![]()
![]()
|
|
|
Thay lời giới thiệu: Trong số các kinh điển của Phật giáo không có kinh nào ngắn gọn mà ư nghĩa sâu xa huyền diệu như Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa tâm kinh, lại được cả thế giới kính chuộng và được dịch ra nhiều thứ tiếng, mặc dù đây là một trong những kinh khó dịch nhất v́ ư nghĩa cao siêu của nó mà ngôn từ không thể diễn đạt trọn vẹn được. Nếu như kinh nghiệm tu tập không thể cắt nghĩa bằng bạch văn mà phải do chính bản thân người tu thể nghiệm lấy, th́ sự vi diệu của kinh Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa tâm kinh e rằng chỉ có những bậc trí tuệ dày công tu tập mới có thể am tường được. Chúng tôi những kẻ tài sơ trí thiển không dám múa ŕu qua mắt thợ, chỉ mong làm được công việc sưu tập và giữ nguyên trạng để gởi đến quư vị và các bạn, nếu có sơ suất nào xin quư vị và các bạn vui ḷng chỉ giáo và xin mở lượng hỷ xả cho kẻ bất tài nhưng có ḷng cầu đạo này. Trân trọng, Truyền Việt
Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa tâm kinh (Tuệ giác vô thượng giải thoát tâm kinh) Source: Tổng hợp từ Wikipedia, Buddha Sasana, phatviet, daouyenMa-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa tâm kinh (phiên latinh từ Phạn ngữ: Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Prajnaparamitahridaya Sutra; Anh ngữ: The Heart of Perfect Wisdom Sutra, Hoa ngữ: 般若波羅蜜多心經) c̣n được gọi là Bát-nhă tâm kinh, hay Tâm Kinh. Đây là kinh ngắn nhất chỉ có khoảng 260 chữ của Phật giáo Đại thừa và Thiền tông. Nó cũng là kinh tinh yếu của bộ kinh Đại Bát Nhă gồm 600 cuốn. Kinh này được hầu hết các Phật tử tại Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Quốc biết đến và rất thường dùng trong việc đọc tụng. Lịch sửT́nh trạng xuất hiện của kinh này không được các tác giả thống nhất nhau. Thời điểm ra đời của nó có thể là từ năm 100 TCN đến thế kỷ thứ 2 và một số tác giả cho rằng bài kinh này do bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna) viết. Bản kinh phổ biến nhất ở Việt Nam là bản của sư Trần Huyền Trang (Tam Tạng) sau khi thỉnh kinh về đă dịch lại vào năm 649. Trước đó đă có nhiều sư dịch từ tiếng Phạn ra Hán ngữ trong đó có Cưu Ma La Thập (402-412), Nghĩa Huyền, Pháp Nguyệt, Bát Nhă và Lợi Ngôn, Trí Tuệ Luận, Pháp Thành, và Thi Hộ. Kinh cũng đă được sự chú giải của rất nhiều sư từ nhiều quốc gia. Riêng ở Việt Nam, người chú giải kinh này đầu tiên là thiền sư Đạo Tuân Minh Chánh ở chùa Bích Động (tỉnh Ninh B́nh) thời vua Minh Mạng. Dị bảnVề đại cương th́ các bản văn đều khá rơ và giống nhau nhưng về chi tiết ngay các bản chữ Phạn để lại cũng có chi tiết khác nhau. Dĩ nhiên là trong các bản dịch đều có những chi tiết khác nhau nhỏ (tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Việt). Trong thập niên cuối của thế kỷ 19 th́ bản kinh mới được Samuel Beal dịch ra Anh ngữ. Edward Conze, một nhà nghiên cứu Phật học Anh (1904-1979) với nhiều công nghiên cứu đă không thể t́m thấy được bài văn nguyên thủy của kinh này, mặc dù đă có nhiều bằng chứng cho thấy có một nguyên bản ban đầu của kinh này. Toàn bộ bộ kinh lớn Đại Bát Nhă cũng đă bị quân Hồi giáo tiêu hủy khi họ đánh chiếm Đại học Phật giáo Nalanda. -ooOoo-
Bản phiên âm Hán-Việt thứ nhấtBát-nhă Ba-la-mật-đa tâm kinh
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhă Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhăn nhĩ tỷ thiệt thân ư, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, năi chí vô lăo tử, diệc vô lăo tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đơa y Bát nhă Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhă Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhă Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát nhă Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
-ooOoo-
Bản phiên âm Hán-Việt thứ haiMa-ha bát-nhă ba-la-mật-đa tâm kinhQuán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhă Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-lợi-tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thụ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá-lợi-tử! Thị chư pháp không tướng: Bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc vô thụ tưởng hành thức, vô nhăn nhĩ tỉ thiệt thân ư, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, năi chí vô lăo tử diệc vô lăo tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề Tát-đoá y Bát-nhă Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn li điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhă Ba-la-mật-đa cố đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cố tri Bát-nhă Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhă Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết đế, Bồ-đề Tát-bà-ha.
Bản dịch Việt thứ nhấtTrích: Đạo Uyển (daouyen.com)Bồ tát Quán Tự Tại, khi tu chứng đại trí huệ siêu việt, thấy rơ năm uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách. Này Xá-lị tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc chính là Không, Không chính là Sắc; thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy. Xá-lị tử! Tướng Không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. V́ thế trong Không không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không nhăn, nhĩ, thiệt, thân, ư; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhăn giới cho đến ư thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí huệ, cũng không chứng đạt v́ không có ǵ để chứng. Bồ Tát nương trí huệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; v́ không vướng ngại nên không sợ sệt, xa ĺa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt Niết-bàn. Các Phật ba đời nương trí huệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, đúng đắn và cao nhất. V́ thế nên biết rằng trí huệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không ǵ bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí huệ siêu việt rút ra nghĩa tinh yếu như sau: Giải thoát, giải thoát, đă giải thoát, đă cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn. (Dịch giả khuyết danh)
Bản dịch Việt thứ haiNgài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhă Ba la mật, th́ soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác ǵ không, không chẳng khác ǵ sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế. Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ư. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhăn giới cho đến không có ư thức giới. Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, v́ không có sở đắc. Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhă nầy th́ tâm không c̣n chướng ngại, v́ tâm không chướng ngại nên không c̣n sợ hăi, xa ĺa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. Các vị Phật ba đời v́ nương theo trí tuệ Bát Nhă nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác. Cho nên phải biết rằng Bát nhă Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ năo, chân thật không hư dối. Cho nên khi nói đến Bát nhă Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú: Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.
Chữ Latin hóa Dịch nghĩa Gate gate Vượt qua, vượt qua Pàragate Vượt qua bờ bên kia Pàrasamgate Vượt qua hoàn toàn Bodhi svàhà Tuệ giác Thành tựu.
-ooOoo-
Bản dịch Việt thứ ba
Bồ tát Quán tự tại khi hành Bát nhă ba la mật đa sâu xa soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách. Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Xá Lợi Tử! Tướng không các pháp đây, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên, trong không, không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhăn giới cho đến không ư thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc. Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhă ba la mật đa, nên tâm không mắc ngại; v́ không mắc ngại nên không sợ hăi, xa ĺa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương Bát nhă ba la mật đa nên chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nên biết Bát nhă ba la mật đa là chú thần lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không ǵ sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật v́ không dối. Nên nói chú Bát nhă ba la mật đa, nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. -ooOoo- Bản dịch Việt thứ tư
TUỆ GIẢI THOÁT TÂM KINH
-ooOoo-
Bản dịch Việt phổ thơ lục bát
Khi hành Bát Nhă Ba La Nầy Xá Lợi Tử xét ra Nầy Xá Lợi Tử ghi ḷng Sở thành, sở đắc bởi không Ba đời chư Phật sau, xưa Yết đế, yết đế
-ooOoo-
Bản phổ thơ: Bồ
Tát Quán Tự Tại Nghe
đây Xá Lợi Tử: Xá
Lợi Tử nghe đây: V́
không có sở đắc Chư
Bụt trong ba đời Cho
nên tôi muốn thuyết Yết
đế, Yết đế
-ooOoo-
Bản dịch Việt: Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng 1. Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác vô thượng (1), Người Tỉnh Thức B́nh Yên (2) soi sáng như thật rằng tự tịnh của năm hợp thể (3) đều là Không (4), liền thoát ly mọi khổ ách. 2. Này người con ḍng Sari (5), h́nh thể chẳng khác chân không, chân không chẳng khác h́nh thể. H́nh thể là chân không, chân không là h́nh thể. Cảm xúc (6), niệm tự (7) và tư duy (8) và ư thức (9) đều là như vậy. 3. Này người con ḍng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị là Không, nó không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm. 4. V́ thế, này người con ḍng Sari, trong Không không có h́nh thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không có ư thức (10); không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư; không có h́nh thể, âm thanh, hương khí, mùi vị, xúc chạm (11) và hiện hữu (12). Không có đối đượng của mắt, cho đến không có đối tượng của ư thức; không có minh, không có vô minh (13), không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của vô minh; cho đến, không có tuổi già và sự chết, cũng không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết; không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm dứt khổ đau và không có con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau (14); không có tri giác (15) cũng không có sự thành tựu tri giác, v́ chăng có quả vị của tri giác nào để thành tựu. 5. Người Tỉnh Thức B́nh Yên, do sống an lành trong Tuệ giác vô thượng mà thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, v́ không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hăi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. 6. Tất cả chư Phật trong ba đời (16) đều nương tựa vào Tuệ giác vô thượng mà thành tựu (17) chánh giác. 7. V́ thế, nên biết rằng Tuệ giác vô thượng là sức thần (18) kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song, có thể trừ diệt tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác vô thượng này là sự thật, là chân lư. Sức thần có năng lực tối thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng rằng: "Đi
qua, đi qua Chú thích: (1)
Trí tuệ Bát nhă (Prajnàpàramità). (6)
Thọ uẩn (10)
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (5 uẩn).
-ooOoo-
Bản dịch Hán vănBản này do Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch. Dạng chữ in có ngắt câu 觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法空相。 不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦 無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若 波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰 揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶
-ooOoo- Dạng chữ in liên tục không có ngắt câu
摩訶般若波羅密多心經觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時照見五蘊皆空度一切苦厄舍利子色不異空空不異色色即是空空即是色受想行識亦復如是舍利子是諸法空相不生不滅不垢不淨不增不減是故空中無色無受想行識無眼耳鼻舌身意無色聲香味觸法無眼界乃至無意識界無無明亦無無明盡乃至無老死亦無老死盡無苦集滅道無智亦無得以無所得故菩提薩埵依般若波羅蜜多故心無罣礙無罣礙故無有恐怖遠離顛倒夢想究竟涅槃三世諸佛依般若波羅蜜多故得阿耨多羅三藐三菩提故知般若波羅蜜多是大神咒是大明咒是無上咒是無等等咒能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜多咒即說咒曰揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶
-ooOoo-
Dạng viết tay chụp lại
-ooOoo- Bản tiếng PhạnChữ Devanāgarī (Bản đánh máy)
प्रज्ञापारमिताहृदयसूत्रम्(संक्षिप्तमातृका)आर्यावलोकितेश्वरबोधिसत्त्वो गम्मीरायां प्रज्ञापारमितायां चर्यां चरमाणो व्यवलोकयति स्म । पञ्च स्कन्धाः, तांश्च खभावशून्यान् पश्यति स्म ।। इह शारिपुत्र रूपं शून्यता, शून्यतैव रूपम् । रूपान्न पृथक् शून्यता, शून्यताया न पृथग् रुपम् । यद्रूपं सा शून्यता, या शून्यता तद्रूपम् ।। एवमेव वेदयासंज्ञासंकारविज्ञानानि ।। इह शारिपुत्र सर्वधर्माः शून्यतालक्षणा अनुत्पन्ना अनिरुद्धो अमला न विमल नोना न परिपूर्णाः । तस्माच्छारिपुत्र शून्यतायां न रूपम्, न वदना, न संज्ञा, न संकाराः, न विज्ञानानि । न चक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनासि, न रूपशब्दगन्दरसस्प्रष्टव्यधर्माः । न चक्षुर्धातुर्यावन्न मनोधातुः ।। न विद्या नाविद्या न विद्याक्षयो नाविद्याक्षयो यावन्न जरामरणं न जरामरणक्षयो न दुःखसमुदयनिरोधमार्गा न ज्ञानं न प्राप्तित्वम् ।। बोधिसत्त्वस्य (श्च ?) प्रज्ञापारमितामाश्रित्य विहरति चित्तावरणः. चित्तवरणनास्तित्वादत्रस्तो विपर्यासातिक्रान्तो निष्ठनिर्वाणः ☸ त्र्यघ्वव्यवस्थिताः सर्वबुद्धाः प्रज्ञापारमितामाश्रित्य अनुत्तरां सम्यक्संबोधिमभिसंभुद्धाः ।। तस्माज्ज्ञातव्यः प्रज्ञापारमितामहामन्त्रो महाविद्यामन्त्रोऽनुत्तरमन्त्रोऽसमसममन्त्रः सर्वदुःखप्रशमनः सत्यममिथ्यत्वात् प्रज्ञापारमितायामुक्तो मन्त्रः । तद्यथा गते गते पारगते पारसंगते बोधि स्वाहा ।। Chữ Devanāgarī (Bản chụp lại)
Chữ Siddham (bản chụp lại)
Bản chữ Phạn (Devanāgarī) được La Tinh hoá: prajñāpāramitāhṚdayasūtram(saṃkṣiptamātṛkā) āryāvalokiteśvarabodhisattvo gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma. pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma. iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam. rūpānna pṛthak śūnyatā, śūnyatāyā na pṛthag rūpam. yadrūpaṃ sā śūnyatā, yā śūnyatā tadrūpam. evameva vedayāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni iha śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā na vimalā nonā na paripūrṇāḥ. tasmācchāriputra śūnyatāyāṃ na rūpam, na vedanā, na saṃjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni. na cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ. na cakṣurdhāturyāvanna manodhātuḥ na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvanna jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptitvam. bodhisattvasya (śca?) prajñāpāramitāmāśritya viharati cittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvādatrasto viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ. tryaghvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāramitāmāśritya anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhisaṃbuddhāḥ. tasmājjñātavyaḥ prajñāpāramitāmahāmantro mahāvidyāmantro 'nuttaramantro 'samasamamantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyamamithyatvāt prajñāpāramitāyāmukto mantraḥ. tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.
Bản phổ thơ Anh ngữ:
THE HEART SUTRA The
Bodhisattva of Compassion, Here
then, Form
is only emptiness, All
things are the primal void, So,
in emptiness, no form, No
ignorance nor all that comes of it, Nor
is there pain, or cause of pain, So
know that the Bodhisattva, All
Buddhas of past and present, Hear
then the great dharani, Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha
-ooOoo-
Bản song ngữ Sanskrit – Anh đối chiếu prepared by: Dr. Michael E. Moriarty Communication Arts Department Valley City State University Valley City, North Dakota 58072
The Heart Sutra in Buddhist Sanskrit
The Buddhist Sanskrit Text with Interlinear Vocabulary
prajnaparamita hridaya sutra (perfect wisdom heart sutra)
aryavalokitesvaro bodhisattvo (Avalokateshvara bodhisattva) gambhiram prajnaparamita caryam caramano vyavalokayati (deep perfect wisdom action perform luminously) sma panca skandhas tams ca sva bhava sunyam (saw five bundles them own nature empty) pasyati sma iha sariputra (? saw oh Sariputra)
rupam sunyata va rupam rupan na prithak (form emptiness evidently form form not different) sunyata sunyataya na prithag rupam (emptiness emptiness not different form) yad rupam sa sunyata ya sunyata sa rupam (this form that emptiness this emptiness that form) evam eva vedana samjna samskara vijnanam (like this feeling thought choice consiousness)
iha sariputra sarva dharma sunyata (oh Sariputra all dharmas emptiness) laksana anutpanna anruddha avmala anuna aparpurna (mark not born not pure not increase not decrease ?) ta sariputra sunyatayam (therefore Sariputra in the middle of emptiness)
na rupam na vedana na samjna na samskara na vijnana (no form no feeling no thought no choice no consciousness) na caksuh srotam na ghrana jihva kaya manah (no eye ear no nose tongue body mind) na rupa sabda gandha rasa spistavya dharmah (no form sound smell taste touch dharmas) na caksur dhatur ya van na mano vijnanam dhatur (no eye-area up to no mind-consciousness area)
na vidya na vidya na vidya ksayo va vidya ksayo (no clarity no clarity no clarity exhaustion no clarity exhaustion) ya van jaramaranam na jaramarana ksayo (up to old age no old age exhaustion) na duhkha samudaya nirdoha margajna (no suffering end of suffering path) na jnanam na prapti na bhismaya tasmai na prapti (no knowledge no ownership no witnessing no thing to own)
tvad bodhisattva prajnaparamita asritya (therefore bodhisattva perfect wisdom dwells) viha ratya citta varano vidya ksayo na vidya ksayo (in dwell thought no obstacle clarity exhaustion not clairty exhaustion) ya van jaramaranam na jaramarana ksayo (up to old age no old age exhaustion) na duhkha samudaya nirodha margajna (no suffering end of suffering path) na jnanam na prapti na bhismaya tasmai na prapti (no knowledge no property no witnessing no thing to own)
tvad bodhisattvanam prajnaparamita asritya (therefore bodhisattva perfect wisdom dwells) viha ratya citta varano citta varano (in dwell thought no obstacle thought no obstacle) na siddhitvad atrasto vipa ryasa ti kranto (no existence fear fright inverse reverse ? separate) ni stha nirvana tya dha vyava sthitah (perfectly stands nirvana three worlds thing experiences)
sarva buddhah prajnaparamitam asritya (all buddhas perfect wisdom dwell) (a?)nuttaram samyaksambodhim abdhisambuddhah (unexcelled ultimate perfect insight together ? buddhas) ta smai jnata vyam (therefore should know ?) prajnaparamitamahamantram mahavidyamantram (perfect wisdom great charm great clear charm)
anuttaramantram asamasama mantram (unexcelled charm unequalled equal charm) sarva duhkha prasa manam sa tyam ami thyatvat (all suffering stop terminate genuine real not vain) prajnaparamitayam ukto mantrah tadyatha (perfect wisdom declaired charm saying)
GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SVAHA (gone gone totally gone totally completely gone enlightened so be it)
-ooOoo-
Bản dịch Anh ngữ thứ nhất: GREAT WISDOM BEYOND WISDOM HEART SUTRA Avalokiteshvara Bodhisattva, when practicing deeply the Prajna Paramita, perceived that all five skandhas in their own being are empty and was saved from all suffering. O Shariputra, form does not differ from emptiness; emptiness does not differ from form. That which is form is emptiness; that which is emptiness form. The same is true of feelings, perceptions, formations, consciousness. O Shariputra, all dharmas are marked with emptiness. they do not appear nor disappear, are not tainted nor pure, do not increase nor decrease. Therefore in emptiness: no form, no feelings, no perceptions, no formations, no consciousness; no eyes, no ears, no nose, no tongue, no body, no mind; no color, no sound, no smell, no taste, no touch, no object of mind; no realm of eyes...until no realm of mind-consciousness; no ignorance and also no extinction of it...until no old-age and death and also no extinction of it; no suffering, no origination, no stopping, no path, no cognition, also no attainment with nothing to attain. A bodhisattva depends on Prajna Paramita and the mind is no hindrance. Without any hindrance no fears exist. Far apart from every perverted view one dwells in nirvana. In the three worlds all buddhas depend on Prajna Paramita and attain unsurpassed complete perfect enlightenment. Therefore, know the Prajna Paramita is the great transcendent mantra, is the great bright mantra, is the utmost mantra, is the supreme mantra which is able to relieve all suffering and is true not false; so proclaim the Prajna Paramita mantra, proclaim the mantra that says: Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha
-ooOoo-
Bản dịch Anh ngữ thứ hai:
Heart of Perfect Wisdom The Bodhisattva Avalokitesvara, from the deep course of Prajna wisdom, saw clearly that all five skandhas were empty and sundered all bonds of suffering. Sariputra, know then: form does not differ from emptiness, nor does emptiness differ from form. Form is no other than emptiness, emptiness no other than form. The same is true of feelings, perceptions, impulses and consciousness. Sariputra, all dharmas are marked with emptiness. None are born or die, nor are they defiled or immaculate, nor do they wax or wane. Therefore, where there is emptiness, there is no form, no feeling, no perception, no impulse, nor is there consciousness. No eye, ear, nose, tongue, body, or mind. No color, sound, smell, taste, touch, or object of mind. There is no domain of sight nor even domain of mind consciousness. There is no ignorance nor is there ceasing of ignorance. There is no withering, no death, nor is there ceasing of withering and death. There is no suffering, or cause of suffering, or cease in suffering, or path to lead from suffering. There is no cognition, nor even attainment. So know that the Bodhisattva, indifferent to any kind of attainment whatsoever but dwelling in Prajna wisdom, is freed of any thought covering, get rid of the fear bred by it, has overcome what can upset and in the end reaches utmost Nirvana. All Buddhas of past and present, and Buddhas of future time, through faith in Prajna wisdom, come to full and perfect Enlightenment. Therefore, one should know the Prajna paramita as the mantra of great knowledge, the miraculous, the utmost, the unequalled mantra, whose words relieve all suffering. This is highest wisdom, true beyond all doubt. Know then and proclaim the Prajna paramita mantra. It spells like this:
Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha! (English translation: Trúc Huy)
-ooOoo-
Bản dịch Pháp ngữ:
Le Sutra de l'Esprit de la Grande Vertu de Sagesse Lorsque le Bodhisattva Avalokitesvara accomplit profondément la grande Vertu de Sagesse, il considéra les cinq agrégats comme vides et traversa ainsi toutes les souffrances et afflictions. Sariputra, les formes ne sont pas différentes du vide. Le vide n'est pas différent des formes. Les formes ne sont rien d'autre que le vide. Le vide n'est rien d'autre que les formes. Il en est de même des sensations, des perceptions, des formations mentales et de la conscience. Sariputra, tous ces dharma ont l'aspect du vide. Ils ne naissent ni ne disparaissent. Ils ne sont ni souillés ni purs. Ils ne croissent ni ne décroissent. C'est pourquoi, dans le vide, il n'y a pas de forme, de sensation, de perception, de formation mentale ni de conscience. Il n'y a pas d'oeil, d'oreille, de nez, de langue, de corps ni de mental. Il n'y a pas de couleur, de son, d'odeur, de saveur, de toucher ni d'objet de pensée. Il n'y a pas de domaine du visuel et pour finir pas de domaine de la connaissance mentale. Il n'y a pas d'ignorance et pas plus de cessation de l'ignorance. Pour finir, il n'y a pas de vieillesse ni de mort, et pas plus de cessation de la vieillesse ni de la mort. Il n'y a pas de souffrance, d'origine, de cessation ni de chemin. Il n'y a pas de connaissance ni même d'obtention. Comme il n'y a rien à obtenir, c'est pourquoi les Bodhisattva s'appuient sur la vertu de sagesse. Leur esprit ne conna? pas d'entrave, ainsi ils n'ont pas de peur. En se libérant des erreurs et des égarements, ils atteignent enfin l'ultime Nirvana. Tous les Bouddhas du passé, du présent et du futur, en s'appuyant sur la vertu de sagesse, ont obtenu le suprême et parfait Éveil. Aussi professe-t-on la vertu de sagesse. Par un grand mantra miraculeux, par un mantra de grande connaissance, par un mantra insurpassable, par un mantra sans égal. Il supprime toute souffrance, en vérité et sans fausseté. Voilà donc le mantra qui proclame la grande Vertu de Sagesse. Ce mantra dit:
Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi
svaha!
-ooOoo-
GIẢI THÍCH NỘI DUNGA. TỰ PHẦN
Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhă ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Bồ tát Quán tự tại khi hành tŕ bát nhă ba la mật đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách. Đoạn văn mở đầu này trực tiếp hiển thị cái thực chất vô ngă rốt ráo và trọn vẹn ở nơi mỗi chúng sanh (hay nói theo nghĩa hẹp, ở nơi mỗi con người) mà thánh trí của Bồ Tát chứng đắc khi hành tŕ Bát nhă ba la mật đa sâu xa, và nhờ đó giải thoát tất cả khổ ách. Lời mở đầu này bao hàm tất cả nội dung của giáo nghĩa Bát nhă. Trọn phần chánh tôn kế tiếp về sau, chỉ làm công việc quảng diễn nội dung này về hai mặt triết học và đạo học mà thôi. Ta có thể nói rằng, nếu lời Tâm kinh Bát nhă gồm 260 chữ này là tinh yếu của hệ thống Đại Bát nhă dày 720 quyển, th́ đoạn mở đầu gồm có 25 chữ này lại thêm một lần nữa cô súc tinh yếu của bài Tâm kinh. Phần ṛng của giáo nghĩa Bát nhă được kết tinh trong lời mở đầu này. Quán Tự Tại Bồ tát Bồ tát là tiếng gọi tắt danh từ Bồ đề tát đỏa (phiên âm từ chữ Boddhisattva). Bồ đề dịch nghĩa là giác ngộ, tát đỏa dịch là hữu t́nh hay chúng sanh. Hai chữ ghép chung với nhau thành ra Bồ đề tát đỏa, có nghĩa là chúng sanh cầu đạo giác ngộ. Tàu dịch nghĩa Bồ đề tát đỏa là giác hữu t́nh, tức hữu t́nh hướng về giác ngộ, hoặc sắp được giác ngộ.V́ vậy bất cứ chúng sanh nào phát tâm bồ đề cầu đạo giác ngộ, đều gọi là Bồ tát. Tuy nhiên, từ cấp mới hướng về đến cấp sắp đạt được, khoảng cách giữa hai bên thật là mù thẳm xa khơi. Trong khoảng cách ấy, có nhiều cấp bậc sai khác nhau. Từ những kẻ sơ phát tâm là hạng thập tín đến những bậc công hạnh sâu dày là hàng thập địa, có tất cả là 50 bậc. Bồ tát Quán Tự Tại nói đây, ít nhất cũng từ bát địa (trong thập địa) trở lên. V́ chỉ sau khi trải qua địa vị bất động ở thập địa, bấy giờ mới được tự tại. Và cũng đến cấp đó mới đương nổi công việc thượng cầu hạ hóa, nghĩa là trên cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sanh. Quán Tự Tại là tên riêng của đức Bồ tát này. Quán có nghĩa là xem xét. Trong lúc hành thiền, hành giả lắng ḷng trầm tư mặc tưởng để suy cứu đề tài tham khảo th́ gọi là quán. Quán phối hợp với Chỉ, đó là thiền, chứ không chi khác. Trong Chỉ, đối tượng bị rị lại một vị trí bất động. Trong Quán, đối tượng di động, chuyển biến theo quá tŕnh tự nhiên của nó. Chỉ và Quán chỉ khác nhau ở đối tượng sở quán, không khác nhau về mặt tâm hành năng quán. Bồ tát Quán Tự Tại, là dịch nghĩa Phạn ngữ Avalokitesvara. Từ này gồm hai chữ ghép lại: Avalokita có nghĩa là quán, chiếu kiến hay nh́n khắp mọi phương; và isvara có nghĩa là vị chúa tể, v́ có quyền năng hành xử mọi việc một cách tự do. V́ thế, Avalokitesvara là vị bồ tát dùng pháp quán chiếu Bát nhă để quan sát đối tượng đương thể tức không, không bị chướng ngại bởi các yếu tố giả hợp tạo nên các ảo tượng của đương thể, nên gọi là Bồ tát Quán Tự Tại. Giống như trường hợp một vị Bồ tát chuyên tu hạnh Không mong khởi tâm khinh mạn bất cứ ai, dù đó là kẻ ngu hèn thấp kém nhất trong xă hội, đó là Bồ tát Thường Bất Khinh. Theo công hạnh riêng mà đặt tên, đó là công lệ chung trong Phật giáo Đại thừa. Do v́ công hạnh riêng mà đặt tên, Cho nên, Bồ tát Avalokitesvara c̣n có nghĩa là Quán thế âm, Kuan shih yin, theo truyền thống Trung Hoa, là vị Bồ tát được thờ phụng phổ biến nhất tại phương Đông, với công hạnh quan sát nghe thấy tất cả những tiếng kêu cứu của chúng sinh trên cơi ta bà này. Lời tụng "Nam mô Đại từ Đại bi cứu khổ cứu nạn Quán thế âm Bồ tát", tất cả Phật tử đều khấn vái hằng ngày. Phẩm Phổ môn thuộc kinh Pháp hoa là dành riêng để xưng tán đức Bồ tát Quán thế âm trong công phu nhật tụng triêu mộ cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Các ngài Pháp Hiền (du hành những năm 399 - 413) Huyền Trang (dh 629 - 645) và Nghĩa Tịnh (dh 671 - 695) đều có ghi lại trong các quyển Phật quốc kư, Đại Đường Tây vực kư và Nam hải kư quy nội pháp truyện nhận xét của các ngài là Bồ tát Avalokitesvara rất được tôn thờ ở tất cả mọi nơi mà dấu chân các ngài trải qua, từ Tây Tạng, Nepal, ngay cả Ấn Độ. Bắt đầu khoảng thế kỷ thứ nhất là đă được dân gian sùng bái, cho đến thế kỷ thứ bảy là thịnh hành nhất. Bấy giờ Bồ tát Avalokitesvara hiện thân nam, tượng thờ đứng, một mặt hai tay; hoặc ngồi trên ṭa sen một mặt hai tay hoặc sáu tay, đôi khi từ mười tay đến hai mươi tay. Biểu tượng của ngài là tràng hạt (màlà) và hoa sen (padma). Mạn trà xưng tán ngài là Om, mani padme, hùm tức là An, ma ni bác di, hồng. Đến vào khoảng thế kỷ XII trở đi th́ Bồ tát Avalokitesvara được sùng bái với tượng thân nữ và tôn thờ là Bồ tát Quán thế âm, tại Trung Hoa cũng như tại Việt Nam, trong lúc ấy các nước ở Trung Á th́ không c̣n ảnh hưởng ǵ nữa. Từ đây, Bồ tát Quán thế âm c̣n có các tên khác như Tống tử Quan âm, Quan âm Diệu Thiện, hay Thiên thủ thiên nhăn Quan thế âm, Bạch y Quan âm, Tử trúc Quan âm, Quan âm quá hải, đều rất phổ biến trong dân gian. Ở Tây Tạng, Bồ tát được gọi là spyan ras gzigs, có nghĩa là vị Bồ tát có cái nh́n từ bi mẫn độ chúng sanh. Mông Cổ gọi ngài là Nidubarujekei, vị Bồ tát có đôi mắt quán chiếu, tức là quon sim bodhisattva. Tại Nhật, ngài là Kwan non (Canon). Gần đây, các nhà khảo cổ t́m thấy dấu vết sùng bái Bồ tát này tại Chiêm Thành, tức miền Trung Việt Nam nước ta ngày nay, từ trước thế kỷ thứ mười. Khi ấy, Bồ tát được gọi là Lokesvara, gồm hai chữ Loka (thế gian) và isvara, tức nghĩa tương tợ như Quán thế âm. Một tượng đá đức Quán thế âm này vừa được t́m thấy ở chùa Đại Hựu, có bia kư ca tụng công đức của Bồ tát, được cho là khắc vào khoảng năm 900 về trước. Tất cả các truyền thống đều tin rằng sở trú của Bồ tát là đỉnh núi Potala. Có nhiều địa điểm. Ngài Huyền Tráng ghi rằng đức Quán thế âm xuất hiện trên đỉnh Potala ở miền Nam Ấn. Tự viện của Đạt Lai Lạt Ma ở Lhasa cũng được gọi là Potala, v́ Mật giáo Tây Tạng tin rằng Bồ tát là chúa tể của thế giới chúng ta, mà Đạt Lai là hóa thân của người. Quần đảo Châu Sơn, ngoài khơi Triết Giang, gần Ninh Ba (Ningpo), nơi đức Quán thế âm rất được sùng bái, c̣n được gọi là P'u t'o, tức Phổ Đà. Dân gian c̣n truyền tụng rằng núi Phổ Đà ở ngoài khơi Nam Hải. Bồ tát Quán Tự Tại, do v́ quán sát rằng "sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc..." tất cả là hai mà chẳng phải hai, Cho nên, ngài c̣n là biểu tượng của Bồ tát Bất Nhị Trí tuệ Bát nhă là công đức mà ngài hành tŕ, Cho nên, ngài cũng là Bồ tát Bát Nhă. Và Bồ tát Bát Nhă Ba la mật đa là hiện thân siêu việt, tổng tŕ mọi công hạnh kể trên. Bồ tát Bát Nhă Ba la mật đa (theo truyền thống Tây Tạng) Hành thâm Bát nhă Ba la mật đa thời Khi hành Bát nhă Ba la mật đa sâu xa Sáu chữ Bát nhă Ba la mật đa đă giảng rơ ở trên. Thâm là sâu xa, nói rằng Bát nhă Ba la mật đa là sâu xa vi diệu không dễ ǵ thể nhập mà đ̣i hỏi một quá tŕnh hạ thủ công phu hành tŕ. Hành có nghĩa là hành tŕ, tức là tu tập và thực hành. Cần nhắc lại là trí tuệ Bát nhă không do cái học mang lại mà phải do công phu tu tŕ mới tựu thành, nên nói là hành. V́ vậy, do sâu xa vi diệu, Bát nhă Ba la mật đa đ̣i hỏi phải công phu tu hành mới tựu thành, chứ không phải một cái ǵ có thể tự nhiên mà có. Chiếu kiến ngũ uẩn giai không Soi thấy năm uẩn đều không Soi thấy là diệu dụng của quán chiếu Bát nhă. Nói soi thấy, tức tự ḿnh trực tiếp thấy rơ, như người uống nước, tự ḿnh biết rơ nước ấy nóng hay lạnh, ngọt hay mặn, không qua trung gian của khái niệm hay ngữ ngôn văn tự. Năm uẩn là năm nhóm họp thành một chúng sanh, tức là một con người. Chữ uẩn là do ngài Huyền Tráng dịch chữ kiền độ (skandha) tiếng Phạn. Ngài La Thập trước dịch là ấm với nghĩa là che phủ. Các dịch giả về trước nữa th́ dịch là chúng, từ tập họp nhiều yếu tố lại. Sản phẩm do năm chúng, tức năm uẩn giả họp lại mà thành th́ gọi là chúng sanh. V́ vậy nói cho dễ hiểu, khi nói đến tập họp của năm uẩn tức chỉ con người; con người là sản phẩm của năm uẩn. Phật giáo trong các bộ kinh được gọi là nguyên thủy đă trịnh trọng xác nhận tính chất vô ngă của tập họp năm uẩn này rồi. Riêng từng uẩn có vô ngă hay không, đó là đối tượng khảo sát của trường phái Bát nhă. Theo trường phái này, không một uẩn nào trong năm uẩn là có tự thể, không có tự thể tức là vô ngă. Tập hợp của năm uẩn là vô ngă, tức nhân không; từng uẩn một trong tập hợp ấy cũng vô ngă, tức pháp không. Cả nhân lẫn pháp đều không, đó là nội dung trong nghĩa không của Bát nhă. Trong năm uẩn, sắc uẩn chỉ nhóm vật chất bao gồm bốn đại, tức đất nước gió lửa, tạo nên xác thân con người. Thọ uẩn chỉ nhóm cảm giác, bao gồm mọi khía cạnh sinh hoạt tâm lư hạ đẳng nơi con người. Tưởng uẩn, chỉ nhóm suy tư bao gồm mọi khía cạnh sinh hoạt tâm lư cao cấp. Hành uẩn chỉ nhóm ư chí bao gồm những sinh hoạt có tính chất bản năng và ư chí. Hành là dấu vết của nghiệp cũ đang tạo tác và d́u kéo các sinh hoạt hạ đẳng và cao cấp nơi con người, đấy là loại ư chí mù quáng. Chính v́ vậy, nó đóng một vai tṛ quyết định trong suốt đời người. Thức uẩn chỉ nhóm tri giác bao gồm mọi kiến thức trong việc nhận diện sự vật bên trong và bên ngoài con người. Trong số năm uẩn vừa nêu, sắc uẩn thuộc sắc pháp, bốn uẩn kia thuộc tâm pháp. Sắc tâm ḥa hợp tạo nên con người, mệnh danh là thân năm uẩn. Trong thân ngũ uẩn ấy, các thần giáo và triết học Ấn Độ cho rằng có một thần ngă (atman) ngự trị bên trong bất di bất dịch, không chịu sự chi phối của vô thường. Nhưng Phật giáo vốn xây dựng trên lư duyên khởi, triệt để đánh ngă cái lư thuyết thần ngă ấy. Giáo lư vô ngă là câu trả lời đanh thép của thuyết có thần ngă vừa nói. Về sau, khi các trường phái A ty đàm vốn thuộc Thượng tọa bộ xuất hiện, giáo lư vô ngă tuy càng ngày càng thêm bền gốc chắc rễ, nhưng lại bị hạn cuộc trong phạm vi của lư thuyết nhân vô ngă. Đến lúc Đại thừa xuất hiện với giáo nghĩa Bát nhă, th́ vô ngă mới bao trùm lên hết thảy, đó là pháp vô ngă. Đoạn kinh trên nói tới việc năm uẩn đều không, tức đề cập đến vấn đế này đây, bởi v́ vô ngă cả nhân lẫn pháp chính là nội dung của giáo nghĩa tánh không Bát nhă. Với giáo nghĩa tánh không, thuyết vô ngă như một trong hai hệ luận của duyên khởi, đă được triển khai, thuyết minh đến mức tuyệt đối cùng tột của nó. Thuyết vô ngă này không phải thuần túy là một khái niệm triết học tinh ṛng, mà c̣n thể hiện một thực tế sống động tựu thành nhờ pháp trực quán tổng hợp, nghĩa là bằng hành tŕ mà chứng đắc. Do đó, nên nói soi thấy năm uẩn đều không. Độ nhất thiết khổ ách Vượt qua mọi khổ ách Khổ ách có ba loại. Khổ ách do chính thân tâm tạo ra gọi là ngũ uẩn xí thạnh khổ, bao gồm sanh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không đạt được, oán ghét mà phải gặp mặt, thương yêu mà phải chia ĺa; đó là loại khổ thứ nhất. Loại khổ ách thứ hai do thiên nhiên mang lại như tai trời ách nước, băo lụt, gió mưa ... Ba là khổ ách do xă hội tạo ra như giai cấp xung đột, chế độ hà khắc, chiến tranh ... Tất cả những loại khổ ách này, nhờ hành tŕ Bát nhă ba la mật đa, hành giả có thể vượt qua chúng một cách dễ dàng. Vượt qua có nghĩa là không c̣n bị chúng chi phối, nhận ch́m. Tóm lại, đoạn tự phần này nói rằng Bồ tát Quán Tự Tại khi hành tŕ Bát nhă ba la mật đa sâu xa th́ soi thấy năm uẩn họp thành con người không một uẩn nào là có tự thể, nhờ đó giác ngộ tánh không và giải thoát tất cả mọi ách khổ đau. Chỉ trong một đoạn này thôi, tất cả yếu lư căn bản của Bát nhă đă được tŕnh bày đầy đủ. Các đoạn tiếp theo chỉ để triển khai yếu lư ấy về cả hai mặt triết học và đạo học.
B. CHÁNH TÔN
Phần này tŕnh bày giáo nghĩa tánh không của Bát nhă, chia làm ba đoạn: 1. Nguyên lư bất nhị giữa uẩn và không 2. Chứng minh nguyên lư ấy qua luận lư triết học, và 3. Hiện thực nguyên lư bằng hành tŕ thực tế về mặt đạo học.
I. NGUYÊN LƯ BẤT NHỊ GIỮA UẨN VÀ KHÔNG.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy. Xá Lợi Tử c̣n gọi là Xá Lợi Phất, dịch nghĩa tiếng Phạn riputra là người đứng đầu trong hàng đệ tử Phật, được Đức Phật chia cho nửa ghế ngồi (bán ṭa), ngài được Đức Phật gọi mà dạy bảo là điều tất nhiên. Trong năm uẩn, sắc uẩn là nhóm vật chất, thuộc sắc pháp. Bốn uẩn c̣n lại là thuộc tâm pháp. Tâm pháp là hiện tượng tâm lư thường hay thay đổi, không thể sờ mó, bắt, nh́n, Cho nên, nói là không có thực thể; đó là điều có thể hiểu. Nhưng sắc pháp là hiện tượng vật chất, tự nó có chất ngại làm thể, th́ sao lại bảo không thực thế được? V́ vậy đoạn kinh này phải lư giải vấn đề tại sao năm uẩn đều không tự thể. Trước hết là nói sắc uẩn. Sắc uẩn chính là xác thân con người chớ không chi khác. Xác thân ấy, nói cho cùng, không ngoài bốn đại là đất nước gió lửa, giả hợp mà tạo thành. Khi bốn đại giả hợp th́ có hiện tượng xác thân. Khi chúng chia ĺa th́ không t́m thấy đâu nữa. Rơ ràng xác thân là không tự thể, không thường c̣n, không bất biến, Cho nên, nói nó là không. Không đây chẳng phải là cái không đối lập với cái có, mà là cái đương thể tức không, tức là khi sự vật hiển dương tồn tại, cái thể của nó đă không rồi, tức là nó không có tự thể, không có cái ngă riêng của nó, nghĩa là nó vô ngă. V́ nó đương thể tức không, nên tương quan giữa các sắc uẩn và không được xác định qua hai khía cạnh: chẳng khác và tức là. Trong câu "sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc", hai chữ chẳng khác xác minh rằng sắc và không là hai pháp riêng biệt nhưng mang tính thống nhất. C̣n câu "sắc tức là không, không tức là sắc", th́ hai chữ tức là khẳng định ngược lại sắc và không chung quy cũng chỉ một pháp. Như thế, tính thống nhất này xác định sự thật tuy hai mà một, tuy một mà hai, vừa nói lên được tính vô ngă vừa xác định được tính vô thường của nó. Nói cách khác, tính thống nhất ấy thể hiện được bản chất vô thường biến hành nhưng độc đáo của mỗi hiện tượng mà ngày xưa các vị Tổ thường gọi là nguyên lư bất nhị. Bốn uẩn c̣n lại cũng giống như thế. Nghĩa là thọ chẳng khác không, không chẳng khác thọ; thọ tức là không, không tức là thọ. Cho đến thức chẳng khác không, không chẳng khác thức; thức tức là không, không tức là thức. Như vậy tương quan giữa uẩn và không là một tương quan chẳng khác và tức là, nghĩa là hoàn toàn xây dựng trên nguyên lư bất nhị. Do đó, không những cái tập hợp năm uẩn tức con người là vô ngă (nhân không), mà từng uẩn một trong tập hợp ấy cũng vô ngă (pháp không). Với ngă và pháp đều không, trường phái Bát nhă của Đại thừa đă triển khai thuyết vô ngă đến mức cùng tột mà hoàn thành giáo nghĩa tính không. Giáo nghĩa này mở đầu cho nhiều trào lưu tư tưởng khác tiếp nối và dấy khởi bất tận. V́ thế mà nói rằng Bát nhă là cái bào thai đẻ ra tất cả các kinh đại thừa.
II. CHỨNG MINH BẰNG LƯ LUẬN TRIẾT HỌC
Xá Lợi Tử thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Xá Lợi Tử: Tướng không của các pháp đây chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Xuất xứ từ nguyên lư bất nhị trên, bản kinh bây giờ tŕnh bày cho ta cái tŕnh tự làm sao mà đạt được cái nguyên lư bất nhị đó, để thấy rằng tất cả các pháp đều không. Luận lư áp dụng cho việc tŕnh bày ở đây là bát bất trung đạo; đấy là luận lư phủ định hay c̣n gọi là biện chứng phủ định. Nói cái không ấy chẳng sanh chẳng diệt, tức nói bản thể nó thường tịch. Nói chẳng sạch chẳng dơ, tức nói tác dụng của nó vô phân biệt. Nói chẳng thêm chẳng bớt tức nói hiện tượng nó thường tự viên măn. Ap dụng luận lư phủ định một cách cô đọng và ít lời đến mức đó để chứng minh cái không ở đây, trường phái Bát nhă đă khai thác nguyên lư bất nhị một cách tài t́nh, bởi v́ nó chỉ cần nêu ra cái phủ định, th́ ngay trong cái phủ định ấy hiện ra muốn khẳng định ngay liền. Sanh diệt ở đâu th́ cũng chính ở đó là bất sanh diệt; bất sanh diệt ở ngay trong sanh diệt. Có sai khác là chỉ v́ mê ngộ không đồng mà thôi. V́ vậy, Đại thừa đă quả quyết rằng phiền năo tức bồ đề, ta bà tức tịnh độ. Phủ định phiền năo th́ bồ đề tự hiện ra. Phủ định ta bà tức tịnh độ xuất hiện. Bất nhị mà! Bồ tát Bất Nhị Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 5, tr. 4429b. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhăn giới năi chí vô ư thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận; năi chí vô lăo tử diệc vô lăo tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc. Cho nên, trong không không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức, không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhăn giới cho đến không ư thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc. Đối tượng con người, theo Phật giáo nguyên thủy phân tích và c̣n được ghi chép trong bốn bộ A Hàm (nhất là bộ Trung và bộ Tạp) được chia làm ba phạm trù: a. Thành phần họp thành con người (năm uẩn); b. Các yếu tố đóng vai tṛ trung gian giữa con người và ngoại giới (mười hai xứ); c. Các khu vực hoạt động riêng rẽ trong toàn bộ sinh hoạt chung của con người (mười tám giới). Cứu cánh mà con người phải đạt cho được là trí, v́ trí có nhạy bén th́ mới có giác ngộ mà chấm dứt đau khổ. Giáo pháp đối trị được gói ghém trong pháp Tứ Diệu Đế, mà cái hồn sống động là Duyên khởi, khai triển thành lư mười hai nhân duyên (hay chín nhân duyên theo buổi nguyên thủy). Như vậy, các chủ điểm quan trọng mà giáo pháp Phật phải khai thị gồm có: a. 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới (trong phần đối tượng giải quyết); b. 12 nhân duyên, 4 đế (hồn và xác của giáo pháp); c. Trí (cứu cánh phải chứng đắc). Tất cả sáu chủ điểm trên, đều được thuyết minh rất đầy đủ trong Tạp và Trung A Hàm. Đối trị tất cả sáu chủ điểm trên, trường phái Bát nhă lần lượt áp dụng luận lư phủ định lên tất cả, để thuyết minh lư vô ngă một cách triệt để. Áp dụng luận lư phủ định trong đoạn này, những khẳng định mới được ghi nhận thêm: 5 uẩn là giả hữu, 12 xứ là giả hữu, 18 giới là giả hữu. Như vậy, cái ngă trong con người chỉ là một ảo tưởng. Để đối trị cái ngă giả hữu ấy, giáo pháp Phật dạy cũng chỉ là phương tiện giả lập mà thôi. Cho nên, nói không 12 nhân duyên và cũng không có sự chấm dứt của 12 nhân duyên. Cũng như không bốn đế. Giáo pháp giả lập là nhằm đối trị cái ngă giả hữu. Dụng giả trừ giả. Như vậy th́ cái trí mà giáo pháp nhằm thắp sáng lên ở nơi cái ngă ấy cũng không nốt. Mà trí đă không th́ sự chứng đắc cũng không thành, Không có thành đạo, không có chứng quả. Mà thật đúng như thế. Đứng về mặt tâm lư mà nói, ai thật sự có đắc một cái ǵ th́ không bao giờ nghĩ rằng ḿnh đắc. Chỉ tơ tưởng ôm ấp theo đuổi là khi ḿnh chưa có. Khi đă có rồi, th́ ḷng b́nh thản dửng dưng. Hóa ra, không đắc mới thật sự có đắc. Hơn nữa đứng về mặt lư trí mà xét, cái đắc ấy không khác chi hơn là cái ḿnh sẵn có, nhưng v́ vô minh che lấp, nay nhờ giác ngộ mà bắt gặp trở lại mà thôi. Bây giờ, lư luận ngược chiều trở lại, ta mới thấy tất cả cái tài t́nh của phép luận lư phủ định. V́ không đắc nên không trí. Đă không trí th́ giáo pháp thắp sáng cái ǵ? Và trí đă không th́ 18 giới, 12 xứ và 5 uẩn thảy đều không. 12 xứ là 12 chỗ tiếp xúc giữa trong và ngoài thân, một đối một. Mắt đối sắc, tai đối thanh ... cho đến ư đối pháp. Như vậy, ta có 6 xứ bên trong (6 căn) và sáu xứ bên ngoài (6 trần) tiếp xúc với nhau theo từng cặp thích đáng để cho ta những cảm thọ. Trong các kinh A Hàm chỉ có sáu xứ thôi và được gọi là lục xúc nhập xứ. Đây là thuyết đầu tiên triển khai sáu trần sau làm thành 12 xứ. 18 giới là18 khu vực riêng rẽ, gồm có 6 khu vực như 6 căn, 6 khu vực như 6 trần và 6 khu vực như 6 thức. Không khu vực nào xen lẫn với khu vực nào, Cho nên, gọi là giới. Giới có nghĩa là có một giới hạn riêng biệt với nhau. 12 nhân duyên là12 khâu làm nhân cho nhau và vin vào nhau (duyên) mà tạo thành dây chuyền sanh tử tiếp nối không bao giờ ngừng. Nói nhân là nói chiều dọc, tiếp nối ḍng thời gian. Nói duyên là nói chiều ngang, vin vào nhau trong không gian. V́ vậy, lư duyên sanh giàn trải cả hai chiều không gian và thời gian, và phải hiểu trong tinh thần ấy mới đúng cách. 12 nhân duyên gồm có: A. Nhân quá khứ: 1 vô minh; 2 hành; B. Quả hiện tại: 3 thức; 4 danh sắc; 5 lục nhập; 6 xúc; 7 thọ; C. Nhân hiện tại: 8 ái; 9 thủ; 10 hữu; D. Quả vị lai: 11 sanh; 12 lăo tử. 12 nhân duyên là không, Cho nên, cũng không có sự chấm dứt của 12 nhân duyên. V́ vậy mà nói: không vô minh, cũng không vô minh hết, là thế. Tứ đế là bốn sự thật căn bản: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ bao gồm tất cả khổ đau về tinh thần và thể xác. Tập là nguyên nhân gây ra khổ đau, mà đầu mối là tham, sân, si. Diệt là chấm dứt khổ đau, tiêu diệt nguyên nhân khổ đau. Đạo là con đường, là phương pháp hành tŕ thực tế đưa đến chấm dứt khổ đau. Khổ và tập là hai nhân quả thuộc thế gian. Diệt và đạo là nhân quả xuất thế gian. Cặp nào cũng quả trước nhân sau, v́ giáo pháp Phật xây dựng trên kinh nghiệm thực tế, chứ không phải trên khái niệm triết học. Bồ tát Bát nhă Ba la mật Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 5, tr. 4268a.
III. HIỆN THỰC BẰNG HÀNH TR̀ THỰC TẾ
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhă Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn. Tam thế chư Phật y bát nhă ba la mật đa cố, đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhă ba la mật đa nên tâm không mắc ngại, v́ không mắc ngại mà không sợ hăi, xa ĺa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương Bát nhă ba la mật đa nên chứng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Câu bởi không sở đắc, xưa nay các nhà chú giải thường dựa vào nội dung của bản văn để ngắt vào đoạn sau. Nhưng gần đây có một vài nhà luận giải cho rằng nó phải thuộc đoạn trước. Điều này gây ra nhiều phân vân. Tra với nguyên bản, th́ lược bản Phạn văn do ngài Huyền Tráng phiên âm có câu: đa sa mỗi na bát ra tỉ để đạt phạ, tức tương đương Phạn văn: tásmăd apraptitvena (v́ vậy, do vô đắc). Và quảng bản của kinh cũng thế. Theo văn pháp, câu dĩ vô sở đắc cố phải gắn liền với đoạn sau. Do thế, cách giải thích xưa nay về câu ấy như một câu "thừa thượng tiếp hạ" không phải là không có lư do và đă được các bản Phạn văn chứng thực là đúng đắn. Bồ đề tát đỏa là một phiên âm tiếng Phạn chữ Bodhisattva, ta thường gọi là Bồ tát. Hành giả tu theo Đại thừa, sở dĩ được gọi là Bồ tát và xứng hợp với danh xưng này, là bởi kiên tŕ sáu phép ba la mật, trong đó tối thắng nhất là phép tu quán chiếu Bát nhă. Nhờ kiên tŕ thực hành phép quán này cho tới tŕnh độ vô sở đắc th́ tâm không c̣n ǵ quái ngại. Quái là bị nhốt vào lồng, mất hết tự do như chim trong lưới, như cá trong nơm. Ngại là bị ngăn trở từ khắp mọi phía, trên dưới trong ngoài, tả hữu, trước sau. Cả hai chữ đều có nghĩa là bị ngăn trở. Đầu mối của sự ngăn trở này là cái mạn nghi (nghi cái), Cho nên, mắc ngại đây là mắc nghi ngại. V́ mạn nghi chụp lên đầu, không cựa quậy được, như cá chậu chim lồng, nên ḷng luôn luôn sợ hăi. Mà ḷng đă sợ hăi th́ vọng niệm dậy khởi liên miên như trong giấc mơ, lấy giả làm chân, lấy quấy làm phải, điên đảo đảo điên, không biết đâu là bờ bến. Do đó, trên bước đường tu hành, có ba cái mốc lớn để kiểm chứng xem công phu hành tŕ có thực sự kết quả hay không. Một là đă giải tỏa mạn nghi chưa? Hai là đă được vô úy chưa? Ba là vọng niệm c̣n dậy khởi không? Nếu mốc đầu chưa lọt qua, th́ chắc chắn đang c̣n dẫm chân tại chỗ, chưa nhích được bước nào kể từ khi khởi tu. Bồ tát nhờ hành tŕ quán chiếu Bát nhă, soi thấy năm uẩn đều không, Do đó, không có ǵ chướng ngại nên được tự tại thoát ngoài ṿng nghi mà bấy lâu giam hăm ḿnh vào trong. Sau khi giải tỏa mạn nghi rồi, mới giải tỏa được sự sợ hăi, thành tựu vô úy. Đạt được vô úy rồi th́ không c̣n bị chi phối nữa. Tâm thanh tịnh dần để mà thấy rơ sự thật, vọng niệm tan biến. Cơn ác mộng đảo điên điên đảo của cuộc sống được giải tỏa. Từ đây không c̣n ǵ vướng bận. Hành giả thong dong tiến thẳng đến Niết Bàn (giải thoát), để rồi cuối cùng bắt gặp cái mà chư Phật đă chứng ngộ: Bồ đề (giác ngộ). Trên đây là tiến tŕnh tu hành của Bồ tát qua ba giai đoạn lớn, đánh dấu bởi ba trụ mốc. Nếu không đạt được một trụ mốc nào trong ba trụ mốc ấy để kiểm chứng trên thực tế, th́ mỗi ngôn từ chỉ là hư lộng ngoa ngôn, dù cho đó là ngôn từ của văn tự Bát nhă. Đó là chưa kể trường hợp càng sử dụng ngôn từ bát nhă thiện xảo bao nhiêu th́ lại mang tội lừa người dối ḿnh bấy nhiêu, nếu không đạt được kiểm chứng bằng kết quả hành tŕ cụ thể. A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là từ ngữ phiên âm tiếng Phạn anuttara samyaksambodhi. A nậu đa la (anuttara), có nghĩa là vô thượng (không ǵ cao hơn). Tam miệu (samyak) có nghĩa chánh đẳng (b́nh đẳng chơn chánh) hay biến (cùng khắp). Tam bồ đề (sambodhi) có nghĩa chánh giác. Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức là giác ngộ chơn chánh tuyệt đối, b́nh đẳng, không c̣n giác ngộ nào cao hơn. C̣n vô thượng biến chánh giác th́ nghĩa là giác ngộ chơn chánh cùng khắp không c̣n giác ngộ nào cao hơn. Chánh đẳng và biến, nghĩa gần tương đồng, v́ đă tuyệt đối b́nh đẳng th́ dàn trải ra cùng khắp mọi địa hạt. Để có một ư niệm rơ ràng về quả vị này, ta thử đem so sánh với những quả vị mà ngoại đạo và tam thừa đạt được để biết hơn kém thấp cao. Trừ phàm phu mê lầm, không nói đến, ngoại đạo có giác nhưng không có chánh. Nhị thừa có chánh giác nhưng không cùng khắp. Bồ tát có chánh giác cùng khắp nhưng không vô thượng. Chỉ Phật mới có giác ngộ gồm đủ ba khía cạnh nói trên. Cùng từ ngữ này có chỗ dịch là vô thượng chánh biến tri, vô thượng chánh đẳng giác, hoặc dịch gọn là vô thượng bồ đề. Bồ tát trên tiến tŕnh tu hành, nhờ nương vào quán chiếu Bát nhă mà được tự tại giải thoát (rốt ráo hướng đến Niết bàn) để rồi bắt gặp quả vị tối cao của chư Phật là quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Và chư Phật sở dĩ thành Phật cũng do một pháp quán ấy mà thôi. Một bên đă thành, một bên sắp thành. Cả hai cùng do một nhân tu như nhau, cùng một hạnh tu như nhau. Đến đây là thuyết minh xong giáo nghĩa tánh không của Bát nhă.
C. LƯU THÔNG
Phàm là một văn phẩm tuyệt hảo, bao giờ cũng có đủ ba phần: nhập, thân và kết. Nếu tự phần là phần nhập trong đó vấn đề đă được đặt ra rơ ràng chính xác, th́ chánh tôn là phần thân, trong đó vấn đề được triển khai và quảng diễn một cách viên măn. Đến đây, phần lưu thông là phần kết với hai nhiệm vụ, vừa gói vừa mở. Gói tức là tóm tắt các ư chính nổi bật nhất của đề tài vừa thuyết minh. Mở là khai thông đề tài, hướng nó đến một chân trời bát ngát bao la hơn, gây cho người đọc niềm hy vọng. Phần lưu thông của kinh này có đủ hai nhiệm vụ vừa nói. Nó có đoạn một, tóm tắt nội dung bằng cách tán thán công đức to lớn của phép tu quán chiếu Bát nhă; và đoạn hai, tŕnh bày diệu dụng của thần chú Đà la ni trong Mật giáo.
I. TÁN THÁN CÔNG ĐỨC CỦA BÁT NHĂ.
Cố tri Bát nhă ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Nên biết Bát nhă ba la mật đa là thần chú lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không chi sánh bằng, trừ được tất cả khổ ách, chắc thật không dối. Chú là dịch chữ mạn trà (mantra) trong tiếng Phạn. Theo nghĩa hẹp, mạn trà là những lời cầu đảo, nghĩa rất bí hiểm khi đọc lên, có tác dụng biến hóa ra các hiện tượng thiên nhiên, cả lành lẫn dữ. Theo nghĩa rộng, và đích thực của nó, mạn trà là cái gây cho ta suy nghĩ, có công năng nắm giữ tóm thâu mọi nghĩa lư, làm tiền đề cho việc tham khảo của ta, từ đó, đẻ ra mọi công đức, mọi diệu dụng. Trong nghĩa này, mạn trà thuộc một trong bốn thứ đà la ni, tức: pháp đà la ni, nghĩa đà la ni, nhân đà la ni và chú đà la ni. Chữ chú trong bài kinh này thuộc loại chú đà la ni. Đại thần chú nghĩa là chú thần lớn, tức có thần lực vĩ đại, có thể chuyển dời, thay đổi mọi việc. Phép tu quán chiếu Bát nhă khêu sáng trí tuệ, Do đó, mà sinh tử trở thành Niết bàn, phiền năo chuyển thành Bồ đề, nên nói là đại thần chú. Thần chú trí tuệ ấy chiếu phá vô minh, trừ dứt phiền năo nên nói là đại minh chú, nghĩa là chú cực kỳ sáng chói, tức chú minh lớn. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng Niết bàn nên nói là chú vô thượng, nghĩa là chú không có ǵ cao hơn nữa. Lại cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng bồ đề, nên nói là chú vô đẳng đẳng, nghĩa là chú sánh với cái không ǵ sánh kịp. V́ phép tu quán chiếu Bát nhă có công đức to lớn như thế, so với công đức của Đà la ni hai bên ngang nhau, v́ thế nên đức Phật đă tán thán và tôn xưng phép tu ấy như là thần chú. Và v́ có công đức như thế, Cho nên, trừ được tất cả thống khổ ách nạn. Cũng v́ công đức ấy là công đức quả có trên hiện thực Cho nên, khẳng định lại một lần nữa rằng nó là chân thật, v́ chẳng phải là dối gạt.
II. DIỆU DỤNG CỦA BÁT NHĂ
Cố thuyết Bát nhă Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. Nên nói chú Bát nhă Ba la mật đa. Nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. Phép quán chiếu Bát nhă có công đức sánh ngang với công đức của chú đà la ni, tức nhiên diệu dụng của phép tu này cũng không thể nghĩ bàn được, Cho nên, thực hành lời chú. Tức thuyết chú viết, nghĩa đen là liền nói chú rằng. Nhưng để diễn đạt cái diệu dụng linh ứng không thể nghĩ bàn ấy, tưởng nên dịch câu ấy là: chú liền ứng rằng th́ mới lộ hết ư sâu xa tàng ẩn trong đoạn này, có hô th́ lập tức có ứng. Và có như thế mới gọi là linh, là huyền diệu. Chú vốn là mật ngữ (lời bí mật). Đă là bí mật, làm sao cắt nghĩa? Tuy nhiên, dựa vào sự cấu tạo, có thể suy đoán một cách thô sơ nghĩa của một số chữ. Chẳng hạn như với câu chú này, nghĩa của nó không đến nỗi khó khăn lắm. Yết đế, Tàu dịch nghĩa là độ, chữ Phạn vốn đọc là gate, có nghĩa đi qua, vượt qua. Yết đế lặp lại hai lần có nghĩa là độ cho ḿnh và độ cho người. Ba la yết đế, do chữ pragate, có nghĩa là đi qua bờ bên kia. Ba la tăng yết đế, là do phiên âm chữ prasamgate, nghĩa là đi qua bờ bên kia hoàn toàn. Bồ đề là giác ngộ. Tát bà ha do phiên âm chữ svha có nghĩa là Ngài khéo nói. Như vậy, ư nghĩa của toàn bài chú có thể tạm dịch như sau: Qua đi, qua đi, qua bờ bên kia đi, hoàn toàn qua bờ bên kia đi, th́ có bồ đề. Ngài khéo nói như vậy. Tạm dịch nghĩa đen của bài chú như trên, nhưng công hiệu của chú hoàn toàn không phải ở nghĩa hay lư. V́ thế, hiểu nghĩa hay lư đối với chú không ích lợi ǵ cả. Điều cốt yếu khi tụng chú, là phải thành tâm. Càng thành tâm th́ càng nhiều linh nghiệm, bởi v́ công dụng hàng đầu của việc tŕ chú là diệt niệm. Vọng niệm có diệt được th́ thân tâm mới khinh an. Do đó, mới có cảm ứng linh nghiệm bất khả tư nghị. Riêng về chú Bát nhă trên đây, diệu dụng cứu cánh là đưa ta mau lên bờ giác.
"Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha"
Bồ tát Quán Thế Âm Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 1, tr. 802b.
|
|
[bottom.htm]
|