Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận

 

 

THIỀN ĐỐN NGỘ

(Tái bản lần thứ hai, có sửa chữa)

DL 1999 - PL 2543


 

LỜI NÓI ĐẦU

Trước đây chúng tôi đă cho ra tập Thiền Căn Bản, do các Thiền sư y trong kinh rút ra phương pháp tu thiền theo thứ lớp từ thấp lên cao. Đến tập này để tên là Thiền Đốn Ngộ, căn cứ vào các tác phẩm của các Thiền sư nằm trong hệ thống Thiền tông do Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền xuống. Tập sách này do góp năm tác phẩm nhỏ chung lại.

Tác phẩm đầu là Thiền Tông Vĩnh Gia Tập của Thiền sư Huyền Giác, đệ tử Lục tổ Huệ Năng. Ngài thông suốt Tam tạng giáo điển, lại rành rẽ về phương pháp tu Chỉ Quán của tông Thiên Thai. Do đó, trong tác phẩm này Ngài giải thích cách tu Chỉ Quán và Thiền rất tinh vi, độc giả có thể nhân đó vào cửa đốn ngộ. Thích Định Huệ, một Thiền sinh tại Thiền viện Chân Không phiên dịch, chúng tôi xem lại và cho đứng vào phần đầu của tập sách.

Tác phẩm thứ hai là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn của Thiền sư Tuệ Hải, đệ tử Mă Tổ Đạo Nhất, cháu đời thứ ba của Lục tổ Huệ Năng. Chúng tôi phiên dịch và đă xuất bản vào năm 1971, nhưng hiện đă hết, nay cho in vào đây cũng là một cách tái bản cho độc giả tiện việc nghiên cứu.

Tác phẩm thứ ba là Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ của Thạch Thành Kim hiệu Thiên Cơ đời Minh, Ngài là môn đệ ḍng thiền Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch, chưa xuất bản.

Tác phẩm thứ tư là Tọa Thiền Dụng Tâm Kư của Thiền sư Thiệu Cẩn hiệu Oánh Sơn ḍng Tào Động ở Nhật Bản. Chúng tôi phiên dịch và đă cho in chung trong quyển Tham Thiền Yếu Chỉ xuất bản vào năm 1962, hiện đă hết.

Tác phẩm thứ năm là Tham Thiền Yếu Chỉ của Ḥa thượng Hư Vân, một Thiền sư Trung Hoa gần chúng ta nhất. Trong tác phẩm này, Ngài dạy nghiêng về thoại đầu theo lối tu sau này của ḍng Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch và đă cho xuất bản năm 1962, hiện đă hết. Để góp lại làm một tài liệu chung cho phương pháp tu đốn ngộ, chúng tôi cho in chung trong tập này.

Năm tác phẩm trên mới chỉ là một phần rất nhỏ trong các tác phẩm của Thiền tông. Nếu phiên dịch hết các tác phẩm về Thiền đốn ngộ có thể đến cả trăm quyển thế này. V́ phương tiện có hạn, chúng tôi cố gắng làm được bao nhiêu th́ mừng bấy nhiêu. Điều cần yếu là độc giả khéo nghiền ngẫm để lănh hội. Một câu mà lănh hội được th́ tất cả đều thông. Nếu đọc cả trăm quyển mà không lănh hội được vẫn là người đứng ngoài cửa. Một thông tất cả đều thông th́ c̣n nói ǵ nhiều ǵ ít? Thế nên quí ở chỗ lănh hội, chớ không quí ở chỗ đọc nhiều. Tuy thế, người không lănh hội được, mà đọc nhiều sách Thiền hoặc đọc nhiều lần, lâu ngày cơ duyên thuần thục tự nhiên lănh hội.

Về phần lượng, quyển sách này chưa thấm vào đâu; song phần phẩm, nó thật đáng kể. Nếu là độc giả nghiền nát được văn tự, có thể con đường đốn ngộ không xa. Nếu là hành giả th́ nương vào đây làm kim chỉ nam tiến bước, Bảo sở không mong cũng sẽ đến.

THÍCH THANH TỪ

TU VIỆN CHÂN KHÔNG

Mùa An cư 1974


 

THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC

THIỀN TÔNG

VĨNH GIA TẬP


 

TỰA

Nghe rằng: Tuệ môn rộng mở lư bặt mối manh sắc tướng, nẻo giác xa xăm một phen lên rồi th́ chôn lấp danh ngôn biểu hiện.

Buồn thay! Đấng Năng Nhân thị hiện ứng hóa khắp nơi, mở diệu điển nơi ba thừa, suốt chân thuyên trong tám bộ. Sở dĩ phát huy đến chỗ sâu xa treo cao trí tuệ soi sáng nẻo tối tăm, xiển dương đại đạo, cỡi sóng Thiền trên sóng dục. V́ vậy, kim quan trùm ánh sáng, ngọc hào thâu vẻ đẹp, một ḿnh nêu cao tinh anh Linh Thứu, riêng mang nghiệp thành lân([1]) chỉ có Đại sư vậy!

Đại sư họ Đới, người ở Vĩnh Gia. Thuở nhỏ, Ngài chuyên tâm nơi Tam tạng, lớn lên lăo thông pháp Đại thừa, ba nghiệp siêng năng riêng hoằng dương Thiền quán. Cảnh trí đều tịch, định tuệ song dung khiến cho bụi lặng nơi nẻo tối tăm, sóng dừng nơi biển diệu. Tâm trong như ngọc, đạo chủng sáng ngời thất tịnh([2]) chói nhau. Giới sạch như trăng, hoa từ tỏ rạng tam không([3]) tŕnh chiếu. Lại thêm, chí thanh khiết như tùng điểm sương, tâm rỗng không như trăng đáy nước. Áo vải cơm rau quên thân v́ đạo, xót thương hàm thức muốn chúng sanh đều được an vui. Quán niệm nối nhau tâm không gián đoạn, trước sau ǵn giữ tiết tháo rắn chắc như đá vàng. Tâm yếu cạn sâu một lư dung thông như kết hoa không thẹn. Thần trí thấu triệt ngôn biểu, lư mầu khế hợp hoàn trung. Khiêm hạ ḿnh, đề cao người. Thuận phàm đồng Thánh chẳng khởi diệt định mà giữ bốn oai nghi. Danh trọng đương thời, hóa đạo cùng khắp. Người thạc học khắp Tam Ngô([4]) đông đúc đến học Thiền, bậc cao nhân ngoài tám hướng vào nhà lư mau như gió thổi.

Ngụy Tĩnh tôi hầu hạ dưới chân Ngài, chỉ hận chưa hết tấm ḷng bỗng phải giă từ trở lại kinh kỳ. Từ đó đến nay u minh xa cách, vĩnh viễn thương tiếc, con mắt diệu huyền vừa gặp lương y chợt mất kim bài; biển dục sóng to mà vị Thầy dẫn đường đă mất. Tác phẩm c̣n đây mà am thất đă quạnh hiu.

Chao ôi! Đau đớn buốt cả tâm can. Một vị Thầy sáng suốt đă mất, bảy chúng biết nương tựa vào đâu. Lời vàng ngọc của bậc cao đức không c̣n được nghe, xa cách càng thêm thê lương sầu thảm.

Lúc Đại sư c̣n tại thế, những lời dạy được ghi lại gồm có mười thiên, góp lại thành một quyển. Ước mong người học được ư quên lời để khế hợp với đạo của Ngài vậy.

Nay sơ lược ghi lại vài lời, nếu có điều chi lầm lạc xin bậc minh triết sửa lại giùm cho.

Nhà Đường, Thứ sử Khánh Châu

NGỤY TĨNH


 

TIỂU DẪN

Quyển này nhan đề Thiền Tông Vĩnh Gia Tập, c̣n được gọi là Vĩnh Gia Tập, do Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đệ tử nối pháp của Lục tổ Huệ Năng, trước tác. Nội dung toàn tập được chia làm mười chương:

1.      Nghi thức lập chí mộ đạo

2.      Răn ư kiêu sa

3.      Tịnh tu ba nghiệp

4.      Bài tụng về Xa-ma-tha

5.      Bài tụng về Tỳ-bà-xá-na

6.      Bài tụng về Ưu-tất-xoa

7.      Cấp bậc lần lượt của ba thừa

8.      Sự lư không hai

9.      Thư khuyên bạn hữu

10.  Văn phát nguyện

Trong đây, ba chương đầu là phần tự, năm chương kế là phần chánh tông, hai chương cuối là phần lưu thông. Tập này tŕnh bày về dụng ư Thiền định, lịch tŕnh tu tâm, c̣n nhắc nhở người tu thiền phải cẩn thận giữ ǵn ba nghiệp thân miệng ư cho thanh tịnh.

Tác giả húy là Huyền Giác (665-713), họ Đới, người đời Đường ở đất Vĩnh Gia (nay là huyện Vĩnh Gia, tỉnh Triết Giang). Ngài xuất gia từ tấm bé, tinh thông Tam tạng, sở trường về môn Chỉ Quán Thiên Thai. Về sau, nhân được Thiền sư Tá Khê Huyền Lăng khích lệ, Ngài cùng với Thiền sư Đông Dương Huyền Sách đến tham bái Lục tổ Huệ Năng, chỉ một đêm Ngài được ấn khả nên người đời gọi là “Nhất túc giác” (một đêm giác ngộ). Sáng hôm sau Ngài xuống núi trở về Ôn Giang tuyên dương ư Tổ, kẻ đến học rất đông đảo, tông phong hưng thạnh, hiệu là Chân Giác đại sư. Ngày 17 tháng 10 năm thứ sáu niên hiệu Tiên Thiên (713 TL), đời vua Đường Huyền Tôn, Ngài an tọa thị tịch. Ngày 13 tháng 11 an táng tại hướng nam Tây Sơn, tháp hiệu Tịnh Quang, thụy phong Vô Tướng đại sư, người đời thường gọi Ngài là Vĩnh Gia đại sư. Ngài trước tác tập này cùng một thiên Chứng Đạo Ca đều được lưu truyền trong đời.


 

THIỀN TÔNG VĨNH GIA TẬP

Tập này được chia làm mười chương:

1- Nghi thức lập chí mộ đạo: Phàm muốn tu đạo trước tiên phải lập chí và học nghi tắc hầu Thầy. Do đó chương đầu tiên nói về nghi thức mộ đạo.

2- Răn ư kiêu sa: Ban đầu dù đă lập chí tu đạo khéo biết qui nghi. Nếu ba nghiệp kiêu sa th́ vọng tâm khuấy động làm sao được định. Do đó chương thứ hai nói về răn ư kiêu sa.

3- Tịnh tu ba nghiệp: Trước đă lược nêu cương yếu về việc ngăn cấm kiêu sa. Nay kiểm điểm kỹ lưỡng lại khiến cho lỗi chẳng sanh. Do đó chương thứ ba nói về tịnh tu ba nghiệp.

4- Bài tụng về Xa-ma-tha (Chỉ): Trước đă kiểm trách thân và miệng khiến lỗi thô không sanh. Kế đến phải vào cửa tu đạo, theo thứ tự th́ chẳng ra ngoài định tuệ, năm loại móng tâm, sáu khoa liệu giản. Do đó chương thứ tư là bài tụng về Xa-ma-tha.

5- Bài tụng về Tỳ-bà-xá-na (Quán): Chẳng phải giới th́ không thiền, chẳng phải thiền th́ không tuệ. Trên đă tu định, định lâu th́ tuệ sáng. Do đó chương thứ năm là bài tụng về Tỳ-bà-xá-na.

6- Bài tụng về Ưu-tất-xoa (Xả): Tu riêng môn định, định lâu bị ch́m; học riêng môn tuệ, tuệ nhiều tâm động. Do đó chương thứ sáu là bài tụng về Ưu-tất-xoa, định tuệ cân bằng khiến không ch́m không động, định tuệ quân b́nh buông xả nhị biên([5]).

7- Cấp bậc lần lượt của ba thừa: Định tuệ đă quân b́nh th́ tịch mà thường chiếu, tam quán nhất tâm th́ nghi nào chẳng trừ, trí chiếu nào không viên măn. Tự ḿnh dù đă hiểu rơ ràng nhưng thương người chưa ngộ, ngộ có cạn sâu. Do đó chương thứ bảy nói về cấp bậc lần lượt của ba thừa.

8- Sự lư không hai: Ba thừa ngộ lư, không lư nào chẳng cùng. Tột lư ở nơi sự, rơ sự tức lư. Do đó chương thứ tám nói sự lư không hai, tức sự là chân dùng để trừ kiến chấp điên đảo.

9- Thư khuyên bạn hữu: Sự lư đă dung, nội tâm tự sáng, lại thương người học đạo đời sau luống uổng tấc bóng. Do đó chương thứ chín là thư khuyên bạn hữu.

10- Văn phát nguyện: Khuyên bạn tuy là thương người nhưng c̣n để ư chú trọng đến một người, tâm chưa cùng khắp. Do đó chương thứ mười nói về văn phát nguyện thệ độ tất cả vậy.


 

CHƯƠNG I

NGHI THỨC LẬP CHÍ MỘ ĐẠO

Trước tiên phải quán ba cơi để sanh tâm nhàm ĺa. Kế gần bạn lành cầu đường giải thoát. Đối với Sư trưởng, sớm thăm tối viếng luôn ǵn lễ độ. Xét kỹ trái thuận thế nào để biết hầu hạ dưỡng nuôi. Hỏi điều phải làm để biết phụng sự. Chiêm ngưỡng không lười v́ sanh ḷng ân cần kính trọng. Luôn luôn lấy sự quyết liễu tâm yếu làm việc chánh tu. Theo sự hiểu biết tŕnh bày để rơ tà chánh. Nghiệm theo khí lực để biết sống chín. Thấy bệnh sanh nghi phải dùng thuốc hay điều trị. Suy nghĩ tột cùng v́ cầu chân lư. Ngày đêm chuyên cần, sợ duyên sai sử. Chuyên tâm một hạnh để thành đạo nghiệp. V́ pháp quên thân là do ḷng biết ơn. Như ḷng tin của ḿnh c̣n yếu kém, ư chí không chuyên, hạnh thô hiểu cạn, phóng túng theo cơ, chạm việc th́ nhân việc sanh tâm, duyên không th́ y theo không mà dứt niệm. Đă chẳng phải b́nh đẳng quán về động tịnh th́ thuận theo sự đắc thất của có không. Nhưng đạo không có cấp bậc, tùy theo công phu mà có vị thứ.


 

CHƯƠNG II

RĂN Ư KIÊU SA

Cơm áo có ra là do trồng lúa nuôi tằm. Khẩn đất đào mương, luộc nấu ngài tằm, nấu chín làm ra tổn thương sanh mạng, chúng phải chịu chết để giúp thân ta. Chỉ sợ đói lạnh, chẳng biết chết là khổ, nỡ giết hại loài khác để cung cấp cho ḿnh. Ôi, đau đớn thay! Công người nông phu tích chứa sức lực sâu dày, đâu riêng ǵ loài hàm thức thiệt mạng, cũng c̣n là của tín thí khó tiêu. Tuy đă xuất gia nào có đức ǵ? Chỉ muốn thọ nhận của tín thí để nuôi thân, đâu biết xét suy đức ḿnh so với công ấy. Luận Tỳ-ni nói: “Thọ nhận của tín thí dùng không đúng pháp, buông lung tâm ư, bỏ phế sự tu đạo nghiệp, sẽ bị đọa vào tam đồ thọ sự khổ nặng.”

Phàm muốn vượt ra ba cơi mà chưa có hạnh tuyệt trần, uổng làm thân nam tử không có chí trượng phu. Nhưng v́ suốt ngày chộn rộn, tối lại hôn mê, đạo đức chưa tu, cơm áo lăng phí. Trên th́ trái đại đạo, dưới th́ thiếu lợi sanh, giữa th́ phụ bốn ơn, thật đáng hổ thẹn! Do đó, người trí phải khá xét suy, thà có pháp mà chết c̣n hơn không pháp mà sống, đâu nên luống tự si mê quí thân khinh pháp.


 

CHƯƠNG III

TỊNH TU BA NGHIỆP

Tham, sân, tà kiến thuộc ư nghiệp. Nói hư dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác thuộc khẩu nghiệp. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục thuộc thân nghiệp.

Phàm người có chí muốn cầu đại đạo, trước tiên cần phải tu ba nghiệp cho thanh tịnh. Về sau, trong bốn oai nghi lần lượt vào đạo, nhẫn đến khi sáu căn đối trần tùy duyên liễu đạt, cả hai cảnh trí đều lặng thầm hợp với ư chỉ diệu huyền.

A.- Thế nào là tịnh tu thân nghiệp?

Tự xét sâu xa trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, kềm thúc ba tội không cho sơ thất. Từ bi nuôi nấng chẳng hại mạng sống, tất cả loài hàm thức trên không dưới nước, không kể lớn nhỏ đều thương yêu bảo bọc cho đến loài ḅ bay máy cựa cũng không làm tổn hại. Gặp kẻ nguy nan ân cần cứu tế, dùng phương tiện độ khiến cho giải thoát. Đối với tiền bạc của cải người khác không cho th́ không lấy, nhẫn đến vật của quỉ thần làm chủ, dù là cây kim ngọn cỏ vẫn không cố phạm. Gặp người ăn xin nghèo khó, tùy theo tiền của ḿnh có, dùng ḷng cung kính bố thí khiến cho họ được an ổn, c̣n ḿnh không cầu sự báo ơn. Suy nghĩ như vầy: Chư Phật quá khứ trải vô lượng kiếp, thực hành bố thí cho cả voi ngựa bảy báu, đầu mắt năo tủy nhẫn đến xả bỏ thân mạng, không chút nuối tiếc. Nay ta cũng vậy, tùy theo khả năng bố thí, hoan hỉ cúng dường, tâm không lẫn tiếc. Đối với nữ sắc tâm không nhiễm trước. Phàm phu điên đảo bị dục làm say, đam mê phóng túng, không biết lỗi lầm của sự dâm dục, như vin cành hoa không biết có ẩn rắn độc. Người trí xem dục như miệng rắn độc, móng vuốt gấu hùm, lửa bùng sắt nóng cũng chẳng dụ được. Cột đồng giường sắt cháy lưng chín ruột, máu thịt bầy nhầy, đau thấu tâm tủy. Quán sát như thế chỉ khổ không vui. Túi da đựng phẩn tích chứa máu mủ, bề ngoài giả dối giồi phấn thoa hương, bên trong một mùi hôi thúi, dơ bẩn chảy ra làm chỗ nương ở của ḍi nhặng, thúi tha đến lỗ cầu xí cũng không b́ kịp. Người trí xét đó, chỉ thấy lông tóc, móng răng, da mỏng da dày, máu thịt, mồ hôi nước mắt, nước dăi, nước miếng, mủ mỡ, gân mạch năo mô, đàm vàng đàm trắng, gan mật cốt tủy, phổi thận, lá lách, dạ dày, tim, mỡ nước, bàng quang, ruột già ruột non, sanh tạng thục tạng, các đường tiểu tiện. Những vật như thế đều không có Ngă, mà do gió thức cổ động hư vọng sanh ra, ngôn ngữ dối trá, nói làm người bạn thân, kỳ thật oán giận ghét ghen làm cho hư đức chướng đạo, đó là tội lỗi nặng nhất phải nên xa ĺa như tránh giặc oán. Bởi thế, người trí xem đó tưởng như rắn độc, thà gần rắn độc, chẳng gần nữ sắc. V́ sao? Rắn độc hại người chỉ chết một đời, nữ sắc trói buộc trăm ngàn muôn kiếp bị các độc hại khổ đau vô cùng, phải nên xét nghĩ chớ nên gần gũi.

V́ thế người trí cần phải kiểm điểm ba lỗi, chừa bỏ lỗi lầm, trái ác theo thiện: chẳng giết chẳng trộm, phóng sanh bố thí, không làm việc dâm dục bẩn thỉu, thường tu hạnh thanh tịnh. Ngày đêm chuyên cần hành đạo lễ bái, nương về Tam Bảo, chí cầu giải thoát, đối với thân mạng của cải phải tu ba pháp kiên cố. Biết thân hư huyễn không có Tự tánh, sắc tức là không cái ǵ là ngă? Tất cả các pháp chỉ có giả danh không có nhất định. Thân này của ta, bốn đại năm uẩn mỗi mỗi đều chẳng phải ngă, hợp lại cũng không, vô minh không rơ, chấp lầm là ngă. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục phóng túng, suốt ngày lẫn đêm không ngừng tạo nghiệp. Dù không chân thật nhưng thiện ác báo ứng vẫn như bóng tùy h́nh. Lúc quán như thế, chẳng cầu sự bất chánh để nuôi thân mạng, phải tự quán thân tưởng như rắn độc, v́ để trị bệnh nên nhận bốn sự cúng dường([6]). Thân mặc y phục như che ghẻ lở. Miệng ăn thức ngon như bệnh uống thuốc. Tiết kiệm thân miệng không sanh sự xa hoa thái quá, nghe nói ít muốn rất thích tu hành. Cho nên kinh nói: “Bậc đầu-đà ít muốn khéo biết vừa biết đủ, người ấy có thể vào đạo Hiền Thánh.” V́ sao? Chúng sanh ở trong đường ác([7]) trải vô lượng kiếp thiếu thốn áo cơm, kêu la thảm thiết, đói lạnh khổ sở, xương da dính nhau. Nay ta tạm thiếu chút đỉnh chưa phải là khổ. Thế nên người trí quí pháp khinh thân, siêng năng cầu pháp chí đạo, đến thân mạng cũng chẳng đoái hoài, đây gọi là tịnh tu thân nghiệp.

B.- Thế nào là tịnh tu khẩu nghiệp?

Tự xét sâu xa bốn lỗi của miệng là căn bản sanh tử, tăng trưởng điều ác, che lấp muôn hạnh, gây chuyện thị phi. Thế nên, người trí muốn nhổ sạch gốc sanh tử, dứt trừ hư vọng, phải tu bốn như thật ngữ, đó là các lời ngay thẳng, dịu dàng, ḥa hợp và như thật. Bốn thật ngữ này là hạnh của người trí. V́ sao? Lời ngay thẳng hay trừ lời thêu dệt, lời dịu dàng hay trừ lời hung ác, lời ḥa hợp hay trừ lời hai lưỡi, lời như thật hay trừ lời hư dối.

Lời ngay thẳng có hai thứ: một là nói đúng pháp khiến cho người nghe tin hiểu rơ ràng, hai là nói đúng lư khiến cho người nghe trừ hết nghi lầm.

Lời dịu dàng cũng có hai: một là lời an ủi khiến cho người nghe vui vẻ gần gũi, hai là tiếng cung thương thanh nhă khiến cho người nghe yêu thích tu tập.

Lời ḥa hợp cũng có hai: một là sự ḥa hợp, nghĩa là thấy người đấu tranh, can gián khuyên nên xả bỏ, chẳng tự khen ḿnh, trái lại nhún nhường kính vật; hai là lư ḥa hợp, nghĩa là thấy người thối tâm Bồ-đề ân cần khuyên tấn, khéo léo phân biệt Bồ-đề phiền năo, b́nh đẳng nhất tướng. Nếu tâm hành giả lui sụt th́ dùng đức độ để vỗ về, siêng năng đến trước người ấy khéo nói về việc mê ngộ.

Lời đúng như thật cũng có hai thứ: một là sự thật, nghĩa là có th́ nói có, không th́ nói không, phải th́ nói phải, quấy th́ nói quấy; hai là lư thật, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Niết-bàn Như Lai thường trụ bất biến.

Thế nên người trí thực hành bốn thật ngữ ấy, quán sát chúng sanh nhiều kiếp đến nay v́ bốn lỗi này làm cho điên đảo trôi ch́m sanh tử khó được xuất ly. Nay ta muốn nhổ gốc rễ của nó, quan sát khẩu nghiệp kia do môi răng, tiếng vang của yết hầu cuống rốn, gió thức kích động phát ra tiếng nói. Do tâm làm nhân duyên sanh hai thứ hư thật khác nhau, thật th́ lợi ích, hư th́ tổn mất. Thật là khởi gốc lành, hư là sanh cội ác. Cội gốc thiện ác là do lời nói nơi cửa miệng, nói lời thiện là tứ chánh, nói lời ác là tứ tà. Tà th́ bị khổ, chánh th́ được vui. Thiện là duyên trợ đạo, ác là gốc hư đạo. Thế nên người chánh phải có tâm hộ tŕ việc chánh, dùng lời thật để lập thân, tụng kinh niệm Phật quán sát thật tướng của lời nói vốn không tồn tại, nói nín b́nh đẳng. Đấy gọi là tịnh tu khẩu nghiệp.

C.- Thế nào là tịnh tu ư nghiệp?

Do niệm tà làm nhân duyên hay sanh ra muôn điều ác. Nhờ chánh quán làm nhân duyên hay khởi lên vạn điều thiện. Cho nên kinh nói: “ba cơi không có pháp riêng, chỉ do nhất tâm tạo tác”, nên biết tâm là căn bản của vạn pháp vậy.

Thế nào là tà niệm? Vô minh chẳng rơ chấp lầm là ngă, ngă kiến kiên cố tham sân tà kiến chấp càn ngoại cảnh sanh ra các thứ đắm nhiễm. Nên kinh nói: “Nhân v́ có ngă bèn có ngă sở. Nhân v́ ngă sở khởi ra sáu mươi hai kiến chấp đoạn thường([8]), chín mươi tám sử kiến tư([9]) tương tục gây nên sanh tử luân hồi trong ba cơi chẳng thôi.” Phải biết tà niệm là gốc của các điều ác, thế nên người trí phải chế ngự mà không theo nó.

Thế nào là chánh quán? Ta người không khác, sắc tâm chẳng hai; Bồ-đề phiền năo bản tánh không khác, sanh tử Niết-bàn b́nh đẳng nhất chiếu. Do đó, kinh nói: “Ĺa ngă, ngă sở, quán pháp b́nh đẳng, ngă và Niết-bàn cả hai đều không.” Phải biết các pháp chỉ có danh tự. Cho nên kinh nói: “Cho đến Niết-bàn cũng chỉ có danh tự.” Lại nói: “Văn tự tánh ly, danh tự cũng không.” V́ sao? Pháp chẳng tự có tên, giả đặt tên để gọi pháp, pháp đă chẳng phải pháp, danh cũng chẳng phải danh, danh chẳng đúng với pháp, pháp chẳng đúng với danh, danh pháp không đúng, tất cả không tịch. Cho nên kinh nói: “Pháp không có danh tự v́ ngôn ngữ dứt.” Thế nên diệu tướng th́ bặt danh, chân danh th́ chẳng phải tự. V́ sao? Vô vi tịch diệt vi diệu tột cùng bặt tướng ĺa danh, đường tâm ngôn dứt. Phải biết đó là điểm quan yếu của sự về nguồn chánh quán. V́ thế người trí dùng chánh quán làm nhân duyên để muôn hoặc([10]) đều trừ, cảnh trí đều quên, nguồn tâm thanh tịnh. Đấy gọi là tịnh tu ư nghiệp.

Các điều kể trên đây, trong bốn oai nghi lúc sáu căn đối với trần cảnh phải tùy duyên liễu đạt để theo thứ lớp mà vào đạo vậy.


 

CHƯƠNG IV

BÀI TỤNG VỀ XA-MA-THA (Chỉ)

Khéo khéo lúc dụng tâm,
Khéo khéo không tâm dụng,
Không tâm khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.

Phàm niệm chẳng quên th́ trần chẳng dứt, trần chẳng dứt th́ niệm chẳng quên. Trần quên là do dứt niệm mà quên, niệm dứt là do quên trần mà dứt. Quên trần mà dứt nên dứt mà không có cái hay dứt (năng tức), dứt niệm mà quên nên quên mà không có cái bị quên (sở vong). Quên mà không có cái bị quên nên trần bị khiển trừ chẳng phải là đối tượng bị biết, dứt mà không có cái hay dứt nên niệm diệt chẳng phải là chủ thể hay biết. Cái biết diệt mất, cái đối tượng cũng bị khiển trừ th́ một bề vắng lặng. Diệu tánh thiên nhiên lặng yên không nương gá, như lửa đốt hư không th́ lửa tự tắt. Hư không dụ cho diệu tánh chẳng phải tướng, lửa tắt dụ cho vọng niệm chẳng sanh. Có lời rằng:

Quên duyên rồi th́ lặng lặng
Tánh linh tri hiện rơ ràng
Vô kư mê mờ tỏ rơ
Hợp chân vốn không rành rành.
Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô kư lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Nếu lấy cái biết dùng để biết lặng th́ đây chẳng phải là cái biết không duyên, như tay cầm cây như ư, chẳng phải là trên tay không có cây như ư. Nếu lấy cái tự biết để biết, cũng chẳng phải là cái biết không duyên, như bàn tay nắm lại chẳng phải là không có nắm tay. Cũng chẳng biết cái biết lặng, cũng chẳng tự biết cái biết th́ không thể nói là không biết, tự tánh hiển nhiên cho nên nói chẳng đồng gỗ đá, như tay chẳng cầm cây như ư, cũng chẳng nắm lại thành cái nắm tay, nhưng không thể nói là không có tay. V́ rơ ràng có tay nên chẳng đồng với sừng thỏ.

Lại nữa, thứ tự tu tâm là hễ dùng cái biết để biết vật th́ vật c̣n, cái biết cũng c̣n. Nếu dùng cái biết để biết cái biết, biết được cái biết th́ ĺa được vật, vật tuy ĺa được nhưng cái biết hăy c̣n. Khởi lên cái biết để biết cái biết, lúc cái biết sau sanh th́ cái biết trước đă diệt. Cả hai cái biết chẳng cùng một lượt, hễ lúc cái biết trước diệt th́ cái chỗ diệt ấy là cảnh của cái biết, nên năng sở đều chẳng phải chân. Cái biết trước diệt, cái diệt ấy dẫn theo cái biết sau, cái biết sau ấy lại tiếp tục diệt, sanh diệt nối nhau tự đó là nẻo luân hồi.

Nay nói biết đó, là chẳng cần biết cái biết, nhưng chỉ cần biết để biết mà thôi th́ cái biết trước chẳng tiếp tục diệt, cái biết sau chẳng dẫn khởi, trước sau đứt đoạn, khoảng giữa tự bị cô lập. Đương thể chẳng nhớ đến, đúng lúc liền tiêu diệt, biết thể đă diệt rồi th́ rỗng rang như nắm bắt hư không, phút chốc vắng lặng chỉ có cái giác vô sở đắc tức là không giác mà giác, giác mà không giác, khác hẳn gỗ đá. Đây là chỗ bắt đầu dụng tâm cần phải dứt bặt tư lự, chợt đồng như người chết, năng sở liền quên, mảy may đều sạch. Vắng lặng tợ không biết mà biết, tánh của cái không biết ấy khác với gỗ đá. Đây là chỗ người sơ tâm khó lănh hội được.

Người mới phát tâm chẳng nên có ba thứ:

1) Ác, nghĩa là nghĩ tưởng đến các nhân duyên như ngũ dục thế gian v.v…

2) Thiện, nghĩa là nghĩ tưởng đến các việc tạp thiện thế gian v.v…

3) Vô kư, nghĩa là chẳng nghĩ đến thiện ác, lại rơi vào hôn trầm.

Trong Giới cần phải đủ ba thứ:

1) Nhiếp luật nghi giới, nghĩa là dứt tất cả các điều ác.

2) Nhiếp thiện pháp giới, nghĩa là tu tất cả các điều thiện.

3) Nhiêu ích hữu t́nh giới, nghĩa là thệ độ tất cả chúng sanh.

Trong Định cần phải phân biệt ba thứ:

1) An trụ định, nghĩa là diệu tánh thiên nhiên vốn chẳng phải động.

2) Dẫn khởi định, nghĩa là lóng ḷng dứt vọng trí tuệ phát sáng.

3) Biện sự định, nghĩa là nước định lóng trong soi tỏ muôn tượng.

Trong Tuệ cũng cần phải phân biệt ba thứ:

1) Nhân không tuệ, nghĩa là rơ năm ấm chẳng phải ngă tức là trong mỗi ấm không có ngă như lông rùa sừng thỏ([11]).

2) Pháp không tuệ, nghĩa là rơ các pháp như ấm v.v… duyên giả chẳng phải thật, như bóng trong gương như trăng đáy nước.

3) Không không tuệ, nghĩa là rơ cảnh và trí đều không, cái không ấy cũng không.

Trong Kiến cần phải biết ba thứ:

1) Không kiến, nghĩa là thấy không mà cái thấy chẳng phải không.

2) Bất không kiến, nghĩa là thấy chẳng không mà cái thấy chẳng phải chẳng không.

3) Tánh không kiến, nghĩa là thấy Tự tánh mà cái thấy chẳng phải tánh.

Trong Thiên cần phải lựa ra ba thứ:

1) Có pháp thân, không có Bát-nhă và giải thoát.

2) Có Bát-nhă, không có giải thoát và pháp thân.

3) Có giải thoát, không có pháp thân và Bát-nhă.

Có một thiếu hai là chẳng viên, chẳng viên nên chẳng phải tánh.

Lại nữa trong Thiên cần phải lựa ra ba thứ:

1) Có pháp thân và Bát-nhă, không có giải thoát.

2) Có Bát-nhă và giải thoát, không có pháp thân.

3) Có giải thoát và pháp thân, không có Bát-nhă.

Có hai thiếu một là chẳng viên, chẳng viên nên chẳng phải tánh.

Trong Viên cần phải có đủ ba thứ:

1) Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă. Bát-nhă không chấp tức giải thoát. Giải thoát tịch diệt tức pháp thân.

2) Bát-nhă không chấp tức giải thoát. Giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă.

3) Giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă. Bát-nhă không chấp tức giải thoát.

Nêu lên một, tức đủ cả ba; nói ba thể tức là một. Đây là ba đức trong nhân chẳng phải ba đức trên quả. Muốn biết ba đức trên quả: Pháp thân có đoạn đức, do v́ dứt hoặc để bày đức, nên gọi là đoạn đức. Tự thọ dụng thân có trí đức, v́ đầy đủ công đức chân thật của bốn trí([12]). Tha thọ dụng thân và hóa thân có đại ân đức v́ tha thọ dụng thân ban ân đức cho hàng Thập địa Bồ-tát, v́ ba thứ hóa thân đối với các hàng Bồ-tát, Nhị thừa và loài dị sanh có ân đức.

Ba đế([13]), bốn trí, ngoại trừ Thành sở tác trí duyên tục đế. Nhưng pháp không có cạn sâu mà chiếu th́ có sáng tối, tâm không phải nhơ sạch mà giải th́ có mê ngộ… Kẻ sơ tâm mê đâu chẳng phải cạn, cuối cùng khế ngộ viên lư mới biết đâu chẳng phải sâu. Mê th́ mất lư mà tự sai, ngộ th́ hết sai mà tức lư. Mê ngộ th́ đồng lư ấy cho nên mới có danh từ tiệm thứ.

Lại nữa người mới tu tâm sau khi nhập môn cần phải biết năm niệm:

1. Cố khởi

2. Quán tập

3. Tiếp tục

4. Biệt sanh

5. Tức tịnh

Niệm cố khởi, nghĩa là khởi tâm nghĩ đến ngũ dục thế gian và các việc tạp thiện.

Niệm quán tập, nghĩa là vô tâm cố nhớ, chợt nghĩ, nghĩ đến các việc thiện ác v.v…

Niệm tiếp tục, nghĩa là tập quán chợt khởi, biết tâm rong ruổi tán loạn mà chẳng chế ngự cho nó dừng lại, trái lại c̣n tiếp tục nghĩ tưởng theo niệm trước.

Niệm biệt sanh, nghĩa là biết niệm trước là tán loạn liền sanh tâm hổ thẹn cải hối.

Niệm tức tịnh, nghĩa là lúc mới ngồi chẳng nghĩ đến các việc thiện ác, vô kư thế gian. Dụng công ngay chỗ này nên nói là tức tịnh.

Người sơ tâm phần nhiều có một niệm quán tập. Người giải đăi có hai niệm tiếp tục và cố khởi. Người hay hổ thẹn phần nhiều có một niệm biệt sanh. Người tinh tấn thường có một niệm tức tịnh. Bốn niệm quán tập, tiếp tục, cố khởi và biệt sanh là bệnh. Một niệm tức tịnh là thuốc. Tuy thuốc và bệnh có khác nhưng đều gọi chung là niệm. Lúc năm niệm này ngừng dứt gọi là nhất niệm tương ưng. Nhất niệm nghĩa là tự tánh linh tri. Nhưng năm niệm ấy là chi nhánh của nhất niệm, nhất niệm là căn bản của năm niệm ấy.

Lại nữa, nếu lúc nhất niệm tương ưng, cần phải biết sáu khoa liệu giản:

1. Biết bệnh

2. Biết thuốc

3. Biết đối trị

4. Biết lỗi sanh

5. Biết thị phi

6. Biết chánh trợ

1- Bệnh có hai thứ: một là duyên lự, hai là vô kư. Duyên lự là hai niệm thiện ác, tuy khác nhau nhưng đều chẳng phải giải thoát nên đều gọi chung là duyên lự. Vô kư là tuy chẳng duyên các việc thiện ác v.v… nhưng cũng chẳng phải Chân tâm chỉ là hôn trầm. Hai thứ này đều là bệnh.

2- Thuốc cũng có hai: một là lặng lặng, hai là tỉnh tỉnh. Lặng lặng là chẳng nghĩ đến các việc thiện ác v.v.. của ngoại cảnh. Tỉnh tỉnh là chẳng sanh các tướng hôn trầm vô kư. Hai thứ này gọi là thuốc.

3- Đối trị, nghĩa là dùng lặng lặng trị duyên lự, dùng tỉnh tỉnh trừ hôn trầm. Dùng hai thứ thuốc này để trị hai chứng bệnh kia cho nên gọi là đối trị.

4- Lỗi sanh, nghĩa là lặng lặng lâu th́ sanh hôn trầm, tỉnh tỉnh lâu th́ sanh duyên lự, nhân v́ thuốc mà sanh bệnh nên nói là lỗi sanh.

5- Biết thị phi, nghĩa là lặng lặng mà chẳng tỉnh tỉnh th́ sẽ hôn trầm, tỉnh tỉnh mà chẳng lặng lặng th́ sẽ duyên lự. Chẳng tỉnh tỉnh, chẳng lặng lặng th́ chẳng những duyên lự mà c̣n hôn trầm. Vừa lặng lặng vừa tỉnh tỉnh, chẳng những sáng suốt mà c̣n yên lặng, đó là trở về nguồn diệu tánh vậy. Trong bốn câu này, ba câu trước là phi (sai), một câu chót là thị (phải) cho nên nói là biết thị phi.

6- Chánh trợ, nghĩa là dùng tỉnh tỉnh làm chánh, lặng lặng làm trợ. Hai việc này thể không rời nhau giống như người bệnh nhờ gậy mà đi được, lấy sự đi là chánh, lấy cây gậy làm trợ. Phàm người bệnh muốn đi, trước tiên cần phải cầm gậy rồi sau mới đi được. Người tu tâm cũng vậy, đầu tiên cần phải dứt duyên lự khiến tâm lặng lặng, kế đó phải tỉnh tỉnh chẳng để hôn trầm khiến tâm sáng suốt, sáng suốt mà vắng lặng, hai tên đồng thời một thể. Ví như người bệnh muốn đi, thiếu gậy không thể đi được, lúc đang đi nhờ gậy mới đi được. Người dụng công tu cũng vậy, sáng suốt và lặng lẽ chẳng được khác thời, tuy có hai tên mà thể của chúng không khác. Lại nói: Loạn tưởng là bệnh, vô kư cũng là bệnh. Lặng lặng là thuốc, tỉnh tỉnh cũng là thuốc. Lặng lặng phá loạn tưởng, tỉnh tỉnh trị vô kư. Lặng lặng sanh vô kư, tỉnh tỉnh sanh loạn tưởng. Lặng lặng tuy có thể trị loạn tưởng mà lại sanh vô kư, tỉnh tỉnh tuy có thể trừ vô kư mà lại khởi loạn tưởng. Do đó nói:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô kư lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Lặng lặng là trợ, tỉnh tỉnh là chánh. Hăy suy nghĩ kỹ!

Lại nữa, sáu khoa liệu giản cần phải biết rơ năm ấm trong nhất niệm. Nghĩa là dùng thức tương ưng phân biệt rơ ràng gọi là Thức ấm, lănh nạp tại tâm tức là Thọ ấm, tâm duyên lư này tức là Tưởng ấm, hành dụng lư này tức là Hành ấm, ô uế chân tánh tức là Sắc ấm. Năm ấm này luận về thể tức là nhất niệm, nhất niệm này nói về thể th́ toàn là năm ấm. Thấy rơ ràng trong nhất niệm này không có chủ tể tức là nhân không tuệ, thấy như huyễn như hóa tức là pháp không tuệ. Thế nên cần phải biết năm niệm và sáu khoa liệu giản này xin chớ nghi ngờ. Như muốn lấy vàng thật, phải biết rơ cái nào là gạch ngói và vàng giả, chỉ cần lựa bỏ riêng ra hết, dầu không biết vàng thật, vàng thật cũng tự hiện ra lo ǵ chẳng được.


 

CHƯƠNG V

BÀI TỤNG VỀ TỲ-BÀ-XÁ-NA (Quán)

Phàm chẳng phải trí th́ chẳng biết cảnh, nếu chẳng có cảnh th́ trí chẳng sanh. Trí sanh là biết cảnh mà sanh, biết cảnh là do trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết th́ biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh nên sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh, tuy trí mà chẳng phải có. Biết mà không có cái bị biết, tuy cảnh mà chẳng phải không. Không tức chẳng không, có tức chẳng có, có không đều chiếu cả hai th́ diệu ngộ hiển nhiên. Như lửa được củi càng thêm cháy mạnh, củi dụ như cảnh để phát sanh trí, lửa dụ cho diệu trí biết cảnh. Có lời rằng:

Đạt tánh không, chẳng trói buộc
Tuy duyên giả, không đắm trước
Hai cảnh có không đồng soi
Một tâm trung quán siêu vượt.

Nếu trí biết nơi cảnh tức là trí biết cảnh không, như mắt thấy hoa không là mắt biết hoa không. Nếu trí biết nơi trí, tức là trí biết trí không, như mắt thấy con mắt không là mắt biết mắt không. Trí tuy biết cảnh không và biết trí không, nhưng chẳng phải không trí biết cảnh. Cảnh không trí vẫn có. Trí biết cảnh không và trí không, nên không có cảnh nào trí chẳng biết, như con mắt biết hoa không và biết mắt không, nhưng chẳng phải không biết có mắt thấy hoa. Hoa không mắt vẫn có. Mắt biết hoa không và mắt không nên có hoa nào mà mắt chẳng biết.

Lại nữa, tất cả các pháp đều là nhân duyên giả dối, v́ nhân duyên sanh nên đều không Tự tánh. Một pháp đă vậy, muôn pháp cũng vậy. Cảnh trí theo nhau th́ đâu chẳng lặng. V́ sao? V́ pháp nhân duyên tánh không sai biệt. Nay đây ba cơi luân hồi, sáu đường lên xuống, tịnh uế khổ lạc, phàm Thánh sai khác đều do ba nghiệp, bốn nghi([14]) sáu căn đối cảnh. Theo t́nh tạo nghiệp, quả báo chẳng đồng, thiện th́ hưởng lạc, ác th́ thọ khổ. Cho nên kinh nói: “Thiện ác là nhân, khổ lạc là quả.” Phải biết pháp không có tướng nhất định, tùy duyên tập hợp cấu thành, duyên chẳng phải là có ngă, cho nên gọi là Tánh không. Không nên chẳng phải khác, do đó muôn pháp đều Như. V́ thế kinh nói: “Sắc tức là không, bốn ấm kia cũng vậy.” Như vậy, đâu riêng ǵ loài phàm tục có duyên sanh, mà hàng Tam thừa Thánh quả cũng từ duyên có. Thế nên kinh nói: “Phật chủng từ duyên khởi.” Do đó muôn cơ tụ hợp, người đạt th́ không đâu chẳng phải đạo tràng; sắc tượng vô biên, người ngộ rồi th́ không có ǵ chẳng phải Bát-nhă. Cho nên kinh nói: “V́ sắc vô biên nên biết Bát-nhă cũng vô biên.” V́ sao? V́ cảnh chẳng phải trí th́ chẳng biết, trí chẳng phải cảnh th́ chẳng sanh. Trí sanh th́ biết cảnh mà sanh, biết cảnh th́ trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết, biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh, sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh th́ nội trí lặng lặng. Biết không có cái bị biết th́ ngoại cảnh như như. Như và lặng không sai khác th́ cảnh và trí hợp nhất, muôn lụy đều hết, diệu chỉ hăy c̣n. Cho nên kinh nói: “Bát-nhă không biết mà không cái ǵ chẳng biết.” Như vậy diệu chỉ chẳng phải biết, không biết mà biết vậy.


 

CHƯƠNG VI

BÀI TỤNG VỀ ƯU-TẤT-XOA (Thiền)

Phàm định loạn đôi đường nhưng nguồn động tịnh không hai, ngu tuệ trái nẻo mà gốc sáng tối chẳng khác. Bọn mê theo tối phản sáng, bỏ tịnh cầu động. Người ngộ phản động theo tịnh, bỏ tối cầu sáng. Sáng sanh th́ chuyển ngu thành tuệ, tịnh lập th́ dứt loạn thành định. Định lập là do phản động, tuệ sanh là do bỏ tối. Tối và động liên hệ trong lồng phiền năo, tịnh và sáng hướng về nơi vật biểu lộ. Vật không thể làm ngu là do công của tuệ, phiền năo không thể làm loạn là do công của định. Định tuệ lại giúp cho sự lặng yên sáng suốt, ngu loạn buộc nhau ở chốn tối tăm, diêu động. Động mà hay tịnh tức là loạn mà định; tối mà hay sáng tức là ngu mà tuệ vậy. Như thế, gốc của tối và động không khác, sáng và tịnh do đây hợp đạo. Nguồn của ngu và loạn chẳng khác, định và tuệ do đó đồng tông. Tông đồng th́ vô duyên từ, định tuệ th́ tịch mà thường chiếu. Tịch mà thường chiếu th́ song dữ (cả hai đều cho), vô duyên từ th́ song đoạt (cả hai đều cướp). Song đoạt th́ Ưu-tất-xoa (thiền), song dữ th́ Tỳ-bà (quán) và Xa-ma (chỉ). V́ Xa-ma-tha (chỉ) tuy tịch mà thường chiếu, v́ Tỳ-bà-xá-na (quán) tuy chiếu mà thường tịch, v́ Ưu-tất-xoa (thiền) chẳng phải chiếu chẳng phải tịch. V́ chiếu mà thường tịch nên nói tục mà tức chân, v́ tịch mà thường chiếu nên nói chân mà tức tục, chẳng phải tịch chẳng phải chiếu nên ngậm miệng ở Tỳ-da([15]).

Lại nữa c̣n có mười môn quán tâm:

1-      Nói về pháp nhĩ

2-      Nêu ra quán thể

3-      Nói về sự tương ưng

4-      Cảnh tỉnh sự thượng mạn

5-      Răn sự biếng lười, xao lăng

6-      Nêu lại quán thể

7-      Nói về thị phi

8-      Chọn lựa thuyên chỉ

9-      Chạm cảnh thành quán

10-  Khéo hợp với nguồn huyền

1- Nói về pháp nhĩ: Luận về tâm tánh th́ rỗng rang thông suốt, nguồn động tịnh không hai, chân như tuyệt lự cùng niệm duyên chấp trước cũng chẳng khác. Hoặc kiến lăng xăng, cùng tột chỉ là nhất tịch. Nguồn linh không h́nh soi vào th́ có thiên sai (ngàn thứ sai khác). Thiên sai chẳng đồng nên tự lập ra cái tên Pháp nhăn. Nhất tịch không khác nên cái hiệu tuệ nhăn vẫn c̣n. Cả hai lư và lượng đều tiêu th́ công năng Phật nhăn tṛn đủ. V́ vậy Tam đế nhất cảnh nên lư Pháp thân hằng thanh tịnh. Tam trí nhất tâm nên ánh Bát-nhă thường soi chiếu. Cảnh trí thầm hợp nên giải thoát tùy cơ, chẳng phải dọc chẳng phải ngang mà đạo tṛn đủ như chữ y (...) gặp gỡ nhau một cách nhiệm mầu. Cho nên biết diệu tánh của tam đức([16]) rơ ràng không trái, nhất tâm sâu rộng khó lường đâu có cái ǵ chẳng phải là đường giải thoát. Do đó, tức tâm là đạo, có thể nói là lần theo ḍng mà đến được nguồn vậy.

2- Nêu ra quán thể: Chỉ cần biết nhất tâm tức không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không.

3- Nói về sự tương ưng: Tâm cùng với không tương ưng th́ khen chê đâu có mừng lo. Thân cùng với không tương ưng th́ dao cắt hay hương xoa cũng đâu có khổ sướng. Y báo cùng với không tương ưng th́ thí cho hay cướp đoạt cũng đâu có được mất.

Tâm cùng không mà chẳng không tương ưng th́ ái kiến đều quên, từ bi cứu khắp tất cả. Thân cùng không mà chẳng không tương ưng th́ bên trong đồng với cây khô, bên ngoài hiện đủ oai nghi. Y báo cùng không mà chẳng không tương ưng th́ vĩnh viễn dứt sự tham cầu mà đem tiền của giúp người.

Tâm cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ thật tướng mới tỏ, mở tri kiến Phật. Thân cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ một trần nhập chánh thọ, các trần tam-muội khởi. Y báo cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ hóa sanh đài hương, lầu báu, cơi nước trang nghiêm.

4- Cảnh tỉnh sự thượng mạn: Nếu chưa được như trên th́ chưa tương ưng.

5- Răn sự biếng lười xao lăng: Như qua biển cần phải lên thuyền  không nhờ thuyền th́ làm sao qua được. Tu tâm cần phải nhập quán, chẳng có quán th́ lấy ǵ để minh tâm. Tâm c̣n chưa minh th́ ngày nào tương ưng. Hăy nên suy xét kỹ, chớ nên tự thị.

6- Nêu lại quán thể: Chỉ biết nhất niệm tức không bất không, phi hữu phi vô, chẳng biết tức niệm, tức không bất không, phi-phi-hữu phi-phi-vô.

7- Nói về thị phi: Tâm chẳng phải hữu, tâm chẳng phải vô, tâm chẳng phải phi hữu, tâm chẳng phải phi vô. Là hữu là vô tức là sa vào thị; phi hữu phi vô tức là rơi vào phi. Như vậy, chỉ là cái phi (sai) của thị và phi, chưa phải là cái thị (phải) của phi thị và phi phi. Nay dùng hai cái phi để phá hai cái thị, thị phá phi thị vẫn c̣n là phi. Lại dùng hai cái phi để phá hai cái phi, phi phá phi phi tức là thị. Như vậy, chỉ là cái thị của phi thị và phi phi, chưa phải là bất phi bất bất phi, bất thị bất bất thị. Cái lầm về thị phi nhỏ nhiệm rất khó thấy, phải để tinh thần sáng suốt, tư lự lặng yên hầu nghiên cứu kỹ lưỡng.

8- Chọn lựa thuyên chỉ([17]): Nhưng mà chí lư th́ không lời, mượn văn ngôn để nói về ư chỉ của lư. Ư chỉ và tông thú chẳng phải là quán, nhờ tu quán để hội được tông thú. Nếu ư chỉ chưa minh th́ lời chưa đúng; nếu tông thú chưa hội th́ quán chưa sâu. Quán sâu mới hội được tông thú, lời đúng mới rơ được ư chỉ. Ư chỉ và tông thú đă hiểu rơ rồi th́ lời nói và quán đâu c̣n tồn tại nữa.

9- Chạm cảnh thành quán: Phàm diễn lại ngôn từ, nêu lại quán thể là muốn nói về tông thú và ư chỉ không khác. Lời nói và quán tùy nơi mà dời đổi. Đổi lời th́ ngôn và lư không sai, đổi quán th́ quán và ư chỉ không khác. Ư chỉ không khác tức là lư, lư không sai tức là tông. Tông thú và ư chỉ là một nhưng hai tên, mà lời nói và quán là phương tiện dẫn dắt.

10- Khéo hợp với nguồn huyền: Phàm người ngộ tâm đâu chấp quán mà mê ư chỉ, người đạt giáo há trệ lời mà lầm lư. Lư tỏ th́ đường ngôn ngữ dứt, lời nào có thể nói bàn. Ư chỉ hội th́ chỗ tâm hành diệt, quán nào có thể nghĩ ngợi. Tâm ngôn chẳng thể nghĩ bàn, thật đáng là “diệu khế hoàn trung” vậy.


 

CHƯƠNG VII

CẤP BẬC LẦN LƯỢT CỦA BA THỪA

Phàm đại đạo mầu nhiệm th́ vi tế sâu xa, lư bặt sự biểu hiện của danh tướng. Chí chân rỗng rang vắng lặng, lượng vượt ra ngoài các số, mà có thể khởi ḷng từ vô duyên tùy cơ cảm ứng. Chỉ thú bất nhị tùy theo căn tánh để phân chia. Thuận vật quên ḿnh nên làm mà không làm, suốt ngày dạy bảo mà chẳng khác ǵ không nói, lập giáo nhiều đường mà chẳng trái một đạo. V́ vậy, Đại Thánh từ bi ứng cơ lợi vật, gom về chỗ sâu kín th́ muôn kinh chẳng khác. Hàng trung hạ quán Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà tự thành Tiểu, bậc cao thượng tu Lục độ mà thành Đại.

Do đó, hạng ngu mê không thể tự hiểu, hoặc nhân nghe nói mà ngộ giải nên hiệu là Thanh văn, nguyên v́ chỗ tu lấy Tứ đế làm bản hạnh. Quán vô thường mà sanh sợ, nghĩ không tịch để cầu an, sợ luân hồi trong lục đạo, ghét sanh tử của tam giới. Thấy khổ thường ôm ḷng chán ĺa, dứt tập hằng sợ nó sanh, chứng diệt riêng khế hợp với vô vi, tu đạo chỉ luận đến tự độ. Tâm đại thệ chưa khắp, đạo nhiếp hóa không thực hành. Lục ḥa kính([18]) rỗng không, ḷng thương ba cơi chẳng vận dụng, nhân trái vạn hạnh, quả thiếu viên thường, lục độ chưa tu, chẳng phải Tiểu thừa th́ là ǵ? Đó là đạo Thanh văn vậy.

Hoặc có người chẳng nhân người khác nói mà tự ngộ vô thường, ngẫu nhiên duyên tán mà thể hội được chân lư nên gọi đó là Duyên giác. Nguyên chỗ tu tập của các ngài lấy Thập nhị nhân duyên làm bản hạnh. Quán vô minh tức mà không, đạt các hành mà vô tác. Hai nhân([19]) đă chẳng phải nghiệp th́ năm quả([20]) đâu c̣n báo. Ái thủ hữu không c̣n tỳ vết th́ lăo tử cũng đâu c̣n ràng buộc, nên có thể tức th́ một ḿnh giải thoát. Ở yên chỗ vắng vẻ yên lặng quán vạn vật biến hóa mà ngộ lư vô thường, thấy thu tàn mà vào chân đạo. Bốn oai nghi nghiêm nghị, nhiếp tâm lự để an vui, tánh thích ở một ḿnh, ưa nghỉ ngơi nơi rừng vắng. Chẳng ưa thuyết pháp, chỉ hiện sức thần thông để hóa độ người. Vào lúc không có Phật xuất thế, các ngài làm ngọn lửa tiếp nối Phật đăng. Thân chỉ ưa vắng lặng, ư thích trong sạch rỗng rang, ở một ḿnh trên đỉnh núi hoang liêu quán các duyên tan mất. Chẳng làm lợi ích khắp cho mọi người, tự lợi cũng chưa viên măn. Đối với bậc hạ th́ có phần hơn, c̣n so với bậc thượng th́ chưa đủ, cả hai đều chẳng phải phẩm loại của các ngài, mà địa vị ở Trung thừa, đấy là đạo Bích-chi Phật vậy.

Như người căn tánh vốn sáng, công đức chứa nhóm nhiều đời, học chẳng bác thiệp mà vẫn tự sanh được sự hiểu biết. Tâm không duyên bất cứ chỗ nào mà hay lợi vật; từ bi rất lớn, chẳng bị ái kiến câu thúc, suốt ngày cứu độ chúng sanh chẳng thấy có chúng sanh được độ. Nhất và dị đều đồng diệu chỉ, giải và hoặc đồng nguyên, nhân và pháp đều không, cho nên gọi là Bồ-tát. Nguyên v́ hạnh tu của các ngài lấy Lục độ làm chánh nhân. Thực hành bố thí th́ bỏ thân hết của; tŕ giới th́ kiết-la (giới nhỏ) cũng không phạm; nhẫn nhục th́ thấu rơ vô ngă, cắt thân nào hại ǵ, an nhẫn sự khen chê bát phong chẳng động; tinh tấn th́ siêng năng cầu pháp chí đạo như cứu lửa cháy đầu, sự tu hành và giáo hóa người trong khoảng sát-na cũng không gián đoạn; thiền-na th́ thân tâm yên lặng, an ban([21]) vi tế, ở trong tịch định để tự nuôi thân, dùng bốn oai nghi để lợi vật; trí tuệ th́ rơ biết duyên khởi tự tánh vô sanh, muôn pháp đều Như, nguồn tâm vắng lặng. Tuy biết phiền năo không thể xả bỏ, Bồ-đề không thể nắm lấy mà có thể chẳng chứng vô vi, độ chúng sanh trong nhiều kiếp, rộng tu vạn hạnh, b́nh đẳng quan sát các loài, dưới đến Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, trên gồm cả pháp bất cộng. Tâm đại thệ trùm khắp, đạo tứ nhiếp gồm thâu, lấy ba cơi làm nhà, bốn loài sanh làm con. Vận dụng hai thứ bi trí, hai thứ phước tuệ trang nghiêm siêu việt Nhị thừa, riêng ở bậc thượng, đó là đạo Đại thừa vậy.

V́ vậy, lư nhất chân theo căn tánh mà có thứ bậc sai khác, như được sự lợi ích tùy cơ nên nói đủ cả ba thừa. Nhưng mà chí lư hư huyền cùng tận đến chỗ vi diệu th́ một c̣n chẳng có, huống là nói đến ba. Ba mà chẳng ba nên nói là ba, một mà chẳng một nên nói là một. Chẳng phải ba mà một, ba c̣n chẳng ba th́ một mà ba, một cũng đâu có một. Một chẳng một tự chẳng phải ba, ba chẳng ba tự chẳng phải một. Chẳng phải một, một chẳng phải th́ ba không c̣n. Chẳng phải ba, ba chẳng phải th́ một chẳng lập. Một chẳng lập vốn chẳng phải ba, ba không c̣n vốn không có một. Một ba vốn không, cái không này cũng không, cái không không đó không có gốc nên diệu tuyệt. Như vậy th́ một đâu bị phân, ba đâu được hợp, hợp phân là từ nơi người vậy, lư nào có khác với lời ư! Ví như có ba con thú qua sông, con sông vốn một, đâu có v́ ba con thú mà hợp. Lại đâu riêng ǵ con sông chẳng phải v́ thú mà hợp, mà thú cũng chẳng phải do sông mà phân. Sông c̣n chẳng thành ba con sông, đâu được lấy sông để hợp ba con thú. Thú c̣n chẳng thành một con thú, há được lấy thú mà thành sông. Sông chẳng phải thú nên đâu thể ba, thú chẳng phải sông nên đâu thể một. Chỉ một con sông bao cả ba con thú mà sông chưa từng ba, ba con thú qua một con sông mà thú chưa từng một. Thú chẳng phải một con để biết chân của chúng có ngắn dài, sông chẳng phải ba để rơ nước kia không có sâu cạn. Nước không có sâu cạn ví như pháp không có sai khác, chân có dài ngắn là dụ cho trí của mỗi bậc có sáng tối khác nhau. Như vậy pháp vốn không có ba mà người tự có ba hạng vậy.

Nay đây điểm khởi đầu của ba thừa th́ Tứ đế được nêu lên trước hết. Pháp vốn đă không có sai khác, th́ Tứ đế cũng đâu chẳng phải đại, mà nói rằng hàng Thanh văn quán nó địa vị lại ở bậc tiểu. Thế mới biết Tứ đế tợ như sông, người ví như  thú. Hàng Thanh văn kém nhất dụ như thỏ tuy lội qua sông mà chân không đến đáy, nên chưa có thể biết được chỗ sâu tột, địa vị các ngài c̣n ở bậc thấp, đâu phải tất cả những người quán Tứ đế đều thành tiểu. Như người trí chiếu cao minh, lượng bằng voi lớn th́ có thể đến cùng nguồn tận mé, hiển nhiên thành đại, cho nên biết kẻ hạ trí quán th́ được quả Thanh văn, người trung trí quán th́ được quả Duyên giác, bậc thượng trí quán th́ được quả Bồ-tát. Biết tông rơ ràng há cho toan tính ư!

V́ thế Thanh văn thấy khổ mà dứt tập, Duyên giác ngộ tập tan ră mà quán ly, Bồ-tát thấu rơ nguồn chân biết tập vốn không ḥa hợp. Ba người cùng quán Tứ đế nhưng chứng quả có khác nhau, bởi do quán có cạn sâu, đối chiếu hẳn có cao thấp. V́ vậy, hạ thừa tu bậc hạ, chưa tu điều của bậc trung và thượng, Thượng thừa tu bậc thượng mà gồm tu cả trung hạ. Bậc trung tu trung hạ, chẳng tu được bậc thượng. Thượng trung hạ do người, chẳng phải Tứ đế khiến người có đại, tiểu. Nhưng ba thừa dù khác mà cùng đồng một điểm trọng yếu là thoát khổ. Thanh văn tuy tiểu, hoặc ái kiến đă trừ nên đối với ba cơi không c̣n lo âu, thân phần đoạn diệt vậy. Ba minh([22]) chiếu sáng tỏ tường nên việc trong tám vạn kiếp hiện tiền, sáu thông([23]