mà chúng
đang sống được xem là 1 kiếp rất thịnh vượng với năm vị Phật : Kusanda,
Konagamana, Kasyapsa, Sakyamuni và Maitreya, vị Phật tương lai.
Bây giờ chúng ta hăy để tâm đến những chúng sinh thông
minh, có tri giác của những loài khác nhau đang hiện hữu trong vũ trụ
của chúng ta, kể cả ở những vũ trụ không thể đếm hết, qua những thời đại
không thể đo lường. Mặc dầu, thông thường th́ chỉ có con người mới có
thể giác ngộ, nhưng có những tầng hiện hữu cao hơn và sung sướng hơn, có
những chúng sinh được ưu đăi với vẻ đẹp, sự sung sướng và quyền lực cao
hơn loài người rất nhiều. Tái sanh ở những thế giới nầy chỉ dành riêng
cho những chúng sinh biết làm việc phước thiện, và sống cuộc sống đoan
chính. Tuy vậy, những tầng trời nầy không thường hằng, và một khi nghiệp
tốt đă hết, những sinh linh nầy sẽ phải đầu thai lại làm người ở nơi
trần thế.
Dưới cơi trần, có vô số cấp bậc thấp, sống rất đau khổ,
những tầng địa ngục khủng khiếp, nơi đó các chúng sinh đă từng làm ác
đang bị trừng phạt cho đến khi họ thay đổi trở nên tốt hơn, và có mong
ước được tiến triển nơi cơi người, và nơi nầy là nơi duy nhất để có thể
giác ngộ và đạt đến Niết Bàn.
Tuy vậy, như chúng ta đă thấy, thời gian và không gian là
vô định, và hoàn cảnh của một chúng sinh trong đời sống đặc biệt nào đó
chịu nhiều ảnh hưởng của nghiệp quá khứ trong những kiếp trước. Năng
lượng nghiệp quả nầy h́nh thành thiên hướng, tính cách, và trong chừng
mực đáng kể, ảnh hưởng đến tư cách và cá tính của người nầy. Để có được
sự lựa chọn c̣n tuỳ thuộc vào việc người nầy bị khuất phục bởi năng
lượng không tốt của quá khứ, và chẳng chịu cố gắng để sửa đổi hành vi
xấu của ḿnh. Trong trường hợp nầy, kẻ nầy sẽ tái sanh trong một t́nh
trạng xấu hơn t́nh trạng hiện tại. Mặt khác, nếu người nầy t́m hiểu về
Phật tính, qua sự cố gắng để thay đổi khắc phục tính xấu, và để cho ư
thức vươn lên đến mức độ cao của trí tuệ, từ bi và sự sáng suốt, kiếp
tái sanh tới của người nầy không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, sẽ là một tái sanh
tốt đẹp, thuận lợi, với nhiều cơ hội để tiến triển đến mục đích tối
thượng – giác ngộ.
Do đó, con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về định mệnh
của chính ḿnh. Tất cả chúng sinh đều nặng trĩu nghiệp, được tái sanh,
để kinh nghiệm một cách không ngừng nghỉ về sự chuyển đổi vận mệnh, được
định sẵn hoàn toàn do những chọn lựa, và hành động của họ trong những
kiếp sống ở quá khứ. Đức Phật v́ trí tuệ và ḷng từ bi đă tuyên bố về sự
thực của ṿng luân hồi măi măi tiếp diễn cùng với đau khổ và sự bất như
ư. Đức Phật muốn những người theo Phật phải hiểu rơ hai nguyên nhân
khủng khiếp không thể tránh khỏi cho việc tái sanh không ngừng nghỉ, ấy
là ham muốn và si mê. Ham muốn và si mê chỉ bị khắc phục xuyên qua việc
giác ngộ, đạt đến trí tuệ, và việc tái sanh sẽ không c̣n nữa. Để giải
thoát khỏi ṿng luân hồi, dĩ nhiên mục tiêu tiến đến là Niết Bàn.
Đức Phật mở rộng những thảo luận về nhân duyên tái sanh ở
bài giảng về mười hai nhân duyên, được gọi là Pratitya Samutpada. Tương
quan phụ thuộc của nhân duyên, hay luật nhân quả của đạo Phật, được nói
đến trong mười hai nhân duyên đưa đến sự đau khổ triền miên và sự bám
víu vào việc tái sanh. Mỗi một nhân duyên trước dựa vào nhân duyên đă có
trước đó. Như vậy, khi si mê chấm dứt, th́ các bố trí của nhân duyên
cũng chấm dứt, ư thức dứt rồi, th́ tất cả mọi thứ như già, chết cũng như
tái sanh đều dứt bặt hết.
Sau khi đức Phật nhập diệt, cái thấy của đức Phật về luân
hồi, ṿng luân chuyển của hiện hữu, cùng với mười hai nhân nhuyên được
tŕnh bày như một sơ đồ, thường được thảo kỹ lưỡng, chi tiết trong bức
hoạ, được gọi là Bánh xe luân hồi (Wheel of Life). Dưới dạng biểu đồ nầy,
sơ đồ biểu trưng kịch đời của một người, với sự lựa chọn của họ và những
kết quả tiếp sau đó. Như chúng ta thấy sơ đồ tôi đang cầm trên tay,
nguyên bánh xe được nắm giữ ở miệng và nanh vuốt của Mara, trong trường
hợp nầy biểu trưng cho sự vô thường và cái chết. Ở chu vi của bánh xe,
chúng ta thấy mười hai nhân duyên và móc xích của nó. Ở trung tâm, chúng
ta thường thấy biểu tượng của ba độc : gà trống tượng trưng cho ham muốn,
rắn tượng trưng cho giận dữ-căm ghét và con heo biểu trưng cho ảo tưởng.
Những độc nầy được xem là những sức mạnh đẩy đưa chúng ta vào ṿng sanh
tử. Mỗi cá nhân phản ứng theo những sức mạnh nầy tạo thành nghiệp, từ
đây quyết định nơi nào trên ṿng bánh xe mà người đó sẽ bị tái sanh.
Như chúng ta quan sát sơ đồ, có thể thấy rằng, có sáu thế
giới để chúng sinh tái sanh. Tái sanh ở cơi trời, cơi A-tu-la hoặc cơi
người là phần thưởng cho cuộc sống đoan chính, và những hành động phước
thiện, trong khi tái sanh ở cơi súc sinh, và ngạ quỷ hoặc địa ngục th́
có thể xem là bị trừng phạt cho cuộc sống đắm ḿnh trong si mê, tội ác,
chuyên hại người, và không cố gắng vươn lên để đạt đến tŕnh độ cao của
ư thức. Tuy vậy, như tôi đă nói trước đó, cuộc sống ở địa ngục có thể
kéo dài trong một thời gian khác thường, rất là lâu , nhưng may mắn thay,
không phải vĩnh viễn. Tái sanh trong ba cơi thấp nhất có thể được xem là
t́nh thương cứng rắn của đức Phật, xem như là một dạng để dạy dỗ và cải
thiện những người nầy, như vậy sau khi nghiệp xấu đă trả xong, họ có thể
tái sanh làm người.
Cơi người, cho dù thấp hơn cơi trời và cơi A-tu-la, cũng
vẫn quan trọng hơn, v́ chỉ nơi cơi người, trí tuệ và đức hạnh mới có thể
tăng trưởng. Như đă nhắc qua lúc trước, các chúng sinh tái sanh ở hai
cơi cao kia, cũng chỉ là tạm thời, đó là phần thưởng của họ ở kiếp sống
đạo đức trong quá khứ. Tuy nhiên, một khi nghiệp tốt đă hết, họ sẽ bị
tái sanh ở cơi thấp hơn. Sự trục xuất nầy đưa họ ra khỏi t́nh trạng
hưởng thụ, đặc ân, có thể nói là cực kỳ đau đớn.
Do đó, tất cả các cơi luân hồi với sự thay đổi, đau khổ
và cái chết là những việc không ai ưa thích. Chỉ duy nhất một mục đích,
thường hằng và muốn giải thoát vĩnh viễn khỏi đau khổ, cách tốt nhất là
giác ngộ. Đó là sự giải thoát khỏi bánh xe luân hồi. Đấy là Niết Bàn,
giải thoát khỏi tái sanh, và chuyển hoá hoàn toàn ṿng sinh tử ác nghiệt
mà chúng ta gọi là luân hồi.
Cho nên, Phật đă từng ném vào mỗi cá nhân, một câu nói đă
từng vang vọng qua hàng thế kỷ: "Đây là con đường đưa đến giải thoát
khỏi đau khổ. Hăy bước đi.”
Truyền Việt
|