SANH  TỬ

 

Home
Thiền là ǵ ?
kiến tánh
Thiền đốn ngộ
thiền tông Việt nam
Lục tổ Huệ Năng
Thiền Pháp
t.s Thần Hội
Thích Duy Lực
Thiền mỗi ngày
trungluan-00.htm
Phật giáo nguyên thủy
Phật Di Đà
slide show
dừng lại nóng giận
Bát nhă tâm kinh
Tâm kinh

 

 

THIỀN ĐỐN NGỘ

(Tái bản lần thứ hai, có sửa chữa)

DL 1999 - PL 2543


 

LỜI NÓI ĐẦU

Trước đây chúng tôi đă cho ra tập Thiền Căn Bản, do các Thiền sư y trong kinh rút ra phương pháp tu thiền theo thứ lớp từ thấp lên cao. Đến tập này để tên là Thiền Đốn Ngộ, căn cứ vào các tác phẩm của các Thiền sư nằm trong hệ thống Thiền tông do Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền xuống. Tập sách này do góp năm tác phẩm nhỏ chung lại.

Tác phẩm đầu là Thiền Tông Vĩnh Gia Tập của Thiền sư Huyền Giác, đệ tử Lục tổ Huệ Năng. Ngài thông suốt Tam tạng giáo điển, lại rành rẽ về phương pháp tu Chỉ Quán của tông Thiên Thai. Do đó, trong tác phẩm này Ngài giải thích cách tu Chỉ Quán và Thiền rất tinh vi, độc giả có thể nhân đó vào cửa đốn ngộ. Thích Định Huệ, một Thiền sinh tại Thiền viện Chân Không phiên dịch, chúng tôi xem lại và cho đứng vào phần đầu của tập sách.

Tác phẩm thứ hai là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn của Thiền sư Tuệ Hải, đệ tử Mă Tổ Đạo Nhất, cháu đời thứ ba của Lục tổ Huệ Năng. Chúng tôi phiên dịch và đă xuất bản vào năm 1971, nhưng hiện đă hết, nay cho in vào đây cũng là một cách tái bản cho độc giả tiện việc nghiên cứu.

Tác phẩm thứ ba là Truyền Gia Bảo Thiền Tông Trực Chỉ của Thạch Thành Kim hiệu Thiên Cơ đời Minh, Ngài là môn đệ ḍng thiền Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch, chưa xuất bản.

Tác phẩm thứ tư là Tọa Thiền Dụng Tâm Kư của Thiền sư Thiệu Cẩn hiệu Oánh Sơn ḍng Tào Động ở Nhật Bản. Chúng tôi phiên dịch và đă cho in chung trong quyển Tham Thiền Yếu Chỉ xuất bản vào năm 1962, hiện đă hết.

Tác phẩm thứ năm là Tham Thiền Yếu Chỉ của Ḥa thượng Hư Vân, một Thiền sư Trung Hoa gần chúng ta nhất. Trong tác phẩm này, Ngài dạy nghiêng về thoại đầu theo lối tu sau này của ḍng Lâm Tế. Chúng tôi phiên dịch và đă cho xuất bản năm 1962, hiện đă hết. Để góp lại làm một tài liệu chung cho phương pháp tu đốn ngộ, chúng tôi cho in chung trong tập này.

Năm tác phẩm trên mới chỉ là một phần rất nhỏ trong các tác phẩm của Thiền tông. Nếu phiên dịch hết các tác phẩm về Thiền đốn ngộ có thể đến cả trăm quyển thế này. V́ phương tiện có hạn, chúng tôi cố gắng làm được bao nhiêu th́ mừng bấy nhiêu. Điều cần yếu là độc giả khéo nghiền ngẫm để lănh hội. Một câu mà lănh hội được th́ tất cả đều thông. Nếu đọc cả trăm quyển mà không lănh hội được vẫn là người đứng ngoài cửa. Một thông tất cả đều thông th́ c̣n nói ǵ nhiều ǵ ít? Thế nên quí ở chỗ lănh hội, chớ không quí ở chỗ đọc nhiều. Tuy thế, người không lănh hội được, mà đọc nhiều sách Thiền hoặc đọc nhiều lần, lâu ngày cơ duyên thuần thục tự nhiên lănh hội.

Về phần lượng, quyển sách này chưa thấm vào đâu; song phần phẩm, nó thật đáng kể. Nếu là độc giả nghiền nát được văn tự, có thể con đường đốn ngộ không xa. Nếu là hành giả th́ nương vào đây làm kim chỉ nam tiến bước, Bảo sở không mong cũng sẽ đến.

THÍCH THANH TỪ

TU VIỆN CHÂN KHÔNG

Mùa An cư 1974


 

THIỀN SƯ HUYỀN GIÁC

THIỀN TÔNG

VĨNH GIA TẬP


 

TỰA

Nghe rằng: Tuệ môn rộng mở lư bặt mối manh sắc tướng, nẻo giác xa xăm một phen lên rồi th́ chôn lấp danh ngôn biểu hiện.

Buồn thay! Đấng Năng Nhân thị hiện ứng hóa khắp nơi, mở diệu điển nơi ba thừa, suốt chân thuyên trong tám bộ. Sở dĩ phát huy đến chỗ sâu xa treo cao trí tuệ soi sáng nẻo tối tăm, xiển dương đại đạo, cỡi sóng Thiền trên sóng dục. V́ vậy, kim quan trùm ánh sáng, ngọc hào thâu vẻ đẹp, một ḿnh nêu cao tinh anh Linh Thứu, riêng mang nghiệp thành lân([1]) chỉ có Đại sư vậy!

Đại sư họ Đới, người ở Vĩnh Gia. Thuở nhỏ, Ngài chuyên tâm nơi Tam tạng, lớn lên lăo thông pháp Đại thừa, ba nghiệp siêng năng riêng hoằng dương Thiền quán. Cảnh trí đều tịch, định tuệ song dung khiến cho bụi lặng nơi nẻo tối tăm, sóng dừng nơi biển diệu. Tâm trong như ngọc, đạo chủng sáng ngời thất tịnh([2]) chói nhau. Giới sạch như trăng, hoa từ tỏ rạng tam không([3]) tŕnh chiếu. Lại thêm, chí thanh khiết như tùng điểm sương, tâm rỗng không như trăng đáy nước. Áo vải cơm rau quên thân v́ đạo, xót thương hàm thức muốn chúng sanh đều được an vui. Quán niệm nối nhau tâm không gián đoạn, trước sau ǵn giữ tiết tháo rắn chắc như đá vàng. Tâm yếu cạn sâu một lư dung thông như kết hoa không thẹn. Thần trí thấu triệt ngôn biểu, lư mầu khế hợp hoàn trung. Khiêm hạ ḿnh, đề cao người. Thuận phàm đồng Thánh chẳng khởi diệt định mà giữ bốn oai nghi. Danh trọng đương thời, hóa đạo cùng khắp. Người thạc học khắp Tam Ngô([4]) đông đúc đến học Thiền, bậc cao nhân ngoài tám hướng vào nhà lư mau như gió thổi.

Ngụy Tĩnh tôi hầu hạ dưới chân Ngài, chỉ hận chưa hết tấm ḷng bỗng phải giă từ trở lại kinh kỳ. Từ đó đến nay u minh xa cách, vĩnh viễn thương tiếc, con mắt diệu huyền vừa gặp lương y chợt mất kim bài; biển dục sóng to mà vị Thầy dẫn đường đă mất. Tác phẩm c̣n đây mà am thất đă quạnh hiu.

Chao ôi! Đau đớn buốt cả tâm can. Một vị Thầy sáng suốt đă mất, bảy chúng biết nương tựa vào đâu. Lời vàng ngọc của bậc cao đức không c̣n được nghe, xa cách càng thêm thê lương sầu thảm.

Lúc Đại sư c̣n tại thế, những lời dạy được ghi lại gồm có mười thiên, góp lại thành một quyển. Ước mong người học được ư quên lời để khế hợp với đạo của Ngài vậy.

Nay sơ lược ghi lại vài lời, nếu có điều chi lầm lạc xin bậc minh triết sửa lại giùm cho.

Nhà Đường, Thứ sử Khánh Châu

NGỤY TĨNH


 

TIỂU DẪN

Quyển này nhan đề Thiền Tông Vĩnh Gia Tập, c̣n được gọi là Vĩnh Gia Tập, do Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, đệ tử nối pháp của Lục tổ Huệ Năng, trước tác. Nội dung toàn tập được chia làm mười chương:

1.      Nghi thức lập chí mộ đạo

2.      Răn ư kiêu sa

3.      Tịnh tu ba nghiệp

4.      Bài tụng về Xa-ma-tha

5.      Bài tụng về Tỳ-bà-xá-na

6.      Bài tụng về Ưu-tất-xoa

7.      Cấp bậc lần lượt của ba thừa

8.      Sự lư không hai

9.      Thư khuyên bạn hữu

10.  Văn phát nguyện

Trong đây, ba chương đầu là phần tự, năm chương kế là phần chánh tông, hai chương cuối là phần lưu thông. Tập này tŕnh bày về dụng ư Thiền định, lịch tŕnh tu tâm, c̣n nhắc nhở người tu thiền phải cẩn thận giữ ǵn ba nghiệp thân miệng ư cho thanh tịnh.

Tác giả húy là Huyền Giác (665-713), họ Đới, người đời Đường ở đất Vĩnh Gia (nay là huyện Vĩnh Gia, tỉnh Triết Giang). Ngài xuất gia từ tấm bé, tinh thông Tam tạng, sở trường về môn Chỉ Quán Thiên Thai. Về sau, nhân được Thiền sư Tá Khê Huyền Lăng khích lệ, Ngài cùng với Thiền sư Đông Dương Huyền Sách đến tham bái Lục tổ Huệ Năng, chỉ một đêm Ngài được ấn khả nên người đời gọi là “Nhất túc giác” (một đêm giác ngộ). Sáng hôm sau Ngài xuống núi trở về Ôn Giang tuyên dương ư Tổ, kẻ đến học rất đông đảo, tông phong hưng thạnh, hiệu là Chân Giác đại sư. Ngày 17 tháng 10 năm thứ sáu niên hiệu Tiên Thiên (713 TL), đời vua Đường Huyền Tôn, Ngài an tọa thị tịch. Ngày 13 tháng 11 an táng tại hướng nam Tây Sơn, tháp hiệu Tịnh Quang, thụy phong Vô Tướng đại sư, người đời thường gọi Ngài là Vĩnh Gia đại sư. Ngài trước tác tập này cùng một thiên Chứng Đạo Ca đều được lưu truyền trong đời.


 

THIỀN TÔNG VĨNH GIA TẬP

Tập này được chia làm mười chương:

1- Nghi thức lập chí mộ đạo: Phàm muốn tu đạo trước tiên phải lập chí và học nghi tắc hầu Thầy. Do đó chương đầu tiên nói về nghi thức mộ đạo.

2- Răn ư kiêu sa: Ban đầu dù đă lập chí tu đạo khéo biết qui nghi. Nếu ba nghiệp kiêu sa th́ vọng tâm khuấy động làm sao được định. Do đó chương thứ hai nói về răn ư kiêu sa.

3- Tịnh tu ba nghiệp: Trước đă lược nêu cương yếu về việc ngăn cấm kiêu sa. Nay kiểm điểm kỹ lưỡng lại khiến cho lỗi chẳng sanh. Do đó chương thứ ba nói về tịnh tu ba nghiệp.

4- Bài tụng về Xa-ma-tha (Chỉ): Trước đă kiểm trách thân và miệng khiến lỗi thô không sanh. Kế đến phải vào cửa tu đạo, theo thứ tự th́ chẳng ra ngoài định tuệ, năm loại móng tâm, sáu khoa liệu giản. Do đó chương thứ tư là bài tụng về Xa-ma-tha.

5- Bài tụng về Tỳ-bà-xá-na (Quán): Chẳng phải giới th́ không thiền, chẳng phải thiền th́ không tuệ. Trên đă tu định, định lâu th́ tuệ sáng. Do đó chương thứ năm là bài tụng về Tỳ-bà-xá-na.

6- Bài tụng về Ưu-tất-xoa (Xả): Tu riêng môn định, định lâu bị ch́m; học riêng môn tuệ, tuệ nhiều tâm động. Do đó chương thứ sáu là bài tụng về Ưu-tất-xoa, định tuệ cân bằng khiến không ch́m không động, định tuệ quân b́nh buông xả nhị biên([5]).

7- Cấp bậc lần lượt của ba thừa: Định tuệ đă quân b́nh th́ tịch mà thường chiếu, tam quán nhất tâm th́ nghi nào chẳng trừ, trí chiếu nào không viên măn. Tự ḿnh dù đă hiểu rơ ràng nhưng thương người chưa ngộ, ngộ có cạn sâu. Do đó chương thứ bảy nói về cấp bậc lần lượt của ba thừa.

8- Sự lư không hai: Ba thừa ngộ lư, không lư nào chẳng cùng. Tột lư ở nơi sự, rơ sự tức lư. Do đó chương thứ tám nói sự lư không hai, tức sự là chân dùng để trừ kiến chấp điên đảo.

9- Thư khuyên bạn hữu: Sự lư đă dung, nội tâm tự sáng, lại thương người học đạo đời sau luống uổng tấc bóng. Do đó chương thứ chín là thư khuyên bạn hữu.

10- Văn phát nguyện: Khuyên bạn tuy là thương người nhưng c̣n để ư chú trọng đến một người, tâm chưa cùng khắp. Do đó chương thứ mười nói về văn phát nguyện thệ độ tất cả vậy.


 

CHƯƠNG I

NGHI THỨC LẬP CHÍ MỘ ĐẠO

Trước tiên phải quán ba cơi để sanh tâm nhàm ĺa. Kế gần bạn lành cầu đường giải thoát. Đối với Sư trưởng, sớm thăm tối viếng luôn ǵn lễ độ. Xét kỹ trái thuận thế nào để biết hầu hạ dưỡng nuôi. Hỏi điều phải làm để biết phụng sự. Chiêm ngưỡng không lười v́ sanh ḷng ân cần kính trọng. Luôn luôn lấy sự quyết liễu tâm yếu làm việc chánh tu. Theo sự hiểu biết tŕnh bày để rơ tà chánh. Nghiệm theo khí lực để biết sống chín. Thấy bệnh sanh nghi phải dùng thuốc hay điều trị. Suy nghĩ tột cùng v́ cầu chân lư. Ngày đêm chuyên cần, sợ duyên sai sử. Chuyên tâm một hạnh để thành đạo nghiệp. V́ pháp quên thân là do ḷng biết ơn. Như ḷng tin của ḿnh c̣n yếu kém, ư chí không chuyên, hạnh thô hiểu cạn, phóng túng theo cơ, chạm việc th́ nhân việc sanh tâm, duyên không th́ y theo không mà dứt niệm. Đă chẳng phải b́nh đẳng quán về động tịnh th́ thuận theo sự đắc thất của có không. Nhưng đạo không có cấp bậc, tùy theo công phu mà có vị thứ.


 

CHƯƠNG II

RĂN Ư KIÊU SA

Cơm áo có ra là do trồng lúa nuôi tằm. Khẩn đất đào mương, luộc nấu ngài tằm, nấu chín làm ra tổn thương sanh mạng, chúng phải chịu chết để giúp thân ta. Chỉ sợ đói lạnh, chẳng biết chết là khổ, nỡ giết hại loài khác để cung cấp cho ḿnh. Ôi, đau đớn thay! Công người nông phu tích chứa sức lực sâu dày, đâu riêng ǵ loài hàm thức thiệt mạng, cũng c̣n là của tín thí khó tiêu. Tuy đă xuất gia nào có đức ǵ? Chỉ muốn thọ nhận của tín thí để nuôi thân, đâu biết xét suy đức ḿnh so với công ấy. Luận Tỳ-ni nói: “Thọ nhận của tín thí dùng không đúng pháp, buông lung tâm ư, bỏ phế sự tu đạo nghiệp, sẽ bị đọa vào tam đồ thọ sự khổ nặng.”

Phàm muốn vượt ra ba cơi mà chưa có hạnh tuyệt trần, uổng làm thân nam tử không có chí trượng phu. Nhưng v́ suốt ngày chộn rộn, tối lại hôn mê, đạo đức chưa tu, cơm áo lăng phí. Trên th́ trái đại đạo, dưới th́ thiếu lợi sanh, giữa th́ phụ bốn ơn, thật đáng hổ thẹn! Do đó, người trí phải khá xét suy, thà có pháp mà chết c̣n hơn không pháp mà sống, đâu nên luống tự si mê quí thân khinh pháp.


 

CHƯƠNG III

TỊNH TU BA NGHIỆP

Tham, sân, tà kiến thuộc ư nghiệp. Nói hư dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác thuộc khẩu nghiệp. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục thuộc thân nghiệp.

Phàm người có chí muốn cầu đại đạo, trước tiên cần phải tu ba nghiệp cho thanh tịnh. Về sau, trong bốn oai nghi lần lượt vào đạo, nhẫn đến khi sáu căn đối trần tùy duyên liễu đạt, cả hai cảnh trí đều lặng thầm hợp với ư chỉ diệu huyền.

A.- Thế nào là tịnh tu thân nghiệp?

Tự xét sâu xa trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, kềm thúc ba tội không cho sơ thất. Từ bi nuôi nấng chẳng hại mạng sống, tất cả loài hàm thức trên không dưới nước, không kể lớn nhỏ đều thương yêu bảo bọc cho đến loài ḅ bay máy cựa cũng không làm tổn hại. Gặp kẻ nguy nan ân cần cứu tế, dùng phương tiện độ khiến cho giải thoát. Đối với tiền bạc của cải người khác không cho th́ không lấy, nhẫn đến vật của quỉ thần làm chủ, dù là cây kim ngọn cỏ vẫn không cố phạm. Gặp người ăn xin nghèo khó, tùy theo tiền của ḿnh có, dùng ḷng cung kính bố thí khiến cho họ được an ổn, c̣n ḿnh không cầu sự báo ơn. Suy nghĩ như vầy: Chư Phật quá khứ trải vô lượng kiếp, thực hành bố thí cho cả voi ngựa bảy báu, đầu mắt năo tủy nhẫn đến xả bỏ thân mạng, không chút nuối tiếc. Nay ta cũng vậy, tùy theo khả năng bố thí, hoan hỉ cúng dường, tâm không lẫn tiếc. Đối với nữ sắc tâm không nhiễm trước. Phàm phu điên đảo bị dục làm say, đam mê phóng túng, không biết lỗi lầm của sự dâm dục, như vin cành hoa không biết có ẩn rắn độc. Người trí xem dục như miệng rắn độc, móng vuốt gấu hùm, lửa bùng sắt nóng cũng chẳng dụ được. Cột đồng giường sắt cháy lưng chín ruột, máu thịt bầy nhầy, đau thấu tâm tủy. Quán sát như thế chỉ khổ không vui. Túi da đựng phẩn tích chứa máu mủ, bề ngoài giả dối giồi phấn thoa hương, bên trong một mùi hôi thúi, dơ bẩn chảy ra làm chỗ nương ở của ḍi nhặng, thúi tha đến lỗ cầu xí cũng không b́ kịp. Người trí xét đó, chỉ thấy lông tóc, móng răng, da mỏng da dày, máu thịt, mồ hôi nước mắt, nước dăi, nước miếng, mủ mỡ, gân mạch năo mô, đàm vàng đàm trắng, gan mật cốt tủy, phổi thận, lá lách, dạ dày, tim, mỡ nước, bàng quang, ruột già ruột non, sanh tạng thục tạng, các đường tiểu tiện. Những vật như thế đều không có Ngă, mà do gió thức cổ động hư vọng sanh ra, ngôn ngữ dối trá, nói làm người bạn thân, kỳ thật oán giận ghét ghen làm cho hư đức chướng đạo, đó là tội lỗi nặng nhất phải nên xa ĺa như tránh giặc oán. Bởi thế, người trí xem đó tưởng như rắn độc, thà gần rắn độc, chẳng gần nữ sắc. V́ sao? Rắn độc hại người chỉ chết một đời, nữ sắc trói buộc trăm ngàn muôn kiếp bị các độc hại khổ đau vô cùng, phải nên xét nghĩ chớ nên gần gũi.

V́ thế người trí cần phải kiểm điểm ba lỗi, chừa bỏ lỗi lầm, trái ác theo thiện: chẳng giết chẳng trộm, phóng sanh bố thí, không làm việc dâm dục bẩn thỉu, thường tu hạnh thanh tịnh. Ngày đêm chuyên cần hành đạo lễ bái, nương về Tam Bảo, chí cầu giải thoát, đối với thân mạng của cải phải tu ba pháp kiên cố. Biết thân hư huyễn không có Tự tánh, sắc tức là không cái ǵ là ngă? Tất cả các pháp chỉ có giả danh không có nhất định. Thân này của ta, bốn đại năm uẩn mỗi mỗi đều chẳng phải ngă, hợp lại cũng không, vô minh không rơ, chấp lầm là ngă. Sát sanh, trộm cắp, dâm dục phóng túng, suốt ngày lẫn đêm không ngừng tạo nghiệp. Dù không chân thật nhưng thiện ác báo ứng vẫn như bóng tùy h́nh. Lúc quán như thế, chẳng cầu sự bất chánh để nuôi thân mạng, phải tự quán thân tưởng như rắn độc, v́ để trị bệnh nên nhận bốn sự cúng dường([6]). Thân mặc y phục như che ghẻ lở. Miệng ăn thức ngon như bệnh uống thuốc. Tiết kiệm thân miệng không sanh sự xa hoa thái quá, nghe nói ít muốn rất thích tu hành. Cho nên kinh nói: “Bậc đầu-đà ít muốn khéo biết vừa biết đủ, người ấy có thể vào đạo Hiền Thánh.” V́ sao? Chúng sanh ở trong đường ác([7]) trải vô lượng kiếp thiếu thốn áo cơm, kêu la thảm thiết, đói lạnh khổ sở, xương da dính nhau. Nay ta tạm thiếu chút đỉnh chưa phải là khổ. Thế nên người trí quí pháp khinh thân, siêng năng cầu pháp chí đạo, đến thân mạng cũng chẳng đoái hoài, đây gọi là tịnh tu thân nghiệp.

B.- Thế nào là tịnh tu khẩu nghiệp?

Tự xét sâu xa bốn lỗi của miệng là căn bản sanh tử, tăng trưởng điều ác, che lấp muôn hạnh, gây chuyện thị phi. Thế nên, người trí muốn nhổ sạch gốc sanh tử, dứt trừ hư vọng, phải tu bốn như thật ngữ, đó là các lời ngay thẳng, dịu dàng, ḥa hợp và như thật. Bốn thật ngữ này là hạnh của người trí. V́ sao? Lời ngay thẳng hay trừ lời thêu dệt, lời dịu dàng hay trừ lời hung ác, lời ḥa hợp hay trừ lời hai lưỡi, lời như thật hay trừ lời hư dối.

Lời ngay thẳng có hai thứ: một là nói đúng pháp khiến cho người nghe tin hiểu rơ ràng, hai là nói đúng lư khiến cho người nghe trừ hết nghi lầm.

Lời dịu dàng cũng có hai: một là lời an ủi khiến cho người nghe vui vẻ gần gũi, hai là tiếng cung thương thanh nhă khiến cho người nghe yêu thích tu tập.

Lời ḥa hợp cũng có hai: một là sự ḥa hợp, nghĩa là thấy người đấu tranh, can gián khuyên nên xả bỏ, chẳng tự khen ḿnh, trái lại nhún nhường kính vật; hai là lư ḥa hợp, nghĩa là thấy người thối tâm Bồ-đề ân cần khuyên tấn, khéo léo phân biệt Bồ-đề phiền năo, b́nh đẳng nhất tướng. Nếu tâm hành giả lui sụt th́ dùng đức độ để vỗ về, siêng năng đến trước người ấy khéo nói về việc mê ngộ.

Lời đúng như thật cũng có hai thứ: một là sự thật, nghĩa là có th́ nói có, không th́ nói không, phải th́ nói phải, quấy th́ nói quấy; hai là lư thật, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Niết-bàn Như Lai thường trụ bất biến.

Thế nên người trí thực hành bốn thật ngữ ấy, quán sát chúng sanh nhiều kiếp đến nay v́ bốn lỗi này làm cho điên đảo trôi ch́m sanh tử khó được xuất ly. Nay ta muốn nhổ gốc rễ của nó, quan sát khẩu nghiệp kia do môi răng, tiếng vang của yết hầu cuống rốn, gió thức kích động phát ra tiếng nói. Do tâm làm nhân duyên sanh hai thứ hư thật khác nhau, thật th́ lợi ích, hư th́ tổn mất. Thật là khởi gốc lành, hư là sanh cội ác. Cội gốc thiện ác là do lời nói nơi cửa miệng, nói lời thiện là tứ chánh, nói lời ác là tứ tà. Tà th́ bị khổ, chánh th́ được vui. Thiện là duyên trợ đạo, ác là gốc hư đạo. Thế nên người chánh phải có tâm hộ tŕ việc chánh, dùng lời thật để lập thân, tụng kinh niệm Phật quán sát thật tướng của lời nói vốn không tồn tại, nói nín b́nh đẳng. Đấy gọi là tịnh tu khẩu nghiệp.

C.- Thế nào là tịnh tu ư nghiệp?

Do niệm tà làm nhân duyên hay sanh ra muôn điều ác. Nhờ chánh quán làm nhân duyên hay khởi lên vạn điều thiện. Cho nên kinh nói: “ba cơi không có pháp riêng, chỉ do nhất tâm tạo tác”, nên biết tâm là căn bản của vạn pháp vậy.

Thế nào là tà niệm? Vô minh chẳng rơ chấp lầm là ngă, ngă kiến kiên cố tham sân tà kiến chấp càn ngoại cảnh sanh ra các thứ đắm nhiễm. Nên kinh nói: “Nhân v́ có ngă bèn có ngă sở. Nhân v́ ngă sở khởi ra sáu mươi hai kiến chấp đoạn thường([8]), chín mươi tám sử kiến tư([9]) tương tục gây nên sanh tử luân hồi trong ba cơi chẳng thôi.” Phải biết tà niệm là gốc của các điều ác, thế nên người trí phải chế ngự mà không theo nó.

Thế nào là chánh quán? Ta người không khác, sắc tâm chẳng hai; Bồ-đề phiền năo bản tánh không khác, sanh tử Niết-bàn b́nh đẳng nhất chiếu. Do đó, kinh nói: “Ĺa ngă, ngă sở, quán pháp b́nh đẳng, ngă và Niết-bàn cả hai đều không.” Phải biết các pháp chỉ có danh tự. Cho nên kinh nói: “Cho đến Niết-bàn cũng chỉ có danh tự.” Lại nói: “Văn tự tánh ly, danh tự cũng không.” V́ sao? Pháp chẳng tự có tên, giả đặt tên để gọi pháp, pháp đă chẳng phải pháp, danh cũng chẳng phải danh, danh chẳng đúng với pháp, pháp chẳng đúng với danh, danh pháp không đúng, tất cả không tịch. Cho nên kinh nói: “Pháp không có danh tự v́ ngôn ngữ dứt.” Thế nên diệu tướng th́ bặt danh, chân danh th́ chẳng phải tự. V́ sao? Vô vi tịch diệt vi diệu tột cùng bặt tướng ĺa danh, đường tâm ngôn dứt. Phải biết đó là điểm quan yếu của sự về nguồn chánh quán. V́ thế người trí dùng chánh quán làm nhân duyên để muôn hoặc([10]) đều trừ, cảnh trí đều quên, nguồn tâm thanh tịnh. Đấy gọi là tịnh tu ư nghiệp.

Các điều kể trên đây, trong bốn oai nghi lúc sáu căn đối với trần cảnh phải tùy duyên liễu đạt để theo thứ lớp mà vào đạo vậy.


 

CHƯƠNG IV

BÀI TỤNG VỀ XA-MA-THA (Chỉ)

Khéo khéo lúc dụng tâm,
Khéo khéo không tâm dụng,
Không tâm khéo khéo dụng,
Thường dụng khéo khéo không.

Phàm niệm chẳng quên th́ trần chẳng dứt, trần chẳng dứt th́ niệm chẳng quên. Trần quên là do dứt niệm mà quên, niệm dứt là do quên trần mà dứt. Quên trần mà dứt nên dứt mà không có cái hay dứt (năng tức), dứt niệm mà quên nên quên mà không có cái bị quên (sở vong). Quên mà không có cái bị quên nên trần bị khiển trừ chẳng phải là đối tượng bị biết, dứt mà không có cái hay dứt nên niệm diệt chẳng phải là chủ thể hay biết. Cái biết diệt mất, cái đối tượng cũng bị khiển trừ th́ một bề vắng lặng. Diệu tánh thiên nhiên lặng yên không nương gá, như lửa đốt hư không th́ lửa tự tắt. Hư không dụ cho diệu tánh chẳng phải tướng, lửa tắt dụ cho vọng niệm chẳng sanh. Có lời rằng:

Quên duyên rồi th́ lặng lặng
Tánh linh tri hiện rơ ràng
Vô kư mê mờ tỏ rơ
Hợp chân vốn không rành rành.
Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô kư lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Nếu lấy cái biết dùng để biết lặng th́ đây chẳng phải là cái biết không duyên, như tay cầm cây như ư, chẳng phải là trên tay không có cây như ư. Nếu lấy cái tự biết để biết, cũng chẳng phải là cái biết không duyên, như bàn tay nắm lại chẳng phải là không có nắm tay. Cũng chẳng biết cái biết lặng, cũng chẳng tự biết cái biết th́ không thể nói là không biết, tự tánh hiển nhiên cho nên nói chẳng đồng gỗ đá, như tay chẳng cầm cây như ư, cũng chẳng nắm lại thành cái nắm tay, nhưng không thể nói là không có tay. V́ rơ ràng có tay nên chẳng đồng với sừng thỏ.

Lại nữa, thứ tự tu tâm là hễ dùng cái biết để biết vật th́ vật c̣n, cái biết cũng c̣n. Nếu dùng cái biết để biết cái biết, biết được cái biết th́ ĺa được vật, vật tuy ĺa được nhưng cái biết hăy c̣n. Khởi lên cái biết để biết cái biết, lúc cái biết sau sanh th́ cái biết trước đă diệt. Cả hai cái biết chẳng cùng một lượt, hễ lúc cái biết trước diệt th́ cái chỗ diệt ấy là cảnh của cái biết, nên năng sở đều chẳng phải chân. Cái biết trước diệt, cái diệt ấy dẫn theo cái biết sau, cái biết sau ấy lại tiếp tục diệt, sanh diệt nối nhau tự đó là nẻo luân hồi.

Nay nói biết đó, là chẳng cần biết cái biết, nhưng chỉ cần biết để biết mà thôi th́ cái biết trước chẳng tiếp tục diệt, cái biết sau chẳng dẫn khởi, trước sau đứt đoạn, khoảng giữa tự bị cô lập. Đương thể chẳng nhớ đến, đúng lúc liền tiêu diệt, biết thể đă diệt rồi th́ rỗng rang như nắm bắt hư không, phút chốc vắng lặng chỉ có cái giác vô sở đắc tức là không giác mà giác, giác mà không giác, khác hẳn gỗ đá. Đây là chỗ bắt đầu dụng tâm cần phải dứt bặt tư lự, chợt đồng như người chết, năng sở liền quên, mảy may đều sạch. Vắng lặng tợ không biết mà biết, tánh của cái không biết ấy khác với gỗ đá. Đây là chỗ người sơ tâm khó lănh hội được.

Người mới phát tâm chẳng nên có ba thứ:

1) Ác, nghĩa là nghĩ tưởng đến các nhân duyên như ngũ dục thế gian v.v…

2) Thiện, nghĩa là nghĩ tưởng đến các việc tạp thiện thế gian v.v…

3) Vô kư, nghĩa là chẳng nghĩ đến thiện ác, lại rơi vào hôn trầm.

Trong Giới cần phải đủ ba thứ:

1) Nhiếp luật nghi giới, nghĩa là dứt tất cả các điều ác.

2) Nhiếp thiện pháp giới, nghĩa là tu tất cả các điều thiện.

3) Nhiêu ích hữu t́nh giới, nghĩa là thệ độ tất cả chúng sanh.

Trong Định cần phải phân biệt ba thứ:

1) An trụ định, nghĩa là diệu tánh thiên nhiên vốn chẳng phải động.

2) Dẫn khởi định, nghĩa là lóng ḷng dứt vọng trí tuệ phát sáng.

3) Biện sự định, nghĩa là nước định lóng trong soi tỏ muôn tượng.

Trong Tuệ cũng cần phải phân biệt ba thứ:

1) Nhân không tuệ, nghĩa là rơ năm ấm chẳng phải ngă tức là trong mỗi ấm không có ngă như lông rùa sừng thỏ([11]).

2) Pháp không tuệ, nghĩa là rơ các pháp như ấm v.v… duyên giả chẳng phải thật, như bóng trong gương như trăng đáy nước.

3) Không không tuệ, nghĩa là rơ cảnh và trí đều không, cái không ấy cũng không.

Trong Kiến cần phải biết ba thứ:

1) Không kiến, nghĩa là thấy không mà cái thấy chẳng phải không.

2) Bất không kiến, nghĩa là thấy chẳng không mà cái thấy chẳng phải chẳng không.

3) Tánh không kiến, nghĩa là thấy Tự tánh mà cái thấy chẳng phải tánh.

Trong Thiên cần phải lựa ra ba thứ:

1) Có pháp thân, không có Bát-nhă và giải thoát.

2) Có Bát-nhă, không có giải thoát và pháp thân.

3) Có giải thoát, không có pháp thân và Bát-nhă.

Có một thiếu hai là chẳng viên, chẳng viên nên chẳng phải tánh.

Lại nữa trong Thiên cần phải lựa ra ba thứ:

1) Có pháp thân và Bát-nhă, không có giải thoát.

2) Có Bát-nhă và giải thoát, không có pháp thân.

3) Có giải thoát và pháp thân, không có Bát-nhă.

Có hai thiếu một là chẳng viên, chẳng viên nên chẳng phải tánh.

Trong Viên cần phải có đủ ba thứ:

1) Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă. Bát-nhă không chấp tức giải thoát. Giải thoát tịch diệt tức pháp thân.

2) Bát-nhă không chấp tức giải thoát. Giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă.

3) Giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Pháp thân chẳng si tức Bát-nhă. Bát-nhă không chấp tức giải thoát.

Nêu lên một, tức đủ cả ba; nói ba thể tức là một. Đây là ba đức trong nhân chẳng phải ba đức trên quả. Muốn biết ba đức trên quả: Pháp thân có đoạn đức, do v́ dứt hoặc để bày đức, nên gọi là đoạn đức. Tự thọ dụng thân có trí đức, v́ đầy đủ công đức chân thật của bốn trí([12]). Tha thọ dụng thân và hóa thân có đại ân đức v́ tha thọ dụng thân ban ân đức cho hàng Thập địa Bồ-tát, v́ ba thứ hóa thân đối với các hàng Bồ-tát, Nhị thừa và loài dị sanh có ân đức.

Ba đế([13]), bốn trí, ngoại trừ Thành sở tác trí duyên tục đế. Nhưng pháp không có cạn sâu mà chiếu th́ có sáng tối, tâm không phải nhơ sạch mà giải th́ có mê ngộ… Kẻ sơ tâm mê đâu chẳng phải cạn, cuối cùng khế ngộ viên lư mới biết đâu chẳng phải sâu. Mê th́ mất lư mà tự sai, ngộ th́ hết sai mà tức lư. Mê ngộ th́ đồng lư ấy cho nên mới có danh từ tiệm thứ.

Lại nữa người mới tu tâm sau khi nhập môn cần phải biết năm niệm:

1. Cố khởi

2. Quán tập

3. Tiếp tục

4. Biệt sanh

5. Tức tịnh

Niệm cố khởi, nghĩa là khởi tâm nghĩ đến ngũ dục thế gian và các việc tạp thiện.

Niệm quán tập, nghĩa là vô tâm cố nhớ, chợt nghĩ, nghĩ đến các việc thiện ác v.v…

Niệm tiếp tục, nghĩa là tập quán chợt khởi, biết tâm rong ruổi tán loạn mà chẳng chế ngự cho nó dừng lại, trái lại c̣n tiếp tục nghĩ tưởng theo niệm trước.

Niệm biệt sanh, nghĩa là biết niệm trước là tán loạn liền sanh tâm hổ thẹn cải hối.

Niệm tức tịnh, nghĩa là lúc mới ngồi chẳng nghĩ đến các việc thiện ác, vô kư thế gian. Dụng công ngay chỗ này nên nói là tức tịnh.

Người sơ tâm phần nhiều có một niệm quán tập. Người giải đăi có hai niệm tiếp tục và cố khởi. Người hay hổ thẹn phần nhiều có một niệm biệt sanh. Người tinh tấn thường có một niệm tức tịnh. Bốn niệm quán tập, tiếp tục, cố khởi và biệt sanh là bệnh. Một niệm tức tịnh là thuốc. Tuy thuốc và bệnh có khác nhưng đều gọi chung là niệm. Lúc năm niệm này ngừng dứt gọi là nhất niệm tương ưng. Nhất niệm nghĩa là tự tánh linh tri. Nhưng năm niệm ấy là chi nhánh của nhất niệm, nhất niệm là căn bản của năm niệm ấy.

Lại nữa, nếu lúc nhất niệm tương ưng, cần phải biết sáu khoa liệu giản:

1. Biết bệnh

2. Biết thuốc

3. Biết đối trị

4. Biết lỗi sanh

5. Biết thị phi

6. Biết chánh trợ

1- Bệnh có hai thứ: một là duyên lự, hai là vô kư. Duyên lự là hai niệm thiện ác, tuy khác nhau nhưng đều chẳng phải giải thoát nên đều gọi chung là duyên lự. Vô kư là tuy chẳng duyên các việc thiện ác v.v… nhưng cũng chẳng phải Chân tâm chỉ là hôn trầm. Hai thứ này đều là bệnh.

2- Thuốc cũng có hai: một là lặng lặng, hai là tỉnh tỉnh. Lặng lặng là chẳng nghĩ đến các việc thiện ác v.v.. của ngoại cảnh. Tỉnh tỉnh là chẳng sanh các tướng hôn trầm vô kư. Hai thứ này gọi là thuốc.

3- Đối trị, nghĩa là dùng lặng lặng trị duyên lự, dùng tỉnh tỉnh trừ hôn trầm. Dùng hai thứ thuốc này để trị hai chứng bệnh kia cho nên gọi là đối trị.

4- Lỗi sanh, nghĩa là lặng lặng lâu th́ sanh hôn trầm, tỉnh tỉnh lâu th́ sanh duyên lự, nhân v́ thuốc mà sanh bệnh nên nói là lỗi sanh.

5- Biết thị phi, nghĩa là lặng lặng mà chẳng tỉnh tỉnh th́ sẽ hôn trầm, tỉnh tỉnh mà chẳng lặng lặng th́ sẽ duyên lự. Chẳng tỉnh tỉnh, chẳng lặng lặng th́ chẳng những duyên lự mà c̣n hôn trầm. Vừa lặng lặng vừa tỉnh tỉnh, chẳng những sáng suốt mà c̣n yên lặng, đó là trở về nguồn diệu tánh vậy. Trong bốn câu này, ba câu trước là phi (sai), một câu chót là thị (phải) cho nên nói là biết thị phi.

6- Chánh trợ, nghĩa là dùng tỉnh tỉnh làm chánh, lặng lặng làm trợ. Hai việc này thể không rời nhau giống như người bệnh nhờ gậy mà đi được, lấy sự đi là chánh, lấy cây gậy làm trợ. Phàm người bệnh muốn đi, trước tiên cần phải cầm gậy rồi sau mới đi được. Người tu tâm cũng vậy, đầu tiên cần phải dứt duyên lự khiến tâm lặng lặng, kế đó phải tỉnh tỉnh chẳng để hôn trầm khiến tâm sáng suốt, sáng suốt mà vắng lặng, hai tên đồng thời một thể. Ví như người bệnh muốn đi, thiếu gậy không thể đi được, lúc đang đi nhờ gậy mới đi được. Người dụng công tu cũng vậy, sáng suốt và lặng lẽ chẳng được khác thời, tuy có hai tên mà thể của chúng không khác. Lại nói: Loạn tưởng là bệnh, vô kư cũng là bệnh. Lặng lặng là thuốc, tỉnh tỉnh cũng là thuốc. Lặng lặng phá loạn tưởng, tỉnh tỉnh trị vô kư. Lặng lặng sanh vô kư, tỉnh tỉnh sanh loạn tưởng. Lặng lặng tuy có thể trị loạn tưởng mà lại sanh vô kư, tỉnh tỉnh tuy có thể trừ vô kư mà lại khởi loạn tưởng. Do đó nói:

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô kư lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Lặng lặng là trợ, tỉnh tỉnh là chánh. Hăy suy nghĩ kỹ!

Lại nữa, sáu khoa liệu giản cần phải biết rơ năm ấm trong nhất niệm. Nghĩa là dùng thức tương ưng phân biệt rơ ràng gọi là Thức ấm, lănh nạp tại tâm tức là Thọ ấm, tâm duyên lư này tức là Tưởng ấm, hành dụng lư này tức là Hành ấm, ô uế chân tánh tức là Sắc ấm. Năm ấm này luận về thể tức là nhất niệm, nhất niệm này nói về thể th́ toàn là năm ấm. Thấy rơ ràng trong nhất niệm này không có chủ tể tức là nhân không tuệ, thấy như huyễn như hóa tức là pháp không tuệ. Thế nên cần phải biết năm niệm và sáu khoa liệu giản này xin chớ nghi ngờ. Như muốn lấy vàng thật, phải biết rơ cái nào là gạch ngói và vàng giả, chỉ cần lựa bỏ riêng ra hết, dầu không biết vàng thật, vàng thật cũng tự hiện ra lo ǵ chẳng được.


 

CHƯƠNG V

BÀI TỤNG VỀ TỲ-BÀ-XÁ-NA (Quán)

Phàm chẳng phải trí th́ chẳng biết cảnh, nếu chẳng có cảnh th́ trí chẳng sanh. Trí sanh là biết cảnh mà sanh, biết cảnh là do trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết th́ biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh nên sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh, tuy trí mà chẳng phải có. Biết mà không có cái bị biết, tuy cảnh mà chẳng phải không. Không tức chẳng không, có tức chẳng có, có không đều chiếu cả hai th́ diệu ngộ hiển nhiên. Như lửa được củi càng thêm cháy mạnh, củi dụ như cảnh để phát sanh trí, lửa dụ cho diệu trí biết cảnh. Có lời rằng:

Đạt tánh không, chẳng trói buộc
Tuy duyên giả, không đắm trước
Hai cảnh có không đồng soi
Một tâm trung quán siêu vượt.

Nếu trí biết nơi cảnh tức là trí biết cảnh không, như mắt thấy hoa không là mắt biết hoa không. Nếu trí biết nơi trí, tức là trí biết trí không, như mắt thấy con mắt không là mắt biết mắt không. Trí tuy biết cảnh không và biết trí không, nhưng chẳng phải không trí biết cảnh. Cảnh không trí vẫn có. Trí biết cảnh không và trí không, nên không có cảnh nào trí chẳng biết, như con mắt biết hoa không và biết mắt không, nhưng chẳng phải không biết có mắt thấy hoa. Hoa không mắt vẫn có. Mắt biết hoa không và mắt không nên có hoa nào mà mắt chẳng biết.

Lại nữa, tất cả các pháp đều là nhân duyên giả dối, v́ nhân duyên sanh nên đều không Tự tánh. Một pháp đă vậy, muôn pháp cũng vậy. Cảnh trí theo nhau th́ đâu chẳng lặng. V́ sao? V́ pháp nhân duyên tánh không sai biệt. Nay đây ba cơi luân hồi, sáu đường lên xuống, tịnh uế khổ lạc, phàm Thánh sai khác đều do ba nghiệp, bốn nghi([14]) sáu căn đối cảnh. Theo t́nh tạo nghiệp, quả báo chẳng đồng, thiện th́ hưởng lạc, ác th́ thọ khổ. Cho nên kinh nói: “Thiện ác là nhân, khổ lạc là quả.” Phải biết pháp không có tướng nhất định, tùy duyên tập hợp cấu thành, duyên chẳng phải là có ngă, cho nên gọi là Tánh không. Không nên chẳng phải khác, do đó muôn pháp đều Như. V́ thế kinh nói: “Sắc tức là không, bốn ấm kia cũng vậy.” Như vậy, đâu riêng ǵ loài phàm tục có duyên sanh, mà hàng Tam thừa Thánh quả cũng từ duyên có. Thế nên kinh nói: “Phật chủng từ duyên khởi.” Do đó muôn cơ tụ hợp, người đạt th́ không đâu chẳng phải đạo tràng; sắc tượng vô biên, người ngộ rồi th́ không có ǵ chẳng phải Bát-nhă. Cho nên kinh nói: “V́ sắc vô biên nên biết Bát-nhă cũng vô biên.” V́ sao? V́ cảnh chẳng phải trí th́ chẳng biết, trí chẳng phải cảnh th́ chẳng sanh. Trí sanh th́ biết cảnh mà sanh, biết cảnh th́ trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết, biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh, sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh th́ nội trí lặng lặng. Biết không có cái bị biết th́ ngoại cảnh như như. Như và lặng không sai khác th́ cảnh và trí hợp nhất, muôn lụy đều hết, diệu chỉ hăy c̣n. Cho nên kinh nói: “Bát-nhă không biết mà không cái ǵ chẳng biết.” Như vậy diệu chỉ chẳng phải biết, không biết mà biết vậy.


 

CHƯƠNG VI

BÀI TỤNG VỀ ƯU-TẤT-XOA (Thiền)

Phàm định loạn đôi đường nhưng nguồn động tịnh không hai, ngu tuệ trái nẻo mà gốc sáng tối chẳng khác. Bọn mê theo tối phản sáng, bỏ tịnh cầu động. Người ngộ phản động theo tịnh, bỏ tối cầu sáng. Sáng sanh th́ chuyển ngu thành tuệ, tịnh lập th́ dứt loạn thành định. Định lập là do phản động, tuệ sanh là do bỏ tối. Tối và động liên hệ trong lồng phiền năo, tịnh và sáng hướng về nơi vật biểu lộ. Vật không thể làm ngu là do công của tuệ, phiền năo không thể làm loạn là do công của định. Định tuệ lại giúp cho sự lặng yên sáng suốt, ngu loạn buộc nhau ở chốn tối tăm, diêu động. Động mà hay tịnh tức là loạn mà định; tối mà hay sáng tức là ngu mà tuệ vậy. Như thế, gốc của tối và động không khác, sáng và tịnh do đây hợp đạo. Nguồn của ngu và loạn chẳng khác, định và tuệ do đó đồng tông. Tông đồng th́ vô duyên từ, định tuệ th́ tịch mà thường chiếu. Tịch mà thường chiếu th́ song dữ (cả hai đều cho), vô duyên từ th́ song đoạt (cả hai đều cướp). Song đoạt th́ Ưu-tất-xoa (thiền), song dữ th́ Tỳ-bà (quán) và Xa-ma (chỉ). V́ Xa-ma-tha (chỉ) tuy tịch mà thường chiếu, v́ Tỳ-bà-xá-na (quán) tuy chiếu mà thường tịch, v́ Ưu-tất-xoa (thiền) chẳng phải chiếu chẳng phải tịch. V́ chiếu mà thường tịch nên nói tục mà tức chân, v́ tịch mà thường chiếu nên nói chân mà tức tục, chẳng phải tịch chẳng phải chiếu nên ngậm miệng ở Tỳ-da([15]).

Lại nữa c̣n có mười môn quán tâm:

1-      Nói về pháp nhĩ

2-      Nêu ra quán thể

3-      Nói về sự tương ưng

4-      Cảnh tỉnh sự thượng mạn

5-      Răn sự biếng lười, xao lăng

6-      Nêu lại quán thể

7-      Nói về thị phi

8-      Chọn lựa thuyên chỉ

9-      Chạm cảnh thành quán

10-  Khéo hợp với nguồn huyền

1- Nói về pháp nhĩ: Luận về tâm tánh th́ rỗng rang thông suốt, nguồn động tịnh không hai, chân như tuyệt lự cùng niệm duyên chấp trước cũng chẳng khác. Hoặc kiến lăng xăng, cùng tột chỉ là nhất tịch. Nguồn linh không h́nh soi vào th́ có thiên sai (ngàn thứ sai khác). Thiên sai chẳng đồng nên tự lập ra cái tên Pháp nhăn. Nhất tịch không khác nên cái hiệu tuệ nhăn vẫn c̣n. Cả hai lư và lượng đều tiêu th́ công năng Phật nhăn tṛn đủ. V́ vậy Tam đế nhất cảnh nên lư Pháp thân hằng thanh tịnh. Tam trí nhất tâm nên ánh Bát-nhă thường soi chiếu. Cảnh trí thầm hợp nên giải thoát tùy cơ, chẳng phải dọc chẳng phải ngang mà đạo tṛn đủ như chữ y (...) gặp gỡ nhau một cách nhiệm mầu. Cho nên biết diệu tánh của tam đức([16]) rơ ràng không trái, nhất tâm sâu rộng khó lường đâu có cái ǵ chẳng phải là đường giải thoát. Do đó, tức tâm là đạo, có thể nói là lần theo ḍng mà đến được nguồn vậy.

2- Nêu ra quán thể: Chỉ cần biết nhất tâm tức không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không.

3- Nói về sự tương ưng: Tâm cùng với không tương ưng th́ khen chê đâu có mừng lo. Thân cùng với không tương ưng th́ dao cắt hay hương xoa cũng đâu có khổ sướng. Y báo cùng với không tương ưng th́ thí cho hay cướp đoạt cũng đâu có được mất.

Tâm cùng không mà chẳng không tương ưng th́ ái kiến đều quên, từ bi cứu khắp tất cả. Thân cùng không mà chẳng không tương ưng th́ bên trong đồng với cây khô, bên ngoài hiện đủ oai nghi. Y báo cùng không mà chẳng không tương ưng th́ vĩnh viễn dứt sự tham cầu mà đem tiền của giúp người.

Tâm cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ thật tướng mới tỏ, mở tri kiến Phật. Thân cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ một trần nhập chánh thọ, các trần tam-muội khởi. Y báo cùng không mà chẳng không, chẳng không mà chẳng phải chẳng không tương ưng th́ hóa sanh đài hương, lầu báu, cơi nước trang nghiêm.

4- Cảnh tỉnh sự thượng mạn: Nếu chưa được như trên th́ chưa tương ưng.

5- Răn sự biếng lười xao lăng: Như qua biển cần phải lên thuyền  không nhờ thuyền th́ làm sao qua được. Tu tâm cần phải nhập quán, chẳng có quán th́ lấy ǵ để minh tâm. Tâm c̣n chưa minh th́ ngày nào tương ưng. Hăy nên suy xét kỹ, chớ nên tự thị.

6- Nêu lại quán thể: Chỉ biết nhất niệm tức không bất không, phi hữu phi vô, chẳng biết tức niệm, tức không bất không, phi-phi-hữu phi-phi-vô.

7- Nói về thị phi: Tâm chẳng phải hữu, tâm chẳng phải vô, tâm chẳng phải phi hữu, tâm chẳng phải phi vô. Là hữu là vô tức là sa vào thị; phi hữu phi vô tức là rơi vào phi. Như vậy, chỉ là cái phi (sai) của thị và phi, chưa phải là cái thị (phải) của phi thị và phi phi. Nay dùng hai cái phi để phá hai cái thị, thị phá phi thị vẫn c̣n là phi. Lại dùng hai cái phi để phá hai cái phi, phi phá phi phi tức là thị. Như vậy, chỉ là cái thị của phi thị và phi phi, chưa phải là bất phi bất bất phi, bất thị bất bất thị. Cái lầm về thị phi nhỏ nhiệm rất khó thấy, phải để tinh thần sáng suốt, tư lự lặng yên hầu nghiên cứu kỹ lưỡng.

8- Chọn lựa thuyên chỉ([17]): Nhưng mà chí lư th́ không lời, mượn văn ngôn để nói về ư chỉ của lư. Ư chỉ và tông thú chẳng phải là quán, nhờ tu quán để hội được tông thú. Nếu ư chỉ chưa minh th́ lời chưa đúng; nếu tông thú chưa hội th́ quán chưa sâu. Quán sâu mới hội được tông thú, lời đúng mới rơ được ư chỉ. Ư chỉ và tông thú đă hiểu rơ rồi th́ lời nói và quán đâu c̣n tồn tại nữa.

9- Chạm cảnh thành quán: Phàm diễn lại ngôn từ, nêu lại quán thể là muốn nói về tông thú và ư chỉ không khác. Lời nói và quán tùy nơi mà dời đổi. Đổi lời th́ ngôn và lư không sai, đổi quán th́ quán và ư chỉ không khác. Ư chỉ không khác tức là lư, lư không sai tức là tông. Tông thú và ư chỉ là một nhưng hai tên, mà lời nói và quán là phương tiện dẫn dắt.

10- Khéo hợp với nguồn huyền: Phàm người ngộ tâm đâu chấp quán mà mê ư chỉ, người đạt giáo há trệ lời mà lầm lư. Lư tỏ th́ đường ngôn ngữ dứt, lời nào có thể nói bàn. Ư chỉ hội th́ chỗ tâm hành diệt, quán nào có thể nghĩ ngợi. Tâm ngôn chẳng thể nghĩ bàn, thật đáng là “diệu khế hoàn trung” vậy.


 

CHƯƠNG VII

CẤP BẬC LẦN LƯỢT CỦA BA THỪA

Phàm đại đạo mầu nhiệm th́ vi tế sâu xa, lư bặt sự biểu hiện của danh tướng. Chí chân rỗng rang vắng lặng, lượng vượt ra ngoài các số, mà có thể khởi ḷng từ vô duyên tùy cơ cảm ứng. Chỉ thú bất nhị tùy theo căn tánh để phân chia. Thuận vật quên ḿnh nên làm mà không làm, suốt ngày dạy bảo mà chẳng khác ǵ không nói, lập giáo nhiều đường mà chẳng trái một đạo. V́ vậy, Đại Thánh từ bi ứng cơ lợi vật, gom về chỗ sâu kín th́ muôn kinh chẳng khác. Hàng trung hạ quán Tứ đế, Thập nhị nhân duyên mà tự thành Tiểu, bậc cao thượng tu Lục độ mà thành Đại.

Do đó, hạng ngu mê không thể tự hiểu, hoặc nhân nghe nói mà ngộ giải nên hiệu là Thanh văn, nguyên v́ chỗ tu lấy Tứ đế làm bản hạnh. Quán vô thường mà sanh sợ, nghĩ không tịch để cầu an, sợ luân hồi trong lục đạo, ghét sanh tử của tam giới. Thấy khổ thường ôm ḷng chán ĺa, dứt tập hằng sợ nó sanh, chứng diệt riêng khế hợp với vô vi, tu đạo chỉ luận đến tự độ. Tâm đại thệ chưa khắp, đạo nhiếp hóa không thực hành. Lục ḥa kính([18]) rỗng không, ḷng thương ba cơi chẳng vận dụng, nhân trái vạn hạnh, quả thiếu viên thường, lục độ chưa tu, chẳng phải Tiểu thừa th́ là ǵ? Đó là đạo Thanh văn vậy.

Hoặc có người chẳng nhân người khác nói mà tự ngộ vô thường, ngẫu nhiên duyên tán mà thể hội được chân lư nên gọi đó là Duyên giác. Nguyên chỗ tu tập của các ngài lấy Thập nhị nhân duyên làm bản hạnh. Quán vô minh tức mà không, đạt các hành mà vô tác. Hai nhân([19]) đă chẳng phải nghiệp th́ năm quả([20]) đâu c̣n báo. Ái thủ hữu không c̣n tỳ vết th́ lăo tử cũng đâu c̣n ràng buộc, nên có thể tức th́ một ḿnh giải thoát. Ở yên chỗ vắng vẻ yên lặng quán vạn vật biến hóa mà ngộ lư vô thường, thấy thu tàn mà vào chân đạo. Bốn oai nghi nghiêm nghị, nhiếp tâm lự để an vui, tánh thích ở một ḿnh, ưa nghỉ ngơi nơi rừng vắng. Chẳng ưa thuyết pháp, chỉ hiện sức thần thông để hóa độ người. Vào lúc không có Phật xuất thế, các ngài làm ngọn lửa tiếp nối Phật đăng. Thân chỉ ưa vắng lặng, ư thích trong sạch rỗng rang, ở một ḿnh trên đỉnh núi hoang liêu quán các duyên tan mất. Chẳng làm lợi ích khắp cho mọi người, tự lợi cũng chưa viên măn. Đối với bậc hạ th́ có phần hơn, c̣n so với bậc thượng th́ chưa đủ, cả hai đều chẳng phải phẩm loại của các ngài, mà địa vị ở Trung thừa, đấy là đạo Bích-chi Phật vậy.

Như người căn tánh vốn sáng, công đức chứa nhóm nhiều đời, học chẳng bác thiệp mà vẫn tự sanh được sự hiểu biết. Tâm không duyên bất cứ chỗ nào mà hay lợi vật; từ bi rất lớn, chẳng bị ái kiến câu thúc, suốt ngày cứu độ chúng sanh chẳng thấy có chúng sanh được độ. Nhất và dị đều đồng diệu chỉ, giải và hoặc đồng nguyên, nhân và pháp đều không, cho nên gọi là Bồ-tát. Nguyên v́ hạnh tu của các ngài lấy Lục độ làm chánh nhân. Thực hành bố thí th́ bỏ thân hết của; tŕ giới th́ kiết-la (giới nhỏ) cũng không phạm; nhẫn nhục th́ thấu rơ vô ngă, cắt thân nào hại ǵ, an nhẫn sự khen chê bát phong chẳng động; tinh tấn th́ siêng năng cầu pháp chí đạo như cứu lửa cháy đầu, sự tu hành và giáo hóa người trong khoảng sát-na cũng không gián đoạn; thiền-na th́ thân tâm yên lặng, an ban([21]) vi tế, ở trong tịch định để tự nuôi thân, dùng bốn oai nghi để lợi vật; trí tuệ th́ rơ biết duyên khởi tự tánh vô sanh, muôn pháp đều Như, nguồn tâm vắng lặng. Tuy biết phiền năo không thể xả bỏ, Bồ-đề không thể nắm lấy mà có thể chẳng chứng vô vi, độ chúng sanh trong nhiều kiếp, rộng tu vạn hạnh, b́nh đẳng quan sát các loài, dưới đến Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, trên gồm cả pháp bất cộng. Tâm đại thệ trùm khắp, đạo tứ nhiếp gồm thâu, lấy ba cơi làm nhà, bốn loài sanh làm con. Vận dụng hai thứ bi trí, hai thứ phước tuệ trang nghiêm siêu việt Nhị thừa, riêng ở bậc thượng, đó là đạo Đại thừa vậy.

V́ vậy, lư nhất chân theo căn tánh mà có thứ bậc sai khác, như được sự lợi ích tùy cơ nên nói đủ cả ba thừa. Nhưng mà chí lư hư huyền cùng tận đến chỗ vi diệu th́ một c̣n chẳng có, huống là nói đến ba. Ba mà chẳng ba nên nói là ba, một mà chẳng một nên nói là một. Chẳng phải ba mà một, ba c̣n chẳng ba th́ một mà ba, một cũng đâu có một. Một chẳng một tự chẳng phải ba, ba chẳng ba tự chẳng phải một. Chẳng phải một, một chẳng phải th́ ba không c̣n. Chẳng phải ba, ba chẳng phải th́ một chẳng lập. Một chẳng lập vốn chẳng phải ba, ba không c̣n vốn không có một. Một ba vốn không, cái không này cũng không, cái không không đó không có gốc nên diệu tuyệt. Như vậy th́ một đâu bị phân, ba đâu được hợp, hợp phân là từ nơi người vậy, lư nào có khác với lời ư! Ví như có ba con thú qua sông, con sông vốn một, đâu có v́ ba con thú mà hợp. Lại đâu riêng ǵ con sông chẳng phải v́ thú mà hợp, mà thú cũng chẳng phải do sông mà phân. Sông c̣n chẳng thành ba con sông, đâu được lấy sông để hợp ba con thú. Thú c̣n chẳng thành một con thú, há được lấy thú mà thành sông. Sông chẳng phải thú nên đâu thể ba, thú chẳng phải sông nên đâu thể một. Chỉ một con sông bao cả ba con thú mà sông chưa từng ba, ba con thú qua một con sông mà thú chưa từng một. Thú chẳng phải một con để biết chân của chúng có ngắn dài, sông chẳng phải ba để rơ nước kia không có sâu cạn. Nước không có sâu cạn ví như pháp không có sai khác, chân có dài ngắn là dụ cho trí của mỗi bậc có sáng tối khác nhau. Như vậy pháp vốn không có ba mà người tự có ba hạng vậy.

Nay đây điểm khởi đầu của ba thừa th́ Tứ đế được nêu lên trước hết. Pháp vốn đă không có sai khác, th́ Tứ đế cũng đâu chẳng phải đại, mà nói rằng hàng Thanh văn quán nó địa vị lại ở bậc tiểu. Thế mới biết Tứ đế tợ như sông, người ví như  thú. Hàng Thanh văn kém nhất dụ như thỏ tuy lội qua sông mà chân không đến đáy, nên chưa có thể biết được chỗ sâu tột, địa vị các ngài c̣n ở bậc thấp, đâu phải tất cả những người quán Tứ đế đều thành tiểu. Như người trí chiếu cao minh, lượng bằng voi lớn th́ có thể đến cùng nguồn tận mé, hiển nhiên thành đại, cho nên biết kẻ hạ trí quán th́ được quả Thanh văn, người trung trí quán th́ được quả Duyên giác, bậc thượng trí quán th́ được quả Bồ-tát. Biết tông rơ ràng há cho toan tính ư!

V́ thế Thanh văn thấy khổ mà dứt tập, Duyên giác ngộ tập tan ră mà quán ly, Bồ-tát thấu rơ nguồn chân biết tập vốn không ḥa hợp. Ba người cùng quán Tứ đế nhưng chứng quả có khác nhau, bởi do quán có cạn sâu, đối chiếu hẳn có cao thấp. V́ vậy, hạ thừa tu bậc hạ, chưa tu điều của bậc trung và thượng, Thượng thừa tu bậc thượng mà gồm tu cả trung hạ. Bậc trung tu trung hạ, chẳng tu được bậc thượng. Thượng trung hạ do người, chẳng phải Tứ đế khiến người có đại, tiểu. Nhưng ba thừa dù khác mà cùng đồng một điểm trọng yếu là thoát khổ. Thanh văn tuy tiểu, hoặc ái kiến đă trừ nên đối với ba cơi không c̣n lo âu, thân phần đoạn diệt vậy. Ba minh([22]) chiếu sáng tỏ tường nên việc trong tám vạn kiếp hiện tiền, sáu thông([23]) mặc ư vô vi nên có thể đi xuyên qua vách núi. Có lúc đi đứng trên không hoặc an nhiên ngồi nằm, đi trên nước nhẹ như lông hồng, bước trên đất như đi trên nước, công năng cửu định đầy đủ, mười tám thứ biến hóa tùy tâm. Nhưng trong ba tạng nói Phật là nh́n trên địa vị sáu căn thanh tịnh, nên có bằng có kém, chỗ bằng là cùng trừ tứ trụ([24]), nếu hàng phục vô minh, ba tạng là kém, Phật c̣n là kém, Nhị thừa khá biết. Nh́n lên đoạn và phục tuy khác, ở dưới có sự cách biệt ngộ và mê. Như vậy, Nhị thừa có lỗi ǵ mà chẳng muốn tu! Đức Như Lai v́ đối với hàng đại căn muốn dẫn họ về Bảo sở, khiến tu chủng trí đồng khế hợp với chữ y (...) viên măn, đương thời hoặc có khen hay chê, đề cao hay hạ thấp. Hạng phàm phu chẳng biết, rồi lại sợ bị quở, nhưng họ đâu biết ḿnh ái kiến hăy c̣n nên c̣n cách hàng Nhị thừa xa lắm. Tuy cũng nói đến tu đạo nhưng các hoặc sử chưa bỏ, chẳng những thân và miệng chưa đoan chánh cũng là do tâm siểm khúc. Kiến sanh từ nơi ư nên giải trái với chân thuyên, chẳng y theo Thánh giáo, chưa từng học hỏi bậc minh sư. Căn duyên chẳng phải chỉ huân tập từ đời trước, kiến giải chưa dự vào hàng sanh tri, mà có khả năng thế trí biện thông đàm luận suốt ngày, có lúc lấy lời trong kinh bẻ cong theo cái hiểu của ḿnh, luông tuồng nói bậy để dối kẻ ngu, bài bác nhân quả tội phước. Thuận t́nh thỏa thích sanh yêu, nghịch ư bực bội ôm giận, h́nh trạng của ba thọ c̣n nguyên mà tự xưng địa vị đồng hàng Bồ-tát. Các lỗi đă tŕnh bày ở chương đầu chưa dứt th́ chúng hăy c̣n trói buộc người. Pháp Đại thừa chưa tu mà dám chê bậc Tiểu học, nói cho sướng mồm một lúc, cái họa chê bai đành rành, ba đường khổ luân chịu báo nhiều kiếp. Ôi! Thật đáng thương thay! Nói đến ḷng thêm chua xót.

Nhưng mà người đạt tánh đối cảnh càng thêm soi chiếu, bậc quên tâm cùng với điều thiện chẳng có bận ḷng, huống chi lỗi lầm sái quấy của ba nghiệp đâu để trong tâm một điểm trần. V́ vậy bậc đă soi thấy đạo huyền th́ ba thọ([25]) đă sạch ở nguồn tâm, hàng tẩy uế đă tảo trừ bảy chi([26]) của thân miệng. Đối với loại vô t́nh th́ không phạm hạt bụi chiếc lá, đối với loài hữu thức th́ không phiền đến bọ đến sâu, khe sâu chưa đủ trong để sánh với các ngài, tuyết bay chẳng đủ sạch để so với các bậc ấy. Mến đức như chim tung cánh muốn bay cao tột đến trăng sao, bỏ ác như cá sợ câu lặn sâu tận đáy sông đáy biển. Ánh sáng huyền diệu của mặt trời cũng hổ với sự chiếu xa của trí, thượng giới thẹn cùng ba cơi duyên tiêu. Cảnh trí hợp để rỗng không tṛn đầy, định tuệ quân b́nh để ngang nhau một cách mầu nhiệm. Ruộng dâu dầu đổi nhưng tâm vẫn không dời, núi biển có dời nhưng chí vẫn không đổi, mà có thể ở chỗ huyên náo ngưng thần soi chiếu, nguồn tâm sáng sạch tuệ giải vô cùng. Quán pháp tánh để được chân như, xem lời Phật để y theo liễu nghĩa. Như vậy, trong nhất niệm pháp môn nào chẳng đủ. Bằng như người diệu tuệ chưa bày, tâm không chuẩn đích, giải chẳng hợp lư, hạnh thiếu siêu trần, trái pháp tánh mà thuận phàm t́nh, bỏ viên thuyên mà chấp quyền thuyết. Thế nên theo thứ lớp tùy cơ, đối căn mà lập giáo.

Chương này chỉ nói đến giềng mối, c̣n những chi tiết khác bỏ qua chưa bàn đến. Đường lối tông môn có cạn có sâu, nay chỉ nói sơ lược về chỉ thú của nó, cái học của ba thừa có ảnh hưởng là cho biết được phần vị của nó vậy.


 

CHƯƠNG VIII

SỰ LƯ KHÔNG HAI

Phàm diệu ngộ thông đường th́ núi sông chẳng lấp, mê danh trệ tướng th́ mảy lông cũng thành cách ngăn. Nhưng bản nguyên của vạn pháp từ nơi thật tướng mà ra, trần sa hoặc đến nguồn là chân tông. Cho nên vạn tượng không bờ, Bát-nhă không bến, v́ pháp tánh ấy vốn chân, liễu đạt thành trí. Ví như người đi biết đường th́ muôn dặm có thể hi vọng đến nơi. Như người chạm vật, thông ng̣i([27]) th́ suốt ngày bị giam trong giới hạn, v́ họ chẳng biết vật có cái bờ vô h́nh, ng̣i có cái mé rỗng không cùng tột. V́ vậy, học Trung đạo mới hi vọng được thật tướng, như người chấp hữu trệ vô th́ rốt cuộc qui về biên kiến, v́ họ chẳng biết cái tướng có, có chẳng phải có, cái thật không có, chẳng phải không. Nay đây sắc tượng lăng xăng, xét đến cùng th́ nó chẳng phải tướng, âm thanh gầm thét xem cho kỹ th́ không có tiếng. Mê th́ nói là có h́nh có tiếng, ngộ th́ biết là vắng lặng. Như vậy th́ chân đế chẳng trái với sự lư, tức thể của sự lư vốn là chân; diệu trí chẳng khác với liễu tri, tức tánh của liễu tri vốn là trí. Nhưng mà diệu chỉ bặt lời nhờ văn ngôn thuyên chỉ; chân tông chẳng phải tướng, mượn danh tướng để nêu tông. Như voi chẳng phải là núi Tuyết mà mượn núi Tuyết để ví cho voi([28]). Đây là lấy cái có thể so sánh với nó, há cho rằng núi Tuyết là voi được ư?

Nay đây pháp chẳng phải thường mà chấp là hữu, nên nhờ phi hữu để phá thường. Tánh chẳng phải đoạn mà chấp là vô, nên dùng phi vô để phá đoạn. Cũng như sạch sẽ chẳng phải là nước tro mà nhờ nước tro nên rửa sạch, đây là lấy cái công năng hay rửa, há lấy nước tro mà làm sạch ư? Do đó biết Trung đạo chẳng thiên, nhờ nhị biên mà biện chánh, đoạn thường chẳng phải, dựa vào vô và hữu để rơ chỗ sai. Hoặc hữu hoặc vô nói đă sai, chẳng phải hữu chẳng phải vô cũng đâu là phải. Tin biết người diệu đạt nguồn huyền chẳng phải hạng thường t́nh có thể lường được. V́ sao? Phàm vọng chẳng phải do ngu sanh, chân chẳng phải do trí được, đạt vọng gọi là chân, mê chân gọi là vọng, há có vọng tùy theo ngu biến, chân theo trí trở về, chân vọng chẳng sai, ngu trí tự khác. Hễ muốn thấu tỏ huyền tông trước tiên cần phải xét kỹ về ngu trí. Nếu muốn xét kỹ về ngu trí phải khéo rơ biết về chân vọng. Nếu muốn rơ biết về chân vọng lại cần phải nghiên cứu đến danh thể, danh thể nếu phân th́ chân vọng tự biện. Chân vọng đă biện th́ ngu trí rơ ràng. V́ vậy, kẻ ngu không có khả năng liễu trí, người trí có thật chất đạt ngu. Nên biết chẳng phải trí th́ không do đâu để rơ chân vọng, chẳng phải trí th́ đâu thể phân biệt danh thể. V́ sao? Hoặc có danh mà không thể, hoặc nhân thể mà lập danh, danh thể xen lẫn thật khó nghiên cứu đến cùng được. Thế nên, thể chẳng phải danh th́ chẳng biện, danh chẳng phải thể th́ chẳng lập. Nói thể cần phải nhờ đến danh, nói danh cần phải dựa vào thể.

Nay đây ngoài thể lập danh, đó chỉ là danh mà không thể, há có cái thể thích ứng với danh ư? Ví như thỏ không có sừng mà đặt ra danh từ sừng thỏ, đây là có tên gọi mà thật không sừng, há có sừng để thích ứng với tên ư? Không có thể mà lập danh th́ danh không thật danh, danh không thật danh th́ cái được gọi tên (sở danh) là không vậy. Cái được gọi tên (sở danh) đă không th́ cái hay gọi (năng danh) cũng không. V́ sao? V́ đặt danh để gọi cái thể của nó, không có thể th́ lấy ǵ để thích ứng với danh. Nói thể là thể cốt để thích ứng với danh, không danh lấy ǵ để thích ứng với thể, thể không thích ứng th́ không phải thể, danh không danh th́ chẳng phải danh. Vậy th́ đâu riêng ǵ thể mới nguyên hư mà danh cũng là bản tịch, nhưng mà không có thể thích ứng với danh do lai như thế. Danh thể thích ứng th́ gọi là ǵ?

Phàm thể th́ chẳng tự có danh, mượn cái danh khác để gọi ngă thể, danh chẳng phải tự thành lập mà nhờ cái thể khác để đặt ngă danh. Nếu thể chưa có h́nh th́ danh đâu được gọi. Nếu danh chưa lập th́ thể đâu được rơ. Nhưng rơ được thể tuy nhờ danh, chẳng phải v́ không có danh mà không có thể. Lập danh vốn cần phải do thể, không thể th́ danh đó vốn không. Như vậy, thể chẳng phải do danh sanh mà danh sanh ở nơi thể vậy. Nay đây thể ở trước danh, danh theo sau thể để phân biệt. Như thế th́ lập danh để gọi tên cái thể, cho nên biết thể là nguồn của danh th́ nguyên do của danh là duyên khởi từ nơi thể, vậy đầu mối của thể y cứ vào đâu?

Phàm thể th́ chẳng có h́nh dạng của ngă, nhờ duyên hội hợp mà thành thể. Duyên chẳng phải từ ngă hội, nhân hội thể mà thành duyên. Nếu thể chưa có h́nh th́ duyên hội chỗ nào? Nếu duyên chưa hội th́ thể thành h́nh ở nơi đâu? Thể thành h́nh là duyên hội để thành h́nh, duyên hội là thể thành h́nh để mà hội. Thể thành h́nh mà hội th́ rơ h́nh không riêng hội, h́nh không riêng hội th́ hội vốn không vậy. Duyên hội mà thành h́nh th́ biết hội không có riêng h́nh, hội không có riêng h́nh th́ h́nh vốn không vậy. Do đó, vạn pháp từ duyên sanh không Tự thể. Không Tự thể nên gọi là Tánh không. Tánh đă không tuy duyên hội mà chẳng phải có, duyên đă hội tuy tánh không mà chẳng phải không. V́ vậy, có của duyên hội, có mà chẳng phải có. Không của Tánh không, không mà chẳng phải không. V́ sao? Hội tức Tánh không, nên nói chẳng phải có; không tức duyên hội nên gọi chẳng phải không. Nay nói chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải ngoài cái có riêng có một cái không, cũng chẳng phải ĺa cái không riêng có một cái có. Như vậy th́ rơ pháp chẳng phải có không, nên lấy tên là chẳng phải có chẳng phải không. Chẳng những chẳng phải có chẳng phải không, đă chẳng phải có không, lại chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không. Như vậy, đâu riêng ǵ đường ngôn ngữ dứt mà cũng là chỗ tâm hành diệt vậy.


 

CHƯƠNG IX

THƯ KHUYÊN BẠN HỮU

Thư mời Đại sư về núi của Thiền sư Huyền Lăng ở núi Tá Khê, huyện Phổ Dương, Vụ Châu.

Từ buổi đến Linh Khê, tâm ư thảnh thơi, thường chống gậy rong chơi trên đỉnh non cao thấp, phủi sạch thất đá hang núi ngồi yên. Trông ra muôn dặm tùng xanh hồ biếc, trăng sáng tự sanh gió đùa mây trắng. Hoa đẹp cỏ thơm chim rừng tha ngậm, xa gần đều nghe vượn hú từng hồi, lấy cuốc gối đầu, cỏ êm làm nệm. Đường đời lao xao tranh giành nhân ngă, tâm địa chưa đạt nên mới như thế.

Như có th́ giờ, mong được gặp nhau.

Thư đáp của Đại sư Huyền Giác

Từ lúc từ biệt đến nay đă mấy năm trường, trong ḷng đau đáu nhớ nhung, bỗng nhận được thư của bạn thật thỏa ḷng mong đợi. Sao lá thư chẳng thấy nói đến đạo thể như thế nào, nhưng pháp vị nuôi dưỡng tinh thần cho nên chắc được tịnh lạc.

Huyền Giác tôi từ lâu khâm phục đức âm, chẳng phải dùng lời có thể thuật được. Ǵn ḷng tiết tháo, một ḿnh ở nơi vắng vẻ bặt dấu con người, ẩn ḿnh trong hang núi, bạn thân không tới lui, chỉ có chim thú qua lại, suốt đêm miên miên, cả ngày lặng lặng, thấy nghe đều dứt, tâm thật vắng lặng. Một ḿnh trên đỉnh núi, ở dưới cội cây, lánh sự đông đúc, hưởng thức ăn đạo, thật hợp với bạn.

Nhưng mà chánh đạo tịch liêu, tuy có tu mà khó hội, bọn tà huyên náo không tập mà dễ thân. Nếu chưa phải bậc giải khế huyền tông, hạnh hợp với chân thú th́ chưa nên ở nơi vắng vẻ, ôm ấp sự vụng về suốt một đời ḿnh. Phải nên rộng hỏi bậc tiên tri, thành khẩn khâm phục chấp tay qú gối, chỉnh ư đoan dung, ngày đêm quên nhọc, trước sau hết ḷng ngưỡng mộ, khắc phục thân miệng, trừ sạch biếng lười cống cao, chẳng quản h́nh hài, chuyên tinh chí đạo, mới có thể gọi là lóng thần nơi vuông tấc([29]). Phàm muốn đạt lư diệu huyền chẳng phải là dễ, kế đến quyết trạch như đi trên băng mỏng, cần phải nghiêng tai để mắt mà vâng theo huyền chỉ. Thu thúc t́nh trần để thưởng thức chỗ kín đáo sâu xa, quên lời mà vui với yếu chỉ, rửa sạch lụy phiền để ăn vị đạo mầu, đêm lo lắng, ngày hỏi han chẳng lạm tóc tơ, được như thế th́ mới có thể giấu ḿnh trong hang núi, lặng ḷng lo toan không tiếp xúc với mọi người. Hoặc có người tâm chưa thông thấy vật thành bị ngăn ngại, muốn tránh nơi huyên náo, cầu chỗ yên lặng th́ suốt cả đời cũng chưa được yên. Huống hồ rừng xanh bát ngát núi đá chập chùng, thú gầm chim hót, tùng trúc um tùm, đá nước chênh vênh, ngọn gió rung cây, b́m sắn vương vấn, mây mù ḥa hợp, vạn vật héo tàn tươi tốt theo tiết trời, sớm chiều bị những thứ ấy làm hoa mắt, há chẳng phải là huyên náo rộn ràng ư? Cho nên biết hễ kiến hoặc c̣n vương vít th́ chạm vào đâu cũng thành vướng mắc. Do đó, trước cần phải biết đạo rồi sau mới ở núi. Nếu người chưa biết đạo mà ở núi trước th́ chỉ thấy núi ắt quên đạo. Nếu người chưa ở núi mà trước đă biết đạo th́ chỉ thấy đạo quên núi. Quên núi th́ đạo tánh làm vui vẻ tinh thần, quên đạo th́ bị núi non làm hoa mắt. Do đó, người thấy đạo quên núi ở chốn nhân gian vẫn lặng, người thấy núi quên đạo ở trong núi cũng ồn ào. Cần phải rơ ấm vô ngă, vô ngă th́ ai ở nhân gian? Nếu biết ấm nhập([30]) như hư không th́ xóm làng sẽ hoang vắng có khác ǵ hang núi. Như người ba độc chưa bỏ, sáu trần c̣n nhiễu loạn, thân tâm tự mâu thuẫn th́ có quan hệ ǵ đến sự huyên náo hay yên lặng của nhân gian hay hang núi đâu!

Vả lại, đạo tánh chan ḥa cùng khắp như hư không, vạn vật vốn chẳng hệ lụy, ḷng chân từ b́nh đẳng th́ thanh sắc nào chẳng phải đạo ư? Do v́ kiến đảo hoặc sanh bèn thành luân chuyển vậy. Nếu như biết rơ cảnh chẳng phải có th́ trước mắt không ǵ chẳng phải là đạo tràng. Biết rơ vốn không, do đó chẳng duyên mà chiếu, viên dung pháp giới giải và hoặc nào khác, lấy hàm linh để biện ḷng bi, dứt tưởng niệm để mà rơ trí. Trí sanh th́ pháp sẽ viên chiếu, ĺa cảnh lấy ǵ quán bi? Bi trí lư hợp gồm thâu, trái chúng sanh th́ lấy ǵ làm năng độ? Ḷng bi rộng lớn độ hết chúng sanh, chiếu tột cùng cảnh để trí viên măn. Trí viên măn th́ lặng yên hay huyên náo đồng xem như nhau, ḷng bi rộng lớn th́ oán thân đều cứu cả. Như vậy, đâu cần ở lâu trong hang núi mà theo chỗ tùy duyên. Huống chi pháp pháp rỗng rang dung hợp, tâm tâm tịch diệt vốn tự chẳng phải có, ai gượng gọi là không th́ có sự huyên náo ǵ đáng gọi là huyên náo, có sự yên lặng nào đáng gọi là yên lặng. Nếu biết vật và ngă hợp nhất th́ kia đây chẳng ǵ không phải là đạo tràng, đâu c̣n thuận theo sự huyên náo của nhân gian hay nhàn rỗi ở nơi hang núi. Do đó, bỏ động cầu tịnh là gông ghét cùm yêu, ĺa oán cầu thân là cũi chán lồng ưa. Nếu có thể lặng lẽ nơi huyên náo th́ chợ búa không đâu chẳng phải là chỗ ngồi yên. Cầu chỉ lỗi lầm, nhận lănh lời dạy, oan trái do từ thiện hữu. Như vậy cướp đoạt hay hủy nhục đâu từng chẳng phải bổn sư ta, kêu la huyên náo không có ǵ chẳng phải tịch diệt. Cho nên biết diệu đạo không có h́nh mà vạn tượng chẳng trái với nó; chân như tịch diệt, các âm vang chẳng khác với tiếng. Mê th́ kiến đảo hoặc sanh, ngộ th́ không có trái thuận. Vắng lặng chẳng phải có, duyên hội th́ sanh, núi Nga Nghi([31]) chẳng phải không, do duyên tan mà có thể diệt, diệt đă chẳng phải diệt, lấy ǵ để diệt cái diệt; sanh đă chẳng phải sanh, lấy ǵ để sanh cái sanh. Sanh diệt đă không th́ thật tướng thường trụ. V́ vậy, nước định mênh mông niệm trần nào chẳng bị tẩy sạch, đèn trí sáng ngời hoặc nào không bị trừ khử. Trái đó th́ sáu nẻo tuần hoàn, hội đó th́ ba đường ra khỏi. Như vậy sao chẳng đi thuyền tuệ rong chơi trên biển pháp, mà lại muốn đi xe găy trục vào hang núi ư! Cho nên biết vật loại lăng xăng, nhưng tánh chúng tự là một, nguồn linh lặng lặng chẳng chiếu mà biết. Thật tướng thiên chân, linh trí chẳng phải tạo, đối với người mê th́ gọi là mất, đối với người ngộ th́ gọi là được. Được mất tại người, đâu có quan hệ ǵ đến động tịnh, ví như người chưa biết đi thuyền mà muốn oán ghét ḍng nước quanh co kia ư! Nếu có thể khéo biết huyền tông, tâm rỗng rang thầm khế hợp, động tịnh nói nín luôn là qui củ, lặng lẽ có chỗ qui về, điềm nhiên không gián cách. Như vậy mới có thể tiêu dao nơi hang núi, phóng khoáng chốn thôn trang, thong thả h́nh nghi, vắng lặng tâm phủ, điềm đạm bên trong, thâm trầm bên ngoài. Với thân th́ như bị câu thúc mà tâm th́ tự tại thong dong, hiện h́nh dung chốn hoàn vũ, giấu u linh nơi pháp giới. Như vậy th́ ứng cơ có cảm, thích nghi, không tiêu chuẩn nhất định.

Thư viết sơ lược, ngoài ra làm sao tŕnh bày cho hết được, nếu chẳng phải bạn đồng chí, đâu dám xúc phạm, lúc rảnh ngồi yên xin tạm suy nghĩ. Nếu tôi nói dối hay sai th́ xem xong rồi cứ đốt.

Đồng bạn HUYỀN GIÁC

Kính bái


 

CHƯƠNG X

VĂN PHÁT NGUYỆN

Cúi lạy viên măn biến tri giác,
Tịch tịnh b́nh đẳng bản chân nguyên,
Tướng tốt trang nghiêm phi hữu vô,
Tuệ sáng soi khắp vi trần sát.
Cúi lạy trạm nhiên chân diệu giác,
Mười hai phần giáo rất sâu xa,
Phi văn, phi tự, phi ngôn thuyên,
Một âm tùy loại đều hiểu rơ.
Cúi lạy thanh tịnh chư Hiền Thánh,
Mười phương ḥa hợp thật chân tăng,
Giữ ǵn giới cấm không trái phạm,
Cầm tích ôm b́nh lợi hàm linh.
Noăn sanh, thai sanh và thấp hóa,
Hữu sắc, vô sắc, tưởng, phi tưởng,
Phi hữu phi vô tưởng, tạp loại,
Sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng.
Nay con đảnh lễ qui Tam Bảo,
V́ khắp chúng sanh phát đạo tâm,
Quần sanh trầm luân trong biển khổ,
Nguyện nhờ từ lực Phật Pháp Tăng.
Từ bi phương tiện trừ các khổ,
Chẳng bỏ nguyện rộng cứu hàm thức,
Hóa lực tự tại độ vô cùng,
Hằng sa chúng sanh thành Chánh giác.

Nói kệ này xong, con lại đảnh lễ qui y trước mười phương ba đời tất cả chư Phật Pháp Tăng, cho con được nương nhờ sức Tam Bảo chí tâm phát nguyện tu Vô thượng Bồ-đề, kể từ nay cho đến khi thành Chánh giác, khoảng giữa quyết định cần cầu không hề lui sụt. Khi chưa đắc đạo, thân không tật bệnh, thọ không yểu mạng, đến lúc lâm chung chẳng thấy tướng ác, không sự lo sợ, chẳng sanh điên đảo, thân không đau khổ, tâm chẳng tán loạn, chánh tuệ tỏ tường, chẳng qua trung ấm, chẳng vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, thủy lục không hành, thiên ma ngoại đạo, u minh quỉ thần, các thứ tạp h́nh thảy đều chẳng thọ. Thường được thân người thông minh chánh trực, không sanh vào nước ác, chẳng gặp vua dữ, chẳng sanh biên địa, chẳng bị nghèo khổ, tôi trai tớ gái, thân h́nh người nữ, huỳnh môn hai căn, tóc vàng răng đen, ngu si tăm tối, xấu xí tật nguyền, đui mù câm điếc, hễ là các điều đáng chán thảy đều chẳng sanh. Sanh ở trung quốc, trong nhà chánh tín, thường được thân nam, sáu căn đầy đủ, đoan chánh thơm tho, không các dơ uế, ư chí ḥa nhă, thân an tâm tịnh, không tham sân si, ba độc dứt hẳn, chẳng tạo điều ác, hằng nghĩ việc lành. Chẳng làm vương thần, không làm sứ giả, không nguyện giàu sang, sống an cảnh nghèo, ít muốn biết đủ, chẳng tham cất chứa, cơm áo nuôi thân, chẳng trộm của người, chẳng giết chúng sanh, chẳng ăn thịt cá, yêu kính hàm thức như ḿnh không khác. Tánh hạnh dịu dàng, chẳng vạch lỗi người, chẳng ca ngợi ḿnh, chẳng tranh cùng người, oán thân b́nh đẳng, chẳng khởi phân biệt, chẳng sanh yêu ghét, chẳng muốn của người, của ḿnh chẳng tiếc, chẳng thích xâm phạm, ḷng luôn ngay thẳng, tâm không hung bạo, thường ưa nhún nhường, miệng không nói ác, tâm không dua dối, ba nghiệp trong sạch, ở chỗ an ổn, không các chướng nạn. Trộm cắp giặc cướp, pháp vua tù ngục, gông cùm xiềng xích, đao thương tên giáo, thú dữ độc trùng, té núi té sông, lửa cháy gió cuốn, sấm sét hăi hùng, cây găy núi lở, rui mục nhà sập, giặc giă đáng sợ, đến gần vây quanh, bắt bớ trói buộc, vu oan hủy báng, ngang ngược câu thúc, phàm các tai nạn thảy đều chẳng thọ. Ác quỉ tai bay, thiên hành độc lệ, tà ma vọng lượng ở biển ở sông, non cao núi lớn, các thần ở cây hễ có linh thiêng hoặc nghe tên tôi hoặc thấy h́nh tôi phát tâm Bồ-đề, che chở cho nhau, chẳng năo hại nhau, ngày đêm an ổn, không sự kinh sợ. Bốn đại mạnh khỏe, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm sáu trần, tâm không loạn tưởng cũng không hôn trầm, chẳng sanh đoạn kiến, chẳng chấp có không, xa ĺa các tướng, phụng thờ đức Phật. Chẳng theo kiến chấp, giải ngộ rơ ràng, đời đời tu tập chánh tuệ kiên cố, chẳng bị ma nhiếp. Đến lúc mạng chung an nhiên vui sướng, bỏ thân thọ thân, không có oán đối, tất cả chúng sanh đồng làm bạn tốt. Sanh ra chỗ nào gặp Phật nghe Pháp, ấu niên xuất gia, làm Tăng ḥa hợp, thân luôn mặc áo ca-sa, thường ăn thức đựng trong bát, đạo tâm kiên cố, chẳng sanh kiêu mạn. Kính trọng Tam Bảo, thường tu phạm hạnh, gần gũi minh sư, theo thiện tri thức, tin sâu chánh pháp, siêng hành Lục độ, đọc tụng Đại thừa, hành đạo lễ bái. Hoa thơm quả ngọt, âm thanh tán tụng, đèn đuốc đền đài, non biển suối rừng, trên không dưới đất của thế gian này từ hạt bụi nhỏ đều đem cúng dường, gom góp công đức hồi hướng Bồ-đề. Suy tư liễu nghĩa, chỉ ưa nhàn tịnh, thanh tịnh lặng yên, chẳng thích huyên náo, chẳng ưa ở đông, thường sống một ḿnh, tất cả không cầu, chuyên tâm định tuệ, sáu thông đầy đủ, hóa độ chúng sanh tùy theo ư nguyện tự tại vô ngại, vạn hạnh thành tựu tinh diệu vô cùng, chánh trực viên minh, chí thành Phật đạo.

Nguyện đem thiện căn này chan rải khắp mười phương, trên tột Hữu đảnh, dưới đến phong luân, trên trời trong người, thân trong sáu đường của tất cả hàm thức, tôi có công đức nào nguyện thí cho tất cả chúng sanh, tận vi trần kiếp chẳng bỏ một chúng sanh nào, tôi có bao nhiêu thiện căn đều xông ướp cho tất cả. Khổ năo trong địa ngục, Nam-mô Phật Pháp Tăng, xưng danh Phật Pháp Tăng, nguyện đều được giải thoát. Khổ năo trong ngạ quỉ, Nam-mô Phật Pháp Tăng, xưng danh Phật Pháp Tăng, nguyện đều được giải thoát. Khổ năo trong súc sanh, Nam-mô Phật Pháp Tăng, xưng danh Phật Pháp Tăng, nguyện đều được giải thoát. Thiên, nhân, a-tu-la, hằng hà sa loài hàm thức, tám khổ thường thiêu đốt, Nam-mô Phật Pháp Tăng, do thiện căn của tôi đều thoát khỏi ràng buộc.

Nam-mô Tam thế Phật,
Nam-mô Tu-đa-la,
Bồ-tát, Thanh văn Tăng,
Thánh chúng như vi trần.
Chẳng bỏ ḷng từ bi,
Nhiếp thọ loài quần sanh,
Hàm thức khắp hư không,
Qui y Phật Pháp Tăng.
Ĺa khổ thoát tam đồ,
Mau được siêu tam giới,
Đều phát tâm Bồ-đề,
Ngày đêm hành Bát-nhă.
Đời đời siêng tinh tấn,
Lúc đắc đạo Bồ-đề,
Thệ nguyện độ tất cả.
Tôi hành đạo lễ bái,
Tôi tụng kinh niệm Phật,
Tôi tu giới định tuệ,
Nam-mô Phật Pháp Tăng.
Nguyện khắp các chúng sanh,
Thảy đều thành Phật đạo,
Tôi cùng các hàm thức,
Kiên cố cầu Bồ-đề.
Đảnh lễ Phật Pháp Tăng,
Nguyện sớm thành Chánh giác.


 

THIỀN SƯ TUỆ HẢI

ĐỐN NGỘ

NHẬP ĐẠO YẾU MÔN


 

LỜI DỊCH GIẢ

Quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn là một quyển luận nhỏ, nếu căn cứ phần lượng mà nói th́ không thấm vào đâu đối với Tam tạng giáo điển, nếu nh́n vào phẩm mà bàn là một viên ngọc quí vô giá của Thiền tông nói riêng, của Phật giáo Đại thừa nói chung. V́ thế, sau khi xem nó, Mă Tổ bảo chúng “Việt Châu có Đại Châu tṛn sáng thấu suốt tự tại không ngại”. Đành rằng Mă Tổ nói Đại Châu là ngầm ư chỉ Thiền sư Tuệ Hải, song sự thâm ngộ của Thiền sư Tuệ Hải được bày hiện dưới mắt Mă Tổ qua quyển luận nhỏ này.

Tên Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn nghĩa là “Cửa trọng yếu chóng ngộ vào đạo”. Người tu hành muốn được mau ngộ tất nhiên phải bước vào cửa này, chớ không c̣n cửa nào khác. Bởi v́ cửa này là cửa tiến thẳng vào thẳng không quanh co, không mượn nhiều phương tiện. Tiến thẳng vào thẳng cái ǵ? - Tiến thẳng đến vô sanh, vào thẳng Phật tánh. Những pháp tu khác hầu hết đều chỉ dạy từ từ, từ thấp lên cao, từ cạn vào sâu. Duy pháp Đốn ngộ này: “Ngay nơi sanh diệt nhận vô sanh, ngay nơi phàm phu thấy được Phật tánh.” Ta hăy nghe trong đây định nghĩa Thiền định: “Vọng niệm chẳng sanh là Thiền. Ngồi thấy Bản tánh là Định.” Thiền không có nghĩa là ngồi, mà trong bốn oai nghi tâm đều thanh tịnh sáng suốt không có một vọng niệm dấy khởi. Định không có nghĩa chú tâm vào một cảnh, mà thấy được Bản tánh của ḿnh. Bản tánh tức là Phật tánh hay Chân tâm. Bản tánh không sanh không diệt, nên tâm không chạy theo cảnh sanh diệt. Định ấy mới thật chân định.

Pháp tu Đốn ngộ này thật đơn giản, mà rất siêu việt. V́ lời dạy rất b́nh dị nằm gọn trong một vài câu là đủ tu giải thoát. Như một câu trong đây: “Việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm.” Mới đọc qua chúng ta thấy nó rất tầm thường, song nhận xét kỹ sẽ thấy nó hiện đầy đủ “Như Lai Thanh tịnh thiền” hay “Kim Cang Tam-muội”, “Pháp Hoa Tam-muội” v.v… Thật vậy, “việc đến chẳng nhận” tức là tám gió thổi chẳng động. Bởi v́ việc lợi, việc suy, việc hủy nhục, việc đề cao, việc khen ngợi, việc chê bai, việc khổ, việc vui đến, tâm đều không chấp nhận. Do tâm không chấp nhận nên không động, mà luôn luôn an nhiên trước mọi cảnh. Thế không phải Đại định là cái ǵ? “Tất cả chỗ không tâm”, tức là trong mọi trường hợp, mọi thời gian không khi nào phóng tâm chạy theo ngoại cảnh. Tâm không theo cảnh là tâm như như hay là Đại Bát-nhă. Thế là đầy đủ Như Lai thiền rồi.

Bởi lời dạy cao siêu chắc thật này, nên Thiền sư Tuệ Hải dám đoan quyết với chúng ta rằng: “Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát, tôi xin trọn đời thay các ông chịu tội trong Đại địa ngục.” Thiền sư đă khéo dùng lời vấn đáp để chỉ dạy cho chúng ta dễ trực nhận, mà lại c̣n dám cam đoan y đó tu hành sẽ được giải thoát, bằng không Ngài sẽ chịu tội địa ngục thế cho chúng ta. Thật c̣n ǵ đại bi bằng! Nếu chúng ta đủ duyên cầm trên tay quyển luận này mà không chịu y đó tu hành, thật là chúng ta đă cô phụ ơn Ngài!

Khi phiên dịch quyển luận này, chúng tôi mong quí độc giả cùng chúng tôi đồng nỗ lực tiến thẳng đường chim mà chư Phật chư Tổ nói chung, Thiền sư Tuệ Hải nói riêng, đă vạch và đă đi. Mong thay!

Kính ghi

Dịch giả: THÍCH THANH TỪ

TU VIỆN CHÂN KHÔNG

Cuối Xuân Tân Hợi (1971)


 

TIỂU SỬ

THIỀN SƯ TUỆ HẢI (ĐẠI CHÂU)

Sư họ Châu quê ở Kiến Châu, theo Ḥa thượng Đạo Trí chùa Đại Vân ở Việt Châu xuất gia học đạo.

Sơ khởi, Sư đến tham vấn Mă Tổ (Thiền sư Đạo Nhất). Mă Tổ hỏi:

- Từ đâu đi đến?

Sư thưa:

- Ở Việt Châu chùa Đại Vân đến.

- Đến đây tính cầu việc ǵ?

- Đến cầu Phật pháp.

- Kho báu nhà ḿnh chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi t́m cái ǵ? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái ǵ?

Sư lễ bái thưa:

- Cái ǵ là kho báu nhà ḿnh của Tuệ Hải?

- Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ t́m cầu bên ngoài.

Ngay câu nói này, Sư tự nhận Bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ.

Sư ở lại đây hầu Mă Tổ sáu năm.

Sau v́ bổn sư tuổi già, Sư phải về phụng dưỡng. Từ đây, Sư tàng ẩn chỗ thâm ngộ của ḿnh, hiện bề ngoài như kẻ tầm thường. Sư thầm soạn quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn này, bị Huyền Ấn là cháu trong Pháp môn lén lấy đem tŕnh Mă Tổ.

Mă Tổ xem xong, bảo đại chúng:

- Việt Châu có Đại Châu (hạt châu lớn) tṛn sáng thấu suốt, tự tại không ngại.

Khi ấy, ở trong chúng có người biết Sư họ Châu bèn rủ nhau lần lượt t́m đến thưa hỏi và nương tựa. Từ đó, người ta gọi Sư là Ḥa thượng Đại Châu.

Sư từng từ chối không chịu chỉ dạy, nhưng chúng cứ khư khư theo hầu, bất đắc dĩ Sư phải dùng biện tài vô ngại để giáo hóa.


 

ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN

Cúi đầu đảnh lễ chư Phật khắp mười phương, các chúng Bồ-tát lớn. Nay con soạn luận này, sợ e không hợp tâm Phật, xin cho con sám hối; nếu hợp tâm Phật, trọn đem bố thí tất cả hữu t́nh, nguyện đời sau đều được thành Phật.

*

Hỏi: Phải tu pháp ǵ chóng được giải thoát?

Đáp: Chỉ có một môn đốn ngộ là chóng được giải thoát.

- Thế nào là đốn ngộ?

- Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.

- Từ cái ǵ mà tu?

- Từ căn bản mà tu.

- Thế nào từ căn bản mà tu?

- Tâm là căn bản.

- Làm sao biết tâm là căn bản?

- Kinh Lăng-già nói: “Tâm sanh th́ các thứ pháp sanh, tâm diệt th́ các thứ pháp diệt.” Kinh Duy-ma nói: “Muốn được tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy tịnh là Phật độ tịnh.” Kinh Di Giáo nói: “Chỉ kềm tâm một chỗ không việc ǵ chẳng xong.” Kinh nói: “Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, ngu nhân cầu Phật chẳng cầu tâm, trí nhân điều tâm chẳng điều thân, ngu nhân điều thân chẳng điều tâm.” Kinh Phật Danh nói: “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt.” Thế nên biết, tất cả thiện ác đều do tâm ḿnh, do đó nói tâm là căn bản.

Nếu người cầu giải thoát trước phải biết căn bản. Nếu chẳng đạt được lư này, luống uổng nhọc công, từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, thật không thể được. Kinh Thiền Môn nói: “Từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể thành. Từ giác quán (xét soi) bên trong mà tu, bằng khoảng một niệm liền chứng Bồ-đề.”

- Tu căn bản phải lấy pháp ǵ để tu?

- Chỉ tọa thiền, thiền định liền được. Kinh Thiền Môn nói: “Cầu trí Thánh của Phật, cốt phải thiền định. Nếu không thiền định, th́ niệm tưởng xao động, phá hoại căn lành kia.”

- Thế nào là thiền? Sao là định?

- Vọng niệm chẳng sanh là thiền. Ngồi thấy Bản tánh là định. Bản tánh là tâm vô sanh của ông vậy. Định là đối cảnh tâm không sanh, tám gió thổi chẳng động. Tám gió là: lợi (tài lợi), suy (suy hao), hủy (hủy nhục), dự (đề cao), xưng (khen ngợi), cơ (chê bai), khổ (đau khổ), lạc (vui vẻ). Nếu người được định như thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. V́ sao? V́ kinh Bồ-tát Giới nói: “Chúng sanh thọ Phật giới, liền vào ngôi vị chư Phật.” Người được như thế gọi là giải thoát, cũng gọi đến bờ kia, hơn lục độ, vượt khỏi tam giới, là Bồ-tát đại lực, là bậc Tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.

*

- Tâm trụ chỗ nào là trụ?

- Tâm trụ chỗ không trụ là trụ.

- Thế nào là chỗ không trụ?

- Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ không trụ.

- Thế nào là chẳng trụ tất cả chỗ?

- Chẳng trụ tất cả chỗ là: chẳng trụ nơi lành dữ, có không, trong ngoài, chặng giữa, chẳng trụ không, cũng chẳng trụ chẳng không, chẳng trụ định, cũng chẳng trụ chẳng định, tức là chẳng trụ tất cả chỗ. Chỉ cái chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là chỗ trụ. Người được như thế, gọi là tâm không trụ. Tâm không trụ là tâm Phật.

- Tâm ấy giống vật ǵ?

- Tâm ấy chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải dài ngắn tới lui, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng sanh chẳng diệt, yên tịnh thường lặng lẽ. Đó là h́nh tướng của Bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân là thân Phật.

*

- Thân tâm này lấy cái ǵ để thấy? Lấy mắt thấy, lấy tai, mũi và thân tâm v.v… để thấy chăng?

- Cái thấy này không phải như các thứ thấy đó.

- Đă không như các thứ thấy đó, là lấy cái ǵ thấy?

- Là Tự tánh thấy. V́ sao? V́ Tự tánh (tánh của ḿnh) xưa nay trong sạch yên tịnh không lặng, chính trong cái thể không lặng ấy hay sanh cái thấy này.

- Chỉ như thể thanh tịnh c̣n không thể có, th́ cái thấy này từ đâu mà có?

- Ví như trong gương sáng tuy không có h́nh tượng, mà có thể thấy tất cả h́nh tượng. V́ sao? V́ gương sáng không tâm. Người học đạo nếu tâm không có chỗ nhiễm, vọng tâm chẳng sanh, tâm ngă sở (tâm chấp ḿnh và sự vật của ḿnh) diệt, tự nhiên được thanh tịnh, v́ thanh tịnh nên hay sanh cái thấy này.

Kinh Pháp Cú nói: “Trong cứu kính không, rơ ràng dựng lập, ấy là thiện tri thức.”

*

- Kinh Niết-bàn trong phẩm Kim Cang Thân nói: “không thể thấy mà thấy rơ ràng, không có biết mà không chẳng biết” là thế nào?

- Không thể thấy, v́ cái thể của Tự tánh không h́nh tướng, không thể có, nên nói “không thể thấy”. Song cái thấy không thể được đó, thể nó yên tịnh lặng lẽ, không có tới lui, chẳng ĺa ḍng đời, mà ḍng đời không lôi cuốn được nó, thản nhiên tự tại, tức là thấy rơ ràng.

Không có biết, v́ Tự tánh không h́nh, vốn không phân biệt, nên nói “không có biết”. Không chẳng biết, v́ trong cái thể không phân biệt ấy đầy đủ hằng sa diệu dụng. Hay phân biệt tất cả, th́ không việc ǵ chẳng biết, nên nói “không chẳng biết”. Kệ Bát-nhă nói: “Bát-nhă không biết, không việc ǵ chẳng biết; Bát-nhă không thấy, không chỗ nào chẳng thấy.”

- Kinh nói: “Chẳng thấy có không là chân giải thoát.” Thế nào là chẳng thấy có không?

- Khi chứng được tâm thanh tịnh gọi là có, trong đó chẳng sanh cái tưởng được tâm thanh tịnh, gọi là chẳng thấy có. Được cái tưởng không sanh không trụ, mà không khởi tưởng được không sanh không trụ, gọi là chẳng thấy không, nên nói chẳng thấy có không. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Biết thấy lập biết là gốc vô minh, biết thấy không thấy, đây là Niết-bàn.” Cũng gọi là giải thoát.

*

- Thế nào là không có chỗ thấy?

- Nếu thấy kẻ nam người nữ và tất cả màu sắc h́nh tượng, mà ở trong đó không khởi tâm yêu ghét th́ cùng không thấy chẳng khác, ấy là không có chỗ thấy.

- Khi đối tất cả màu sắc h́nh tượng th́ gọi là thấy, khi chẳng đối màu sắc h́nh tượng cũng gọi là thấy chăng?

- Gọi thấy!

- Khi đối vật là có thấy, khi không đối vật làm sao có thấy?

- Nay nói thấy, không luận đối vật cùng chẳng đối vật. V́ sao? V́ tánh thấy thường hằng, khi có vật th́ thấy vật, khi không vật th́ thấy không. Thế nên biết, vật tự có đi lại, tánh thấy không có đi lại, các căn (tai, mũi, lưỡi, thân…) cũng như vậy.

- Ngay khi thấy vật, trong cái thấy có vật chăng?

- Trong cái thấy chẳng lập vật.

- Ngay khi thấy không vật, trong cái thấy có không vật chăng?

- Trong cái thấy chẳng lập không vật.

*

- Khi có tiếng là có nghe, khi không tiếng lại được nghe chăng?

- Cũng nghe.

- Khi có tiếng là từ tiếng có nghe, khi không tiếng làm sao được nghe?

- Nay nói nghe chẳng luận có tiếng không tiếng. V́ sao? V́ tánh nghe thường hằng. Khi có tiếng liền nghe, khi không tiếng cũng nghe.

- Người nghe như thế là ai?

- Là tánh nghe của ḿnh, cũng gọi là người biết nghe.

*

- Môn đốn ngộ này lấy ǵ làm Tông (chủ)? Lấy ǵ làm Chỉ (chỉ thú)? Lấy ǵ làm Thể? Lấy ǵ làm Dụng?

- Lấy vô niệm (tâm không dấy khởi) làm Tông. Vọng tâm chẳng khởi làm Chỉ. Lấy thanh tịnh làm Thể. Lấy trí làm Dụng.

- Đă nói vô niệm làm Tông, chưa biết vô niệm là vô niệm nào?

- Vô niệm là không tà niệm, chớ chẳng phải không chánh niệm.

- Thế nào là tà niệm? Thế nào là chánh niệm?

- Niệm có, niệm không là niệm tà, chẳng niệm có không là niệm chánh; niệm thiện, niệm ác là niệm tà, chẳng niệm thiện ác là niệm chánh; cho đến niệm khổ vui, sanh diệt, thủ xả, oán thân, yêu ghét thảy đều là niệm tà, chẳng niệm khổ vui… là niệm chánh.

- Thế nào là chánh niệm?

- Chánh niệm là chỉ niệm Bồ-đề.

- Bồ-đề có thể được chăng?

- Bồ-đề không thể được.

- Đă không thể được làm sao chỉ niệm Bồ-đề?

- Bồ-đề chỉ là danh tự giả lập, thật không thể được. Cũng không có trước sau được. V́ không thể được nên không có niệm. Chỉ cái không niệm ấy gọi là chân niệm. Bồ-đề không có chỗ niệm. Không có chỗ niệm tức là tất cả chỗ không tâm, ấy là không có chỗ niệm.

Những lối giải vô niệm như trên, đều là tùy sự phương tiện giả lập danh tự, vẫn đồng một thể, không hai không khác. Cốt biết tất cả chỗ không tâm tức là “vô niệm”. Khi được vô niệm th́ tự nhiên giải thoát.

*

- Thế nào là hành hạnh Phật?

- Chẳng hành tất cả hạnh là hành hạnh Phật, cũng gọi là hạnh chánh, cũng gọi là hạnh Thánh. Như trước đă nói, chẳng hành có không, yêu ghét v.v… ấy vậy. Đại Luật quyển năm phẩm Bồ-tát nói: “Tất cả Thánh nhân chẳng hành hạnh chúng sanh, chẳng hành hạnh chúng sanh là hạnh Thánh.”

*

- Thế nào là chánh kiến?

- Thấy mà không có chỗ thấy là chánh kiến.

- Thế nào thấy mà không có chỗ thấy?

- Khi thấy tất cả sắc không khởi nhiễm trước. Không nhiễm trước th́ không khởi tâm yêu ghét, ấy là thấy mà không có chỗ thấy. Nếu khi được thấy mà không có chỗ thấy gọi là con mắt Phật, trọn không có con mắt khác. Nếu khi thấy tất cả sắc khởi yêu ghét, ấy là có chỗ thấy. Có chỗ thấy là con mắt chúng sanh, trọn không có con mắt khác làm con mắt chúng sanh, cho đến các căn cũng lại như thế.

*

- Nói lấy Trí làm Dụng, thế nào là Trí?

- Biết hai tánh không tức là giải thoát. Biết hai tánh chẳng không, th́ không được giải thoát. Ấy gọi là Trí, cũng gọi là rơ tà chánh, cũng gọi hiểu Thể Dụng. Hai tánh không là Thể, biết hai tánh không là giải thoát. Lại không sanh nghi gọi là Dụng. Nói hai tánh không là chẳng sanh tâm có không, lành dữ, yêu ghét vậy.

*

- Môn này từ đâu mà vào?

- Từ bố thí ba-la-mật mà vào.

- Phật nói sáu pháp ba-la-mật (đến bờ kia hay được cứu kính) là hạnh của Bồ-tát, tại sao ở đây chỉ nói riêng bố thí ba-la-mật th́ đâu thể đầy đủ mà được vào?

- Người mê không biết năm độ kia (tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ) đều nhân bố thí mà sanh. Chỉ tu bố thí th́ sáu pháp đều đầy đủ.

- Bố thí vật ǵ?

- Bố thí là bỏ hai tánh.

- Thế nào là hai tánh?

- Bố thí là bỏ tánh thiện ác, bố thí là bỏ tánh có không, tánh yêu ghét, tánh không chẳng không, tánh định chẳng định, tánh tịnh bất tịnh, tất cả đều cho bỏ hết th́ được hai tánh không. Nếu khi được hai tánh không, cũng chẳng được khởi tưởng hai tánh không, cũng chẳng được khởi nghĩ tưởng có bố thí, tức là chân thật hành bố thí ba-la-mật, cũng gọi là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt, tức là tất cả pháp tánh không ấy vậy. Pháp tánh không là tất cả chỗ không tâm. Nếu khi được tất cả chỗ không tâm là không có một tướng có thể được. V́ sao? V́ Tự tánh không, nên không một tướng có thể được. Không một tướng có thể được là tướng thật. Tướng thật là tướng Như Lai diệu sắc thân. Kinh Kim Cang nói: “Ĺa tất cả các tướng gọi là chư Phật.”

- Phật nói sáu ba-la-mật, tại sao nay chỉ nói một, cho là đầy đủ, xin nói nguyên nhân một gồm đủ sáu pháp?

- Kinh Tư Ích nói: “Ngài Vơng Minh gọi Phạm thiên nói: Nếu Bồ-tát bỏ tất cả phiền năo gọi là Bố thí ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ dính mắc gọi là Tŕ giới ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ xâm phạm gọi là Nhẫn nhục ba-la-mật. Nơi các pháp ĺa tướng gọi là Tinh tấn ba-la-mật. Nơi các pháp không có chỗ trụ gọi là Thiền định ba-la-mật. Nơi các pháp không hí luận (nói tṛ đùa vô nghĩa) là Trí tuệ ba-la-mật.” Đó gọi là sáu pháp. Nay nói sáu pháp này chẳng khác, v́ tóm lược pháp thứ nhất là bỏ, thứ hai là không khởi, thứ ba là không niệm, thứ tư là ĺa tướng, thứ năm là không trụ, thứ sáu là không hí luận. Sáu pháp như thế, tùy việc phương tiện tạm đặt tên, chớ đến chỗ diệu lư th́ không hai không khác. Chỉ biết một bỏ th́ tất cả đều bỏ, không khởi th́ tất cả đều không khởi. Trên đường mê lầm không khế hội ắt cho có sai khác. Người ngu mắc kẹt trong pháp số, nên trôi lăn măi trong sanh tử. Bảo cho các người học đạo, chỉ tu pháp Bố thí là tṛn đầy muôn pháp, huống là năm pháp mà chẳng đủ sao?

*

- Tam học đẳng dụng, cái ǵ là tam học? Thế nào là đẳng dụng?

- Tam học là giới định tuệ.

- Nghĩa giới định tuệ thế nào?

- Thanh tịnh không nhiễm là Giới. Biết tâm chẳng động, đối cảnh vắng lặng là Định. Khi biết tâm chẳng động mà chẳng sanh tưởng chẳng động, khi biết tâm thanh tịnh mà chẳng sanh tưởng thanh tịnh, cho đến thiện ác đều hay phân biệt, mà ở trong ấy không nhiễm, được tự tại, ấy gọi là Tuệ.

Nếu khi biết thể của giới định tuệ đều không thể được, th́ không phân biệt, là đồng một thể, ấy gọi là tam học đẳng dụng.

*

- Nếu khi tâm trụ tịnh, chẳng phải chấp tịnh sao?

- Khi được trụ tịnh, mà chẳng khởi tưởng trụ tịnh, ấy là không chấp tịnh.

- Tâm khi trụ không, chẳng phải chấp không chăng?

- Nếu khởi tưởng không, gọi là chấp không.

- Nếu khi tâm được trụ chỗ không trụ, chẳng phải chấp chỗ không chỗ trụ sao?

- Chỉ cái khởi tưởng không là không có chỗ chấp. Nếu ông muốn thấu rơ, hiểu được tâm không có chỗ trụ, th́ khi ngồi ngay thẳng chỉ biết tâm, chớ suy nghĩ tất cả vật, tất cả thiện ác đều chớ suy nghĩ, v́ việc quá khứ đă đi rồi, chớ suy nghĩ, th́ tâm quá khứ tự bặt, gọi là không việc quá khứ. Việc vị lai chưa đến, chớ mong chớ cầu, th́ tâm vị lai tự bặt, gọi là không việc vị lai. Việc hiện tại đă hiện tại, đối tất cả việc chỉ biết không chấp, không chấp là chẳng khởi tâm yêu ghét, th́ tâm hiện tại bặt, gọi là không việc hiện tại. Không nhiếp thuộc ba thời, cũng gọi không ba thời. Nếu khi tâm khởi đi th́ chớ theo đi, tâm đi tự bặt. Nếu khi tâm khởi đứng cũng chớ theo đứng, tâm đứng tự bặt. Ấy là tâm không trụ, là trụ chỗ không trụ vậy. Nếu tự biết rơ ràng khi trụ nơi trụ, chỉ có vật trụ cũng không có chỗ trụ, cũng chẳng không chỗ trụ.

Nếu tự biết rơ ràng tâm chẳng trụ tất cả chỗ, gọi là rơ ràng thấy được Bản tâm, cũng gọi là rơ ràng thấy tánh vậy. Chỉ cái tâm chẳng trụ tất cả chỗ ấy, tức là tâm Phật, cũng gọi là tâm giải thoát, tâm Bồ-đề, tâm vô sanh, sắc tánh không. Kinh nói: “chứng vô sanh pháp nhẫn” đó vậy.

Nếu ông khi chưa được như thế, phải cố gắng! Cố gắng! Cần dụng công thêm, khi công thành th́ tự hội. Nói hội, là tất cả chỗ không tâm, ấy là hội. Nói không tâm là không cái tâm giả chớ chẳng phải không Tâm chân. Tâm giả là tâm yêu ghét. Tâm chân thật là tâm không yêu ghét. Chỉ không tâm yêu ghét th́ hai tánh không. Hai tánh không th́ tự nhiên giải thoát.

*

- Chỉ lúc ngồi thiền dụng công, khi đi có được dụng công chăng?

- Nay nói dụng công, chẳng riêng khi ngồi, cho đến đi đứng ngồi nằm, làm công việc, trong tất cả thời đều thường dụng công không gián đoạn ấy gọi là thường trụ.

*

- Kinh Phương Quảng nói năm thứ pháp thân:

1. Thật tướng pháp thân

2. Công đức pháp thân

3. Pháp tánh pháp thân

4. Ứng hóa pháp thân

5. Hư không pháp thân.

Ngay nơi thân ḿnh là thân nào?

- Biết tâm chẳng hoại là Thật tướng pháp thân. Biết tâm bao gồm vạn tượng là Công đức pháp thân. Biết tâm không tâm là Pháp tánh pháp thân. Tùy căn cơ ứng nói là Ứng hóa pháp thân. Biết tâm không h́nh không thể được là Hư không pháp thân. Nếu người thấu rơ nghĩa này là biết không chứng. Người không đắc không chứng là chứng Phật pháp thân. Nếu có chứng có đắc, cho là chứng được ấy là người tà kiến tăng thượng mạn, gọi là ngoại đạo. V́ cớ sao? Kinh Duy-ma nói: “Xá-lợi-phất hỏi Thiên nữ: Ngươi đă được pháp ǵ, chứng được pháp ǵ, mà biện được như thế? Thiên nữ đáp: Tôi không được không chứng, mới được như thế; nếu có được có chứng th́ ở trong Phật pháp là người tăng thượng mạn.”

*

- Kinh nói Đẳng giác, Diệu giác, thế nào là Đẳng giác? Thế nào là Diệu giác?

- Tức sắc tức không([32]) gọi là Đẳng giác. V́ hai tánh không, gọi là Diệu giác. Lại nữa không giác, không không giác, gọi là Diệu giác.

- Đẳng giác cùng Diệu giác là khác hay chẳng khác?

- V́ tùy sự phương tiện giả lập hai tên, chớ Bản thể là một không hai không khác, cho đến tất cả pháp đều như vậy cả.

*

- Kinh Kim Cang nói: “không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”, nghĩa đó thế nào?

- Thể của Bát-nhă cứu kính thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy gọi là “không pháp có thể thuyết”. Ngay trong thể không tịch của Bát-nhă, đầy đủ diệu dụng như hằng sa, tức là không việc ǵ chẳng biết, “ấy gọi là thuyết pháp”. Cho nên nói “không pháp có thể thuyết, ấy gọi là thuyết pháp”.

- Kinh nói: “có người thiện nam thiện nữ thọ tŕ đọc tụng kinh này, nếu bị người khinh chê, là người ấy tội nghiệp đời trước lẽ phải sa vào đường ác, do đời nay bị người khinh chê nên tội nghiệp đời trước liền được tiêu diệt, sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, nghĩa đó thế nào?

- Như có người chưa gặp đại thiện tri thức chỉ tạo nghiệp ác, Bản tâm thanh tịnh bị ba độc vô minh che lấp không thể lộ bày, cho nên nói lẽ phải sa vào đường ác. Do đời nay bị người khinh chê, tức là hôm nay phát tâm cầu Phật đạo, khiến vô minh diệt hết, ba độc chẳng sanh, th́ Bản tâm sáng suốt, lại không loạn niệm, các ác hằng dứt sạch nên đời này bị người khinh chê. Vô minh diệt hết, loạn niệm chẳng sanh, th́ tự nhiên giải thoát, nên nói sẽ được Bồ-đề. Chính khi phát tâm gọi là đời này, chẳng phải cách đời.

- Kinh lại nói: “Như Lai có ngũ nhăn” thế là sao?

- Thấy sắc thanh tịnh gọi là Nhục nhăn. Thấy thể thanh tịnh gọi là Thiên nhăn. Đối các cảnh sắc cho đến thiện ác đều hay phân biệt vi tế, không có nhiễm trước, ở trong ấy được tự tại, gọi là Tuệ nhăn. Thấy không có chỗ thấy gọi là Pháp nhăn. Không thấy không không thấy gọi là Phật nhăn.

- Lại, kinh nói Đại thừa Tối thượng thừa, nghĩa ấy thế nào?

- Đại thừa là Bồ-tát thừa, Tối thượng thừa là Phật thừa.

- Tu thế nào để được thừa này?

- Người tu Bồ-tát thừa tức là Đại thừa. Chứng Bồ-tát thừa rồi, lại không khởi quán, đến chỗ không tu, yên tịnh thường lặng lẽ, chẳng thêm chẳng bớt, gọi là Tối thượng thừa, tức là Phật thừa.

*

- Kinh Niết-bàn nói: “Định nhiều tuệ ít chẳng ĺa vô minh, định ít tuệ nhiều thêm lớn tà kiến, định tuệ đồng nhau gọi là giải thoát.” Nghĩa đó thế nào?

- Đối tất cả thiện ác đều phân biệt là tuệ; đối với cái bị phân biệt chẳng khởi yêu ghét, chẳng nhiễm trước nó là định, đây là định tuệ đồng dùng vậy.

- Không bàn không nói gọi là định, chính khi bàn nói được gọi là định chăng?

- Nay nói định, chẳng luận nói cùng chẳng nói, vẫn thường định. V́ sao? V́ khi dùng tánh định nói năng phân biệt th́ nói năng phân biệt cũng là định. Nếu khi dùng tâm Không để quán sắc, th́ lúc quán sắc cũng không. Nếu khi chẳng quán sắc, chẳng nói chẳng phân biệt cũng không. Cho đến thấy nghe hiểu biết cũng như thế. V́ cớ sao? V́ Tự tánh không th́ đối tất cả chỗ đều không. Không th́ không chấp, không chấp là đồng dùng. Bởi Bồ-tát thường dùng pháp đẳng không (cả thảy đều không) như thế nên được đến cứu kính. Cho nên nói “định tuệ đồng nhau gọi là giải thoát”.

Tôi lại v́ ông nói thí dụ để hiển bày, khiến ông tỉnh tỉnh, được hiểu dứt nghi. Ví như gương sáng khi chiếu soi h́nh tượng, ánh sáng của gương có động chăng? - Chẳng động. Lúc chẳng chiếu cũng động chăng? - Chẳng động. Tại sao? - V́ gương sáng dùng ánh sáng vô t́nh chiếu, nên khi chiếu chẳng động, khi chẳng chiếu cũng chẳng động. V́ sao? Bởi trong vô t́nh không có động, cũng không có chẳng động.

Lại như ánh sáng mặt trời khi chiếu thế gian, ánh sáng có động chăng? - Chẳng động. Nếu khi chẳng chiếu có động chăng? - Chẳng động. V́ sao? - V́ ánh sáng kia vô t́nh, dùng ánh sáng vô t́nh chiếu soi, cho nên chẳng động, chẳng chiếu cũng chẳng động. Chiếu đó là tuệ, chẳng động là định.

Nếu Bồ-tát dùng pháp định tuệ đồng ấy th́ được Vô thượng giác. Cho nên nói “định tuệ đẳng dụng tức là giải thoát”. Nói vô t́nh là không phàm t́nh, chẳng phải không Thánh t́nh.

- Thế nào là phàm t́nh? Thế nào là Thánh t́nh?

- Nếu khởi hai tánh (có không, yêu ghét) tức là phàm t́nh. Hai tánh không tức là Thánh t́nh.

*

- Kinh nói: “Bặt đường nói năng, dứt chỗ tâm nghĩ (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).” Nghĩa đó thế nào?

- Dùng lời nói để hiển bày nghĩa, được nghĩa phải bặt lời. Nghĩa tức là không, không tức là đạo, đạo th́ bặt lời, nên nói “bặt đường nói năng”. Dứt chỗ tâm nghĩ là được nghĩa thực tế (thực tại) th́ chẳng khởi quán, v́ chẳng khởi quán nên vô sanh, v́ vô sanh nên tất cả tánh sắc đều không, v́ tánh sắc không nên muôn duyên đều dứt, muôn duyên đều dứt, ấy là “dứt chỗ tâm nghĩ”.

*

- Như như là thế nào?

- Như như là nghĩa chẳng động. Tâm chân như nên gọi là như như. Thế nên biết chư Phật quá khứ hành hạnh này được thành đạo; Phật hiện tại hành hạnh này cũng được thành đạo; Phật vị lai hành hạnh này cũng được thành đạo. Ba đời chư Phật chỗ tu và chứng đạo không khác, nên nói như như. Kinh Duy-ma nói: “Chư Phật cũng như, Di-lặc cũng như, cho đến tất cả chúng sanh thảy đều như.” V́ sao?  - V́ Phật tánh chẳng dứt, bởi có tánh vậy.

*

- Tức sắc tức không, tức phàm tức Thánh, phải đốn ngộ chăng?

- Phải.

- Thế nào là tức sắc tức không, tức phàm tức Thánh?

- Tâm có nhiễm tức sắc, tâm không nhiễm tức không, tâm có nhiễm tức phàm, tâm không nhiễm tức Thánh. Lại, chân không mà diệu hữu là tức sắc, sắc không có thật là tức không. Nay nói không là tánh sắc tự không, chẳng phải sắc diệt mới không. Nói sắc là tánh không tự có sắc, không phải sắc hay làm sắc.

- Kinh nói: Pháp môn tận (hết) vô tận (không hết) là thế nào?

- V́ hai tánh Không nên thấy nghe không sanh là tận (hết). Tận là các lậu (nguyên nhân sanh tử) hết. Vô tận là ở trong thể vô sanh đầy đủ hằng sa diệu dụng, tùy việc ứng hiện thảy đều đầy đủ, mà trong Bản thể cũng không tổn giảm gọi là vô tận. Ấy là pháp môn tận vô tận vậy.

- Tận cùng vô tận, là một hay khác?

- Thể là một, nói th́ có khác.

- Thể là một tại sao nói có khác?

- Một là thể của nói, nói là dụng của thể. V́ tùy sự ứng dụng, nên nói thể đồng mà nói th́ khác. Ví như trên trời có một mặt nhật, dưới đất để các thứ chậu chứa nước đầy, trong mỗi chậu đều thấy có mặt nhật. Các mặt nhật trong chậu thảy đều tṛn đầy cùng mặt nhật trên trời không sai biệt, nên nói thể đồng. V́ tùy chậu đặt tên nên có sai biệt, do đó có khác. Cho nên bảo thể đồng, nói th́ có khác. Các mặt nhật hiện trong chậu đều tṛn đầy, so với mặt nhật chánh trên trời không có thua kém, nên nói “vô tận”.

- Kinh nói: “chẳng sanh chẳng diệt”, pháp ǵ chẳng sanh? pháp ǵ chẳng diệt?

- Pháp ác chẳng sanh, pháp thiện chẳng diệt.

- Thế nào là ác? Thế nào là thiện?

- Tâm nhiễm lậu (ô nhiễm và trầm luân) là ác. Tâm không nhiễm lậu là thiện. Chỉ không nhiễm không lậu th́ pháp ác chẳng sanh. Khi được không nhiễm không lậu th́ thanh tịnh tṛn sáng, lóng yên thường lặng, cứu kính không dời đổi, ấy gọi là pháp thiện chẳng diệt. Đây tức là chẳng sanh chẳng diệt vậy.

*

- Trong Bồ-tát Giới nói: “chúng sanh thọ Phật giới liền vào vị chư Phật, vị đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”, nghĩa này thế nào?

- Phật giới là tâm thanh tịnh đó vậy. Nếu có người phát tâm tu hành hạnh thanh tịnh, được tâm không có chỗ thọ, gọi là thọ Phật giới. Chư Phật đời quá khứ đều tu hạnh không thọ thanh tịnh, được thành Phật đạo. Thời nay có người phát tâm tu hạnh không thọ thanh tịnh th́ cùng chư Phật đồng công đức đẳng dụng không khác, cho nên nói “vào vị chư Phật”. Như thế, được giác ngộ cùng Phật giác ngộ đồng. Cho nên nói “vị đồng bậc Đại giác rồi, mới thật là con Phật”. Từ tâm thanh tịnh sanh trí, trí thanh tịnh gọi là con chư Phật, cũng gọi là thật con Phật.

*

- Nói Phật với Pháp, là Phật có trước hay Pháp có trước? Nếu Pháp có trước th́ Pháp ấy do Phật nào nói? Nếu Phật có trước th́ nương giáo pháp nào được thành  đạo?

- Phật cũng có trước Pháp, cũng có sau Pháp.

- Nhân đâu nói Phật, Pháp có trước sau?

- Nếu căn cứ Pháp tịch diệt mà nói th́ Pháp trước Phật sau. Nếu căn cứ Pháp văn tự mà nói th́ Phật trước Pháp sau. V́ cớ  sao? - V́ tất cả chư Phật đều nhân nơi Pháp tịch diệt mà được thành Phật, tức là Pháp trước Phật sau.

Kinh nói: “Làm thầy chư Phật, ấy là Pháp vậy.” Sau khi thành đạo rồi, Phật mới nói rộng mười hai bộ kinh dẫn dắt giáo hóa chúng sanh, chúng sanh nương nơi pháp Phật giáo hóa tu hành được thành Phật, ấy là Phật trước Pháp sau.

*

- Thế nào là thuyết thông tông chẳng thông?

- Nói và làm trái nhau, tức là thuyết thông tông chẳng thông.

- Thế nào là tông thông thuyết cũng thông?

- Nói và làm không sai biệt, tức là thuyết thông tông cũng thông.

- Kinh nói: “pháp đến chẳng đến, chẳng đến đến” là thế nào?

- Nói đến mà làm chẳng đến, gọi là đến chẳng đến. Làm đến mà nói chẳng đến, gọi là chẳng đến đến. Làm nói đều đến, gọi là đến đến.

*

- Phật pháp chẳng hết hữu vi, chẳng trụ vô vi. Thế nào là chẳng hết hữu vi? thế nào là chẳng trụ vô vi?

- Chẳng hết hữu vi là từ mới phát tâm cho đến ở dưới cội bồ-đề thành Đẳng chánh giác, sau đến Song lâm vào Niết-bàn, trong khoảng giữa đó tất cả pháp đều không bỏ. Ấy là chẳng hết hữu vi.

Chẳng trụ vô vi là tuy tu vô niệm mà chẳng dùng vô niệm làm chỗ chứng. Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm chỗ chứng. Tuy tu Bồ-đề Niết-bàn vô tướng vô tác, mà chẳng dùng vô tướng vô tác làm chỗ chứng. Ấy là chẳng trụ vô vi.

*

- Có địa ngục hay không có địa ngục?

- Cũng có cũng không.

- Tại sao cũng có cũng không?

- V́ tùy tâm tạo tất cả nghiệp ác th́ có địa ngục. Nếu tâm không nhiễm, v́ Tự tánh Không th́ không địa ngục.

*

- Chúng sanh chịu tội có Phật tánh chăng?

- Cũng đồng Phật tánh.

- Đă có Phật tánh th́ chính khi vào địa ngục Phật tánh đồng vào chăng?

- Chẳng đồng vào.

- Vậy chính khi chúng sanh vào địa ngục Phật tánh ở chỗ nào?

- Cũng đồng vào.

- Đă đồng vào th́ khi chúng sanh chịu tội Phật tánh cũng đồng chịu tội chăng?

- Phật tánh tuy theo chúng sanh đồng vào, mà chúng sanh chịu tội khổ, Phật tánh xưa nay vẫn không chịu.

- Đă đồng vào nhân đâu chẳng chịu?

- Chúng sanh là có tướng, có tướng th́ có thành hoại, Phật tánh là không tướng, không tướng th́ Tánh không. Thế nên, tánh chân không không có hoại. Ví như có người chất củi trong hư không, củi lâu ngày bị mục, hư không chẳng mục. Hư không dụ Phật tánh, củi dụ chúng sanh. V́ thế, nói đồng vào mà không đồng chịu.

*

- Chuyển tám thức thành bốn trí, rút bốn trí thành ba thân, vậy mấy thức chung thành một trí, mấy thức riêng thành một trí?

- Mắt tai mũi lưỡi thân, năm thức này chung thành Thành sở tác trí. Ư thức thứ sáu riêng thành Diệu quan sát trí. Tâm thức thứ bảy riêng thành B́nh đẳng tánh trí. Thức hàm tàng thứ tám riêng thành Đại viên cảnh trí.

- Bốn trí này là khác hay đồng?

- Thể đồng mà tên khác.

- Thể đă đồng tại sao tên khác?

- V́ tùy sự đặt tên([33]).

- Đă tùy sự đặt tên th́ khi một thể, cái ǵ là Đại viên cảnh trí?

- Yên tịnh không lặng tṛn sáng chẳng động là Đại viên cảnh trí. Đối các trần không khởi yêu ghét tức là hai tánh Không, hai tánh Không là B́nh đẳng tánh trí. Hay vào cảnh giới các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) khéo phân biệt mà chẳng khởi loạn tưởng, được tự tại là Diệu quan sát trí. Hay khiến các căn tùy sự ứng dụng, thảy vào Chánh định, không có hai tướng là Thành sở tác trí.

- Rút bốn trí làm ba thân, bao nhiêu trí chung làm một thân, bao nhiêu trí riêng làm một thân?

- Đại viên cảnh trí riêng thành Pháp thân. B́nh đẳng tánh trí riêng làm Báo thân. Diệu quan sát trí cùng Thành sở tác trí chung làm Hóa thân. Ba thân này cũng giả lập tên để phân biệt, cốt cho người chưa hiểu xem. Nếu người liễu đạt lư này cũng không có ba thân ứng dụng. V́ sao? V́ Thể tánh không tướng, từ gốc không trụ mà lập, cũng không có gốc không trụ.

*

- Thế nào là thấy chân thân Phật?

- Chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật.

- Thế nào là chẳng thấy có không, là thấy chân thân Phật?

- Có nương nơi không mà lập, không nương nơi có mà hiển bày, vốn chẳng lập có th́ không đâu c̣n. Đă chẳng c̣n không th́ có từ đâu mà có. Có với không làm nhân cho nhau mà có. Đă làm nhân cho nhau mà có th́ thảy đều sanh diệt. Chỉ ĺa hai cái thấy này, tức là thấy chân thân Phật.

- Có Không c̣n không thể được, huống là dựng lập chân thân, th́ căn cứ vào đâu mà lập?

- V́ có hỏi nên lập. Nếu khi không hỏi th́ tên chân thân cũng không thể lập. V́ sao? Ví như gương sáng nếu khi đối vật tượng tức hiện h́nh tượng, nếu khi chẳng đối vật tượng trọn chẳng thấy h́nh tượng.

*

- Thế nào là thường chẳng rời Phật?

- Tâm không khởi diệt, đối cảnh vắng lặng, trong tất cả thời cứu kính không tịch, tức là thường chẳng rời Phật.

*

- Thế nào là pháp vô vi?

- Là hữu vi vậy.

- Nay hỏi pháp vô vi nhân sao đáp hữu vi?

- Hữu nhân vô mà lập, vô nhân hữu mà hiển. Vốn chẳng lập hữu th́ vô từ đâu mà sanh. Nếu luận về chân vô vi là chẳng chấp hữu vi cũng chẳng chấp vô vi, ấy là pháp chân vô vi. V́ cớ sao? Kinh nói: “Nếu chấp tướng pháp là chấp ngă nhân, nếu chấp tướng phi pháp là chấp ngă nhân. Thế nên, chẳng nên chấp pháp, chẳng nên chấp phi pháp” tức là được chân pháp vậy. Nếu thấu rơ được lư này là chân giải thoát, là hội được pháp môn bất nhị.

- Thế nào là nghĩa trung đạo?

- Nghĩa hai bên vậy.

- Nay hỏi nghĩa trung đạo, tại sao đáp nghĩa hai bên?

- Hai bên nhân giữa mà lập, giữa nhân hai bên mà sanh. Trước nếu không có hai bên th́ giữa từ đâu mà có? Nay nói giữa là nhân hai bên mà có. Cho nên biết, giữa cùng hai bên nhân nhau mà lập, thảy đều vô thường, sắc thọ tưởng hành thức cũng lại như thế.

*

- Thế nào gọi là năm ấm?

- Đối sắc nhiễm sắc, theo sắc thọ sanh, gọi sắc ấm. V́ lănh nạp vào trong tám gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc), ưa tập những thứ tin tà, từ trong sự lănh thọ mà sanh, gọi là thọ ấm. Mê tâm chấp tưởng, theo tưởng thọ sanh, gọi là tưởng ấm. Kết nhóm các hành, theo hành thọ sanh, gọi là hành ấm. Nơi thể b́nh đẳng vọng khởi phân biệt dính mắc, theo thức thọ sanh, gọi là thức ấm. Thế nên gọi là năm ấm.

*

- Kinh nói: hai mươi lăm cơi, thế nào là hai mươi lăm cơi?

- Là thọ thân đời sau vậy. Thân đời sau là thọ sanh trong sáu đường. V́ chúng sanh hiện đời tâm mê ưa kết các nghiệp, sau ắt theo nghiệp thọ sanh, cho nên nói đời sau.

- Ở đời nếu có người chí tâm tu hành được cứu kính giải thoát, chứng vô sanh pháp nhẫn, hằng ĺa tam giới chẳng thọ thân sau. Người không thọ thân sau là chứng Pháp thân. Pháp thân tức là thân Phật.

- Tên hai mươi lăm cơi làm sao phân biệt?

- Bản thể là một, v́ tùy dụng đặt tên nên có rơ ràng hai mươi lăm cơi. Hai mươi lăm cơi là mười điều ác, mười điều lành và năm ấm.

- Thế nào là mười điều ác, mười điều lành?

- Mười điều ác là: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác và tham, sân, tà kiến. Mười điều lành là ngược lại chẳng làm mười điều ác trên.

*

- Trước nói vô niệm mà tôi chưa thông tột?

- Vô niệm là ở tất cả chỗ mà không tâm, không tất cả cảnh, không có những nghĩ cầu, đối các cảnh sắc hằng không khởi động. Được vô niệm gọi là chân niệm. Nếu dùng niệm khởi nghĩ làm niệm là tà niệm, chẳng phải chánh niệm. V́ sao? V́ kinh nói: “Nếu dạy người lục niệm (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm Thiên) gọi là phi niệm.” Có lục niệm gọi là tà niệm. Không lục niệm gọi là chân niệm. Kinh nói: “Này thiện nam! Chúng ta trụ trong pháp vô niệm được sắc vàng ba mươi hai tướng như thế, phóng hào quang lớn soi khắp các thế giới, công đức không thể nghĩ bàn, Phật c̣n nói chẳng hết, huống là các thừa mà có thể biết.”

Người được vô niệm, sáu căn không nhiễm, tự nhiên được vào Tri kiến chư Phật. Được như thế, gọi là Phật tạng (kho tàng Phật) cũng gọi là Pháp tạng (kho tàng Pháp) hay bao gồm tất cả Phật, tất cả Pháp. V́ cớ sao? V́ vô niệm vậy. Kinh nói: “Tất cả chư Phật đều từ Kinh này xuất sanh.”

- Đă bảo vô niệm th́ câu “vào tri kiến Phật” từ đâu mà lập?

- Từ vô niệm lập. V́ sao? Kinh nói: “Từ gốc vô trụ lập tất cả Pháp.” Lại nói: “Ví như gương sáng, trong gương tuy không h́nh tượng mà hay hiện muôn vàn h́nh tượng. V́ sao? V́ gương sáng nên hay hiện muôn vàn h́nh tượng.” Người học đạo do tâm không nhiễm nên vọng niệm chẳng sanh, tâm ngă nhân diệt, cứu kính thanh tịnh, v́ thanh tịnh hay sanh tri kiến vô lượng.

*

- Thế nào là đốn ngộ([34])?

- Đốn ngộ là ngay trong đời này được giải thoát. Làm sao mà biết? Ví như sư tử con, khi mới lọt ḷng mẹ quả nhiên là sư tử. Người tu đốn ngộ cũng như thế, ngay khi tu liền vào vị Phật. Như tre mùa xuân sanh măng, cũng ngay trong mùa xuân măng bằng tre, đồng không có khác. V́ cớ sao? V́ trong ruột trống. Người tu đốn ngộ cũng như thế. V́ chóng trừ vọng niệm hằng dứt ngă nhân, cứu kính không tịch, cùng Phật bằng nhau, đồng không có khác. Cho nên nói: “Ngay nơi phàm là Thánh.” Người tu đốn ngộ chẳng rời thân này liền vượt tam giới. Kinh nói: “Chẳng hoại thế gian mà vượt khỏi thế gian, chẳng xả phiền năo mà vào Niết-bàn.”

- Người không tu đốn ngộ th́ thế nào?

- Người không tu đốn ngộ, ví như dă can nhập bầy sư tử, trải trăm ngàn kiếp trọn chẳng được thành sư tử.

*

- Tánh chân như là thật không hay thật chẳng không? Nếu nói chẳng không tức là có tướng. Nếu nói không tức là đoạn diệt. Tất cả chúng sanh phải nương vào đâu tu hành để được giải thoát?

- Tánh chân như cũng không cũng chẳng không. V́ sao? V́ Diệu thể chân như không h́nh không tướng không thể được, nên nói cũng không. Song trong thể Không vô tướng đầy đủ diệu dụng hằng sa, không việc ǵ chẳng ứng hiện, nên nói cũng chẳng không. Kinh nói: “Hiểu một tức ngàn theo, mê một tức muôn lầm.” Nếu người giữ một th́ muôn việc đều xong, ấy là diệu thuật ngộ đạo. Kinh nói: “Sum la và vạn tượng đều do một pháp ấn hiện. Thế nào trong một pháp mà sanh các thứ kiến? V́ công nghiệp như thế do hành làm gốc.”

*

Nếu người chẳng chịu hàng phục tâm, y cứ văn nghĩa mà cho là chứng ngộ th́ không thể có. Người chấp như thế, là dối ḿnh dối người, ḿnh người đều đọa. Phải cố gắng! Cố gắng! Xét nét kỹ càng. Chỉ việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm, người được như thế, liền vào Niết-bàn, chứng vô sanh pháp nhẫn, cũng gọi là pháp môn bất nhị, cũng gọi vô tránh, cũng gọi nhất hạnh tam-muội. V́ cớ sao? V́ cứu kính thanh tịnh, không ngă không nhân, chẳng khởi thương ghét, là hai tánh không, là không có chỗ thấy, tức là hoàn tất cái Chân như vô đắc.

*

Quyển luận này chẳng truyền cho người không tin, chỉ truyền cho người đồng kiến đồng hạnh. Phải xem xét người đối trước có tâm thành tín, kham lănh thọ không lui sụt, người như thế mới nên v́ họ mà nói, chỉ dạy khiến cho họ được ngộ. Tôi làm quyển luận này là v́ người hữu duyên, chẳng phải cầu danh lợi.

Chư Phật nói ra ngàn kinh muôn luận, chỉ v́ chúng sanh mê muội, tâm hạnh chẳng đồng, tùy chỗ tà chấp của họ mà nói pháp đối trị, nên có sai biệt. Nếu luận về lư giải thoát cứu kính chỉ là việc đến chẳng nhận, tất cả chỗ không tâm, hằng lặng lẽ như không, cứu kính thanh tịnh tự nhiên giải thoát.

Ông chớ cầu hư danh miệng nói Chân như, mà tâm tợ khỉ vượn, tức lời nói việc làm trái nhau, gọi là dối ḿnh, sẽ sa vào đường ác. Chớ cầu cái khoái lạc hư danh nhất thời, mà chẳng biết nhiều kiếp phải chịu họa ương. Cố gắng! Cố gắng! Chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Nếu Phật hay độ chúng sanh, th́ chư Phật thời quá khứ số nhiều như cát bụi, lẽ ra tất cả chúng sanh đều được độ hết, v́ sao chúng ta đến ngày nay vẫn c̣n trôi lăn trong sanh tử, không được thành Phật? Thế nên biết, chúng sanh phải tự độ, Phật không thể độ được. Cố gắng! Cố gắng! Tự ḿnh lo tu hành, chớ ỷ lại vào sức Phật khác. Kinh nói: “Phàm người cầu pháp chẳng chấp trước Phật mà cầu.”

*

- Ở đời sau, có những nhóm tạp học, làm sao cùng ở chung?

- Chỉ ḥa ánh sáng kia, chẳng đồng nghiệp kia, đồng chỗ mà chẳng đồng ở. Kinh nói: “Tùy lưu (trôi theo) mà tánh thường vậy.” Người học đạo cần yếu phải nghĩ “ḿnh v́ đại sự nhân duyên là việc giải thoát, thảy đều chẳng dám khinh người chưa học, kính người ḿnh học như Phật, chẳng đề cao đức của ḿnh, chẳng đố kỵ điều hay của người, tự xét nét hạnh của ḿnh, chẳng ḍm dỏ lỗi của người”, th́ ở tất cả chỗ đều không bị chướng ngại, tự nhiên được khoái lạc.

Lặp lại kệ rằng:

Nhẫn nhục đạo thứ nhất,
Trước phải trừ ngă nhân,
Việc đến không thọ nhận,
Là thân chân Bồ-đề.

Kinh Kim Cang nói: “Người thông đạt pháp vô ngă, Như Lai gọi là Bồ-tát chân thật.” Lại nói: “Chẳng thủ lại chẳng xả, hằng đoạn được sanh tử, tất cả chỗ không tâm, gọi là con chư Phật.” Kinh Niết-bàn nói: “Như Lai chứng Niết-bàn hằng đoạn dứt sanh tử.”

Kệ rằng:

Nay ta ư thật rất tốt,
Khi người chê mắng chẳng buồn,
Không lời chẳng nói phải quấy,
Niết-bàn sanh tử đồng đường.
Hiểu thấu bản tông nhà ḿnh,
Vẫn là không có xanh đen,
Tất cả vọng tưởng phân biệt,
Vả biết người đời chẳng rơ.
Gởi lời phàm phu đời sau,
Dẹp hết trong tâm rơm cỏ,
Nay ta ư rất thênh thang,
Chẳng nói, không việc, tâm an.
Thong dong, tự tại, giải thoát,
Đông tây dời đổi dễ dàng,
Trọn ngày không nói lặng yên,
Niệm niệm hướng lư nghĩ xét.
Tự nhiên tiêu dao thấy đạo,
Sanh tử quyết chẳng liên quan,
Nay ta ư thật lạ kỳ,
Chẳng đến trên đời luống dối.
Vinh hoa thảy là giả tạm,
Áo rách cơm hẩm đủ no,
Đi đường gặp người biếng nói,
Người đời đều gọi ta ngu.
Ngoài hiện ngu ngơ ám độn,
Trong tâm sáng tợ lưu-ly,
Thầm hợp La-hầu mật hạnh,
Chẳng phải phàm phu kham biết.

Tôi e các ông chẳng hội thấu lư chân giải thoát nên lại chỉ bày các ông.

*

- Kinh Duy-ma nói: “Muốn được tịnh độ phải tịnh tâm ấy.” Thế nào là tịnh tâm?

- Dùng cái tịnh cứu kính làm tịnh.

- Thế nào là dùng cái tịnh cứu kính làm tịnh?

- Không tịnh cũng không không tịnh, tức là tịnh cứu kính.

- Thế nào là không tịnh cũng không không tịnh?

- Tất cả chỗ không tâm là tịnh, khi được tịnh mà chẳng khởi tưởng tịnh, gọi là không tịnh. Khi được không tịnh cũng không được khởi tưởng không tịnh, gọi là không không tịnh.

*

- Người tu hành lấy cái ǵ làm chứng?

- Lấy cái chứng cứu kính làm chứng.

- Thế nào là cái chứng cứu kính?

- Không chứng cũng không không chứng, gọi là chứng cứu kính.

- Thế nào là không chứng và không không chứng?

- Ở ngoài không nhiễm sắc, thanh v.v… bên trong tâm không khởi vọng niệm, được như thế gọi là chứng. Khi được chứng mà không khởi tưởng chứng, gọi là không chứng. Khi được không chứng cũng không khởi tưởng không chứng, gọi là không không chứng.

*

- Thế nào là tâm giải thoát?

- Không tâm giải thoát, cũng không không tâm giải thoát, gọi là chân giải thoát. Kinh nói: “Pháp c̣n phải xả hà huống phi pháp.” Pháp là có, phi pháp là không, chỉ chẳng chấp có không là chân giải thoát.

*

- Thế nào đắc đạo?

- Dùng cái đắc cứu kính làm đắc.

- Thế nào là cái đắc cứu kính?

- Không đắc cũng không không đắc, gọi là đắc cứu kính.

*

- Thế nào là Không cứu kính?

- Chẳng Không cũng chẳng chẳng Không gọi là Không cứu kính.

*

- Thế nào là Chân như định?

- Không định cũng không không định gọi là Chân như định. Kinh nói: “Không có pháp định gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không pháp định Như Lai có thể nói.” Kinh nói: “Tuy tu Không mà chẳng lấy Không làm chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Không. Tuy tu Định mà chẳng lấy Định làm chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Định. Tuy được Tịnh mà chẳng lấy Tịnh làm chứng, cũng chẳng được khởi tưởng Tịnh.”

Nếu khi được định, được tịnh, được tất cả chỗ không tâm, liền khởi tưởng được như thế, đều là vọng tưởng, liền bị ràng buộc không thể nói là giải thoát. Nếu khi được như thế, rơ ràng tự biết, được tự tại, mà chẳng được cho thế là chứng, cũng chẳng được khởi tưởng như thế là được giải thoát. Kinh nói: “Nếu khởi tâm tinh tấn là vọng không phải tinh tấn. Nếu người hay trong tâm chẳng vọng là tinh tấn không có bờ mé.”

*

- Thế nào là trung đạo?

- Không khoảng giữa cũng không hai bên là trung đạo.

- Thế nào là hai bên?

- Có tâm kia, có tâm này là hai bên.

- Thế nào là tâm kia tâm này?

- Bên ngoài dính với sắc thanh gọi là tâm kia. Bên trong khởi vọng niệm là tâm này. Nếu bên ngoài không nhiễm sắc, gọi là không tâm kia. Bên trong không khởi vọng niệm, gọi là không tâm này. Thế nên không phải hai bên. Tâm đă không hai bên th́ giữa cũng đâu có được. Được như thế gọi là trung đạo. Thật là Như Lai đạo. Như Lai đạo là tất cả người giác được giải thoát. Kinh nói: “Hư không chẳng giữa chẳng hai bên, thân chư Phật cũng vậy.” Nhưng tất cả sắc không, là tất cả chỗ không tâm vậy. Tất cả chỗ không tâm tức tất cả sắc tánh không. Hai nghĩa chẳng khác, cũng gọi sắc không, cũng gọi pháp sắc không.

Nếu ông ĺa “tất cả chỗ không tâm”, mà được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn tịch diệt, thiền định kiến tánh, th́ không thể nào có. “Tất cả chỗ không tâm” tức là được Bồ-đề giải thoát, Niết-bàn tịch diệt, cho đến lục độ đều là chỗ kiến tánh. V́ cớ sao? Kinh Kim Cang nói: “Không có một chút pháp có thể được, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

*

- Nếu có tu tất cả hạnh đầy đủ thành tựu được thọ kư chăng?

- Chẳng được.

- Nếu không tu tất cả pháp thành tựu, được thọ kư chăng?

- Chẳng được.

- Nếu thế ấy, phải do pháp ǵ được thọ kư?

- Chẳng do có hành, cũng chẳng do không hành, là được thọ kư. V́ cớ sao? Kinh Duy-ma nói: “Các hạnh tánh tướng đều vô thường.” Kinh Niết-bàn nói: “Phật bảo Ca-diếp, các hạnh là thường, không có lẽ phải.” Ông chỉ tất cả chỗ không tâm, là không có hạnh, cũng không không các hạnh, gọi là thọ kư. Nói tất cả chỗ không tâm, là không tâm yêu ghét vậy. Nói không yêu ghét, là thấy việc tốt chẳng khởi tâm yêu; thấy việc xấu cũng chẳng sanh tâm ghét.

Không yêu gọi là không tâm nhiễm, chính là sắc tánh không. Sắc tánh không tức là muôn duyên đều bặt. Muôn duyên đều bặt th́ tự nhiên được giải thoát.

Ông phải xét kỹ đó, nếu khi chưa được tỉnh sáng thấu rơ, th́ phải hỏi sớm chớ có bỏ qua. Các ông nếu y theo lời dạy đây tu, mà chẳng được giải thoát, tôi xin trọn đời thay các ông chịu tội trong đại địa ngục. Nếu tôi lừa dối các ông, sau này tôi sanh nơi nào sẽ bị sư tử, cọp, sói ăn thịt. Các ông nếu chẳng y theo lời dạy đây siêng năng tu hành th́ không bảo đảm. Một phen mất thân này muôn kiếp khó được lại. Phải cố gắng! cố gắng! Cần phải tự biết.


 

GHI LỜI

SƯ ĐÁP CÁC NGƯỜI ĐẾN HỎI VÀ DẠY CHÚNG

Sư bảo học chúng:

- Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể dạy người, không phiền các ngươi đứng lâu, hăy tự đi đi!

Tuy vậy mà học chúng dần dần thêm đông, ngày đêm thưa hỏi. Sư bất đắc dĩ v́ hỏi giải đáp, biện tài không ngại.

*

Có vài vị Pháp sư đến hỏi:

- Định hỏi một câu, Thầy có vui ḷng đáp chăng?

Sư bảo:

- Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ư ṃ bắt([35]).

- Thế nào là Phật?

- Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là ǵ([36])?

Các vị ấy đều ngơ ngác, không biết ǵ cả. Giây lâu có vị lại hỏi:

- Thầy nói pháp ǵ độ người?

- Bần đạo chưa từng có một pháp ǵ độ người.

- Thiền sư nhà tối như thế?

- Đại đức nói pháp ǵ độ người?

- Giảng kinh Kim Cang Bát-nhă.

- Giảng được bao nhiêu lần?

- Hơn hai mươi lần.

- Kinh này ai nói?

Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt:

- Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao?

- “Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật, người ấy không hiểu nghĩa ta nói” (kinh Kim Cang). Nếu nói kinh này không phải Phật nói tức là phỉ báng kinh. Thỉnh Đại đức nói xem?

Pháp sư im lặng không đáp được.

Chốc lát, Sư lại hỏi:

- Kinh nói: “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Đại đức hăy nói cái ǵ là Như Lai?

- Đến chỗ này tôi mê hẳn.

- Từ trước đến giờ chưa từng ngộ nói cái ǵ là mê?

- Thỉnh Thiền sư v́ tôi nói.

- Đại đức giảng kinh hơn hai mươi lượt, lại chưa biết Như Lai?

Pháp sư lễ bái cầu xin chỉ dạy.

Sư bảo:

- Như Lai là nghĩa Như của các pháp, đâu thể quên được.

- Phải là nghĩa Như của các pháp.

- Đại đức nói, phải cũng chưa phải.

- Văn kinh rơ ràng đâu thể chưa phải?

- Đại đức Như chăng?

- Như.

- Cây đá Như chăng?

- Như.

- Đại đức Như, đồng cây đá Như chăng?

- Không hai.

- Đại đức cùng cây đá đâu khác?

Pháp sư không đáp được. Lại khen: “Đây là thượng nhân khó đối đáp được.” Giây lâu lại hỏi:

- Thế nào được đại Niết-bàn?

- Chẳng tạo nghiệp sanh tử.

- Thế nào là nghiệp sanh tử?

- Cầu đại Niết-bàn là nghiệp sanh tử, bỏ nhơ lấy sạch là nghiệp sanh tử, có đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.

- Thế nào là được giải thoát?

- Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải thoát, dùng thẳng, hành thẳng là Vô đẳng đẳng (Phật không ai so bằng gọi là vô đẳng, chư Phật đồng nhau gọi là đẳng. Vô đẳng đẳng là chỉ cho Phật).

Pháp sư khen:

- Thiền sư như Ḥa thượng thật là ít có.

Khen xong, Pháp sư lễ tạ lui ra.

*

Có vị cư sĩ đến hỏi:

- Tức tâm tức Phật, cái ǵ là Phật?

Sư bảo:

- Ông nghi cái ǵ không phải Phật chỉ ra xem?

Cư sĩ lặng thinh.

Sư nói tiếp:

- Đạt th́ khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ th́ hằng trái xa.

*

Có Luật sư hiệu Pháp Minh đến nói:

- Các Thiền sư phần nhiều rơi vào không.

Sư bảo:

- Trái lại, các Tọa chủ phần nhiều rơi vào không.

Pháp Minh hoảng sợ hỏi:

- Tại sao rơi vào không?

- Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không (duyên hợp không thể), dù là trên tiếng dựng lập danh, cú, văn, thân đâu chẳng phải là không. Tọa chủ bám chặt vào giáo thể, đâu chẳng rơi vào không.

- Thiền sư rơi vào không chăng?

- Chẳng rơi vào không.

- Sao lại chẳng rơi vào không?

- Văn tự v.v… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không.

- Cho biết một pháp không đạt, chẳng gọi là “Tất-đạt”.

- Luật sư chẳng những rơi vào không, lại c̣n dùng lầm danh ngôn.

Pháp Minh đổi sắc mặt hỏi:

- Lầm chỗ nào?

- Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn làm sao giảng thuyết?

- Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.

- Đâu chẳng biết “Tất-đạt” là tiếng Phạn sao[37]?

Pháp Minh tuy nhận thấy lỗi, mà tâm vẫn c̣n giận, lại hỏi:

- Phàm Kinh, Luật, Luận là lời Phật, đọc tụng, y giáo phụng hành, sao chẳng thấy tánh?

- Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là tự tánh dụng, người đọc tụng là tánh pháp.

- Phật A-di-đà có cha mẹ và họ chăng?

- Phật A-di-đà họ Kiều-thi-ca, cha tên Nguyệt Thượng, mẹ tên Thù Thắng Diệu Nhan.

- Xuất phát từ kinh điển nào?

- Xuất phát từ tập đà-la-ni.

Pháp Minh lễ tạ khen ngợi lui ra.

*

Có vị Pháp sư thông tam tạng đến hỏi:

- Chân như có biến đổi chăng?

Sư đáp:

- Có biến đổi.

- Thiền sư lầm.

- Đại đức có Chân như chăng?

- Có.

- Nếu không biến đổi quyết định là Phàm tăng. Đâu chẳng nghe “thiện tri thức hay chuyển ba độc thành ba nhóm tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu thần thông, chuyển phiền năo thành Bồ-đề, chuyển vô minh thành đại trí”? Chân như nếu không biến đổi, Đại đức thật là ngoại đạo, chủ trương tự nhiên vậy.

- Nếu vậy Chân như tức có biến đổi?

- Nếu chấp Chân như có biến đổi cũng là ngoại đạo.

- Thiền sư vừa nói Chân như có biến đổi, giờ lại nói không biến đổi, vậy thế nào thật đúng?

- Nếu người thấy tánh rơ ràng như hạt minh châu ma-ni hiện sắc, nói biến đổi cũng được, nói không biến đổi cũng được. Nếu người không thấy tánh nghe nói Chân như biến đổi bèn hiểu biến đổi, nghe nói không biến đổi bèn hiểu không biến đổi.

Pháp sư khen:

- Nên biết Nam tông (thiền đốn ngộ miền Nam) không thể lường.

*

Đồ đệ đạo Lăo đến hỏi:

- Thế gian có pháp nào vượt hơn tự nhiên chăng?

Sư đáp:

- Có.

- Pháp ǵ hơn được?

- Hay biết tự nhiên vậy.

- Nguyên khí là Đạo chăng?

- Nguyên khí tự nguyên khí, đạo tự đạo.

- Nếu như thế ắt phải có hai?

- Biết, không hai người.

- Thế nào là tà, thế nào là chánh?

- Tâm theo vật là tà, vật theo tâm là chánh.

*

Luật sư Nguyên đến hỏi:

- Ḥa thượng tu có dụng công chăng?

Sư đáp:

- Dụng công.

- Dụng công thế nào?

- Khi đói th́ ăn, khi mệt th́ ngủ.

- Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của Thầy chăng?

- Chẳng đồng.

- Tại sao chẳng đồng?

- Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đ̣i trăm thứ cần dùng; khi ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện, do đó chẳng đồng.

Nguyên im lặng.

*

Đại đức Uẩn Quang đến hỏi:

- Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng?

Sư đáp:

- Chưa từng tử đâu cần luận sanh. Biết sanh tức là pháp không sanh, chẳng ĺa pháp sanh nói pháp không sanh. Tổ sư nói: “Chính cái sanh tức không sanh.”

- Người không thấy tánh cũng được như vậy chăng?

- Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. V́ sao? V́ thấy tức là tánh, không tánh th́ không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là Pháp tánh, cũng gọi là Pháp thân. Tổ sư Mă Minh nói: “Nói là pháp tức tâm chúng sanh. Nếu tâm sanh nên tất cả pháp sanh, nếu tâm không sanh th́ pháp không nương đâu sanh, cũng không danh tự.” Người mê chẳng biết Pháp thân không h́nh tượng, hay ứng vật hiện h́nh, bèn nói: “Trúc biếc xanh xanh đều là Pháp thân, hoa vàng mịt mịt thảy đều Bát-nhă” (thanh thanh thúy trúc tổng thị Pháp thân, uất uất hoàng hoa vô phi Bát-nhă). Hoa vàng nếu là Bát-nhă, Bát-nhă tức đồng vô t́nh. Trúc biếc nếu là Pháp thân, Pháp thân tức đồng cây cỏ. Như người ăn măng tức ăn Pháp thân. Những lối nói như thế đâu thể kể chép hết. Đối diện mê Phật nhiều kiếp mong cầu, trong pháp thể mà mê lầm chạy t́m kiếm bên ngoài. Thế nên, người hiểu đạo đi đứng ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp.

- Hư không hay sanh linh tri chăng? Chân tâm duyên thiện ác chăng? Người tham dục là đạo chăng? Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng? Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng? Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng? Người ôm ḷng khinh người có ngă chăng? Người chấp không chấp hữu có trí chăng? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người ĺa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật. Những người này hợp đạo chăng? Thỉnh Thiền sư mỗi mỗi v́ đáp.

- Hư không chẳng sanh linh tri, Chân tâm chẳng duyên thiện ác, người ch́m sâu trong tham dục căn cơ cạn, người phải quấy lăng xăng chưa thông, người xúc cảnh sanh tâm ít định, người yên lặng quên hết là tuệ ch́m, người khinh người cao mạn là ngă mạn, người chấp không chấp có đều ngu, người tầm văn thủ chứng thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê, ĺa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm là Phật là ma.

- Nếu như thế th́ rốt ráo không thể có?

- Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không thể có.

Uẩn Quang vui mừng lễ tạ lui ra.

*

Sư thượng đường dạy chúng:

- Các ngươi may mắn tự khéo giữ cái vô sự. Kẻ nhọc nhằn tạo tác là mang cùm sa ngục chớ ǵ? Mỗi ngày từ sáng đến tối bôn ba nói: “ta tham thiền học đạo, hiểu thấu Phật pháp”, như thế càng không dính dáng ǵ. Chỉ chạy theo thanh sắc biết bao giờ dứt. Bần đạo xưa đến tham vấn Ḥa thượng ở Giang Tây (Mă Tổ), Ḥa thượng dạy: “Kho báu nhà của ngươi đầy đủ tất cả, sử dụng tự tại chẳng nhờ cầu bên ngoài.” Bần đạo từ đây thảy thôi, của báu của ḿnh tùy thân thọ dụng, có thể nói sống thích thú, không một pháp có thể thủ, không một pháp có thể xả, chẳng thấy một pháp có tướng sanh diệt, chẳng thấy một pháp có tướng qua lại, khắp mười phương thế giới không một hạt bụi nào mà chẳng phải của báu nhà ḿnh. Chỉ quan sát kỹ càng tâm ḿnh một thể Tam Bảo thường tự hiện trước, không thể nghi ngờ. Chớ suy xét, chớ t́m kiếm, tâm tánh xưa nay thanh tịnh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, nếu hay hiểu biết như thế, chư Phật thường hiện tiền.” Kinh Tịnh Danh nói: “Quán thân thật tướng, quán Phật cũng vậy.” Nếu chẳng theo thanh sắc mà động niệm, chẳng theo tướng mạo mà sanh hiểu, tự nhiên vô sự. Đi! Chớ đứng lâu. Trân trọng!

Hôm nay đại chúng nhóm họp măi không giải tán.

Sư hỏi:

- Các ngươi v́ cớ sao ở đây măi không đi? Bần đạo đă đối diện tŕnh nhau, lại chịu thôi chăng? Có việc ǵ khả nghi, chớ lầm dụng tâm uổng phí khí lực. Nếu có nghi ngờ, các ngươi tùy ư thưa hỏi.

Có vị hiệu Pháp Uyên hỏi:

- Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng, thế nào là một thể Tam Bảo? Xin Thầy từ bi chỉ dạy.

Sư đáp:

- Tâm là Phật chẳng cần đem Phật cầu Phật, tâm là Pháp chẳng cần đem pháp cầu pháp. Phật, Pháp ḥa hợp không hai là Tăng, tức là một thể Tam Bảo. Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh cả ba không khác.” Thân khẩu ư thanh tịnh gọi là Phật ra đời, ba nghiệp không thanh tịnh gọi là Phật diệt độ. Ví như khi giận th́ không vui, khi vui th́ không giận, chỉ một tâm thật không hai thể. Bản trí sẵn vậy, vô lậu hiện tiền, như rắn hóa thành rồng không đổi vảy, chúng sanh hồi tâm thành Phật chẳng đổi mặt. Tánh vốn thanh tịnh chẳng đợi tu thành, có chứng có tu tức đồng người tăng thượng mạn. Chân không chẳng kẹt, ứng dụng không cùng, không thủy không chung. Người lợi căn đốn ngộ dụng vô đẳng đẳng tức là A-nậu-bồ-đề (Vô thượng Chánh giác). Tâm không h́nh tướng tức là sắc thân vi diệu. Không tướng tức là thật tướng Pháp thân, thể tánh tướng đều không tức là thân hư không vô biên. Muôn hạnh trang nghiêm, tức là công đức Pháp thân. Pháp thân này là gốc của muôn hóa, tùy chỗ đặt tên: Trí dụng không hết gọi là Vô tận tạng (kho vô tận), hay sanh muôn pháp gọi là Bản pháp tạng (kho gốc các pháp), đủ tất cả trí gọi là Trí tuệ tạng (kho trí tuệ), muôn pháp về Như gọi là Như Lai tạng (kho Như Lai). Kinh nói: “Như Lai đó, tức nghĩa Như của các pháp.” Lại nói: “Tất cả pháp sanh diệt thế gian không có một pháp chẳng về Như.”

*

Có vị khách hỏi:

- Đệ tử chưa biết Luật sư, Pháp sư, Thiền sư vị nào hơn cả, cúi xin Ḥa thượng từ bi chỉ dạy?

Sư đáp:

- Luật sư là người mở pháp tạng Tỳ-ni (luật), truyền nề nếp làm mạng sống, thấu suốt Tŕ phạm thông đạt Khai giá, giữ oai nghi để làm mô phạm, phổ cáo ba phen yết-ma để làm nhân sơ khởi cho bốn quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán). Nếu chẳng phải là hàng trưởng lăo đức dày th́ đâu kham đảm trách.

- Pháp sư là người ngồi ṭa sư tử, biện luận thông như nước chảy, đối với nhiều người đông chúng soi thấu cổng huyền, mở cửa Bát-nhă nhiệm mầu, b́nh đẳng bố thí tam luân không tịch. Nếu chẳng phải là hàng long tượng làm sao dám đảm đương.

- Thiền sư là người nắm được then chốt của đạo, thấu suốt nguồn tâm, ra vào co duỗi, tung hoành tùy vật ứng hiện; sự lư thảy đồng, chóng thấy Như Lai, nhổ gốc sâu sanh tử, được tam-muội hiện tiền. Nếu chẳng phải người an thiền tịnh lự đến chỗ ấy thảy đều mờ mịt.

Tùy căn cơ thọ lănh pháp tu, ba môn học tuy khác mà được ư quên lời th́ đồng Nhất thừa đâu sai biệt. Cho nên kinh nói: “Trong cơi Phật ở mười phương, chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, chỉ tạm mượn danh tự, để dẫn đường cho chúng sanh.” (kinh Pháp Hoa)

Khách thưa:

- Ḥa thượng thâm đạt ư chỉ của Phật, được biện tài vô ngại.

Lại hỏi thêm:

- Tam giáo Nho, Đạo, Thích là đồng hay khác?

Sư đáp:

- Người đại lượng dùng đó th́ đồng. Kẻ tiểu cơ cố chấp th́ khác. Thảy đều từ trên một tánh khởi dụng, tùy căn cơ thấy sai biệt thành ba, mê ngộ do người, chẳng phải tại giáo đồng hay khác.

*

Pháp sư Đạo Quang chuyên giảng Duy thức đến hỏi:

- Thiền sư dùng tâm nào tu đạo?

Sư đáp:

- Lăo tăng không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu.

- Đă không tâm có thể dùng, không đạo có thể tu, tại sao mỗi ngày họp chúng khuyên người học thiền tu đạo?

- Lăo tăng c̣n không có chút đất cắm dùi th́ chỗ nào họp chúng lại. Lăo tăng c̣n không có lưỡi th́ đâu từng khuyên dạy người.

- Thiền sư đối diện mà nói dối.

- Lăo tăng c̣n không có lưỡi khuyên người th́ đâu biết nói dối.

- Thật tôi không hiểu lời luận nghị của Thiền sư.

- Lăo tăng tự cũng chẳng hội.

*

Pháp sư Chí chuyên giảng kinh Hoa Nghiêm đến hỏi:

- Tại sao chẳng nhận “trúc biếc xanh xanh đồng là Pháp thân, hoa vàng mịt mịt thảy đều Bát-nhă”?

Sư đáp:

- Pháp thân không tướng, ứng hiện trong trúc biếc thành h́nh, Bát-nhă vô tri đối với hoa vàng mà hiển tướng, chẳng phải trúc biếc hoa vàng kia có Pháp thân Bát-nhă. Kinh nói: “Chân Pháp thân của Phật giống như hư không, ứng vật hiện h́nh như trăng trong nước.” Hoa vàng nếu là Bát-nhă, Bát-nhă tức đồng vô t́nh. Trúc biếc nếu là Pháp thân, trúc biếc lại hay ứng dụng. Tọa chủ hội chăng?

- Chẳng rơ ư này.

- Nếu người thấy tánh nói phải cũng được, nói chẳng phải cũng được, tùy dụng mà nói, chẳng kẹt phải quấy. Nếu người chẳng thấy tánh nói trúc biếc th́ chấp trúc biếc, nói hoa vàng th́ chấp hoa vàng, nói Pháp thân th́ kẹt Pháp thân, nói Bát-nhă mà chẳng biết Bát-nhă. Do đó mà trở thành tranh luận.

Pháp sư Chí lễ tạ lui ra.

*

Có người hỏi:

- Đem tâm tu hành bao lâu được giải thoát?

Sư đáp:

- Đem tâm tu hành ví như lấy bùn lỏng rửa nhơ. Bát-nhă huyền diệu vốn tự không sanh, đại dụng hiện tiền chẳng luận thời tiết.

- Phàm phu cũng được như thế chăng?

- Người thấy tánh th́ chẳng phải phàm phu, đốn ngộ thượng thừa th́ đă siêu phàm vượt Thánh. Người mê luận phàm bàn Thánh, người ngộ siêu vượt sanh tử Niết-bàn, người mê nói sự nói lư, người ngộ đại dụng cùng khắp. Người mê cầu đắc cầu chứng, người ngộ không đắc không cầu. Người mê hẹn kiếp xa sẽ chứng, người ngộ chóng thấy liền.

*

Pháp sư giảng kinh Duy-ma đến hỏi:

- Kinh nói: “Lục sư ngoại đạo kia v.v… là thầy của ngươi, nhân kia xuất gia, thầy kia bị đọa ngươi cũng theo đó mà đọa. Người thí cho ngươi chẳng gọi phước điền, cúng dường cho ngươi đọa trong ba đường ác. Chê Phật, hủy Pháp, chẳng vào số chúng, trọn chẳng được diệt độ. Ngươi nếu như thế mới nên nhận thức ăn” (kinh Duy-ma). Thỉnh Thiền sư v́ giải thích.

Sư đáp:

- Người mê chạy theo sáu căn gọi là Lục sư, ngoài tâm cầu Phật gọi là ngoại đạo, thấy có vật để thí chẳng gọi phước điền, sanh tâm nhận cúng dường đọa ba đường ác. Ngươi nếu hay chê bai Phật là chẳng đắm cầu Phật, hủy báng Pháp là chẳng đắm cầu Pháp, chẳng vào số chúng là chẳng đắm cầu Tăng, trọn chẳng được diệt độ là trí dụng hiện tiền. Nếu có người hay hiểu được như thế liền được thức ăn thiền duyệt pháp hỉ.

Có vị cư sĩ đến hỏi:

- Có người hỏi Phật đáp Phật, hỏi Pháp đáp Pháp, bảo là pháp môn một chữ, chẳng biết phải chăng?

Sư đáp:

- Như chim Anh vơ học nói tiếng người, tự nói chẳng đặng, v́ không trí tuệ. Ví như đem nước rửa nước, đem lửa đốt lửa, trọn không có nghĩa lư ǵ.

*

Có người hỏi:

- Ngôn với ngữ là đồng hay khác?

Sư đáp:

- Là một. Bởi v́ lời nói (ngôn) thành câu gọi là ngữ. Vả như biện luận thao thao, ví tợ như nước chảy trong sông lớn, lời hay chồng chập, như hạt châu nghiêng để trong đồ tṛn, mở rộng tên vạn tượng như nước chảy, chia chẻ nghĩa nhiều như biển cả, đó là ngữ vậy. Ngôn là một chữ hiện bày của tâm. Ở trong chứa huyền vi, bên ngoài hiện diệu tướng, muôn việc khuấy rối mà chẳng loạn, trong đục lẫn lộn mà thường phân biệt. Vua Tề vẫn c̣n hổ thẹn lời của Đại phu, Bồ-tát Văn-thù c̣n khen ngợi câu nói của Tịnh Danh, th́ người thường làm sao hiểu nổi.

*

Luật sư  Nguyên đến hỏi:

- Thiền sư thường nói: “tức tâm là Phật”, không hợp lư. Vả lại, Bồ-tát Nhất Địa phân thân ở trăm thế giới chư Phật, Nhị Địa tăng lên gấp mười. Thiền sư thử hiện thần thông xem?

Sư đáp:

- Chính ḿnh Xà-lê là phàm hay Thánh?

- Là phàm.

- Đă là Phàm tăng sao lại hỏi cảnh giới như thế? Kinh nói: “nhân giả tâm có cao thấp, chẳng y nơi trí tuệ Phật”, đây là thế.

- Thiền sư mỗi ngày bảo: Nếu ngộ đạo th́ thân hiện tiền liền được giải thoát, cũng không hợp lư.

- Có người trọn đời làm lành, bỗng nhiên ăn cắp đồ người cầm trong tay, ngay khi ấy thân này phải thân kẻ cắp chăng?

- Phải.

- Hiện nay thấy tánh rơ ràng, tại sao không được giải thoát?

- Đời nay hẳn không được, phải trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp (ba vô số kiếp) mới được.

- A-tăng-kỳ kiếp lại có số chăng?

Nguyên lên giọng bảo:

- Đem kẻ cắp so với giải thoát, được thông đạo lư chăng?

Sư đáp:

- Xà-lê tự chẳng hiểu đạo, không thể chướng tất cả người hiểu, con mắt ḿnh chẳng mở, không thể chướng tất cả người thấy vật.

Nguyên đổi sắc vừa đi vừa nói:

- Lăo già hỗn tạp vô đạo.

Sư bảo:

- Chính đường đi đó là đạo của ông.

*

Pháp sư Tuệ chuyên giảng Chỉ Quán đến hỏi:

- Thiền sư biện biệt được ma chăng?

Sư bảo:

- Khởi tâm là thiên ma, chẳng khởi tâm là ấm ma, hoặc khởi chẳng khởi là phiền năo ma. Trong chánh pháp ta không có việc như thế.

- Nhất tâm tam quán, nghĩa thế nào?

- Tâm quá khứ th́ đă qua, tâm vị lai th́ chưa đến, tâm hiện tại th́ không trụ, ở trong đó lại dùng tâm nào để quán?

- Thiền sư chẳng hiểu Chỉ Quán.

- Tọa chủ hiểu chăng?

- Hiểu.

- Như Trí Giả đại sư nói Chỉ để phá Chỉ, nói Quán để phá Quán, trụ Chỉ th́ ch́m trong sanh tử, trụ Quán th́ tâm thần loạn. Thế là, phải đem tâm Chỉ tâm, hay khởi tâm Quán để quán? Nếu có tâm quán là pháp thường kiến, nếu không tâm quán là pháp đoạn kiến, cũng có cũng không là pháp nhị kiến. Thỉnh Tọa chủ xét kỹ nói xem?

- Nếu hỏi như thế đều không thể nói được.

- Vậy th́ đâu từng Chỉ Quán.

*

Có người hỏi:

- Bát-nhă lớn chăng?

Sư đáp:

- Lớn.

- Lớn bằng chừng nào?

- Không có ngằn mé.

- Bát-nhă nhỏ chăng?

- Nhỏ.

- Nhỏ bằng chừng nào?

- Xem chẳng thấy.

- Chỗ nào là Bát-nhă?

- Chỗ nào chẳng phải Bát-nhă?

*

Pháp sư giảng kinh Duy-ma hỏi:

- Chư Bồ-tát mỗi vị nhập pháp môn Bất nhị, ngài Duy-ma lặng thinh là cứu kính chăng?

            Sư đáp:

- Chưa phải cứu kính. Thánh ư nếu tột th́ đến quyển ba lại nói việc ǵ?

Pháp sư im lặng giây lát, thưa:

- Thỉnh Thiền sư v́ tôi nói ư chưa cứu kính.

Sư bảo:

- Căn cứ trong kinh th́ quyển nhất là “dẫn chúng gọi mười vị đại đệ tử trụ tâm”. Quyển hai là “chư Bồ-tát mỗi vị nói nhập pháp môn Bất nhị, dùng lời nói để hiển bày không lời; ngài Văn-thù dùng không lời để hiển bày không lời; ngài Duy-ma chẳng dùng lời chẳng dùng không lời, cho nên lặng thinh để thâu ngôn ngữ ở trước”. Quyển ba là “từ chỗ lặng thinh khởi nói, lại hiển thần thông tác dụng”. Tọa chủ hội chăng?

- Thật là kỳ quái, đúng thế!

- Cũng chưa đúng thế.

- Tại sao chưa đúng thế?

- Vả lại, v́ để phá t́nh chấp của người nên nói như thế. Nếu y cứ ư kinh th́ chỉ nói sắc tâm không tịch khiến người thấy Bản tánh, dạy bỏ hạnh giả vào hạnh thật, chớ nhằm trên ngôn ngữ giấy mực mà thảo luận suy tính, cốt hội được hai chữ Tịnh Danh là đủ. Tịnh là Bản thể. Danh là tích dụng. Từ Bản thể khởi tích dụng, từ tích dụng trở về Bản thể. Thể và dụng không hai. Bản (xưa) và tích (nay) không khác. Do đó, cổ nhân nói: “Bản (xưa) tích (nay) tuy khác, chẳng nghĩ bàn là một vậy. Một cũng chẳng phải một.” Nếu hiểu hai chữ Tịnh Danh là giả hiệu, lại nói cái ǵ cứu kính cùng chẳng cứu kính? Không trước không sau, chẳng phải gốc chẳng phải ngọn, chẳng phải Tịnh chẳng phải Danh, v́ chỉ bày cho chúng sanh Bản tánh bất tư ngh́ giải thoát. Nếu người không thấy tánh, trọn đời chẳng thấy được lư này.

*

Có vị Tăng hỏi:

- Muôn pháp trọn không, thức tánh cũng vậy. Ví như bong bóng nước một khi tan th́ không hợp lại. Thân này chết chẳng sanh trở lại tức là rỗng không th́ chỗ nào mà có thức tánh?

 Sư đáp:

- Bong bóng nhân nước mà có, bong bóng tan đâu thể không nước. Thân nhân tánh mà có, thân chết đâu thể nói tánh diệt.

- Đă nói có tánh, thử đem ra xem?

- Ông tin có ngày hôm qua chăng?

- Tin.

- Ông đem ngày hôm qua đến xem?

- Ngày hôm qua thật là có, nhưng mà hiện giờ không thể đem đến được.

- Ngày hôm qua không thể đem đến được, chẳng phải không ngày hôm qua, ông tự không thấy tánh, chẳng phải không có tánh. Nay thấy mặc y, ăn cơm, đi, đứng, ngồi, nằm đối diện mà chẳng biết, đáng gọi là ngu mê. Ông muốn thấy ngày hôm qua th́ cùng ngày nay chẳng khác. Đem tánh đi t́m tánh muôn kiếp trọn chẳng thấy, cũng như có người chẳng thấy mặt trời, chẳng phải mặt trời không có.

*

Pháp sư chuyên giảng Thanh Long sớ đến hỏi:

- Kinh nói: “Không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp.” Thiền sư thể hội như thế nào?

Sư đáp:

- V́ thể Bát-nhă cứu kính thanh tịnh, không có một vật có thể được, ấy gọi là “không pháp”. Ở trong thể không tịch của Bát-nhă đủ diệu dụng như hà sa, là không việc ǵ chẳng biết, ấy gọi là “nói pháp”. Cho nên nói: “Không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp.”

*

Pháp sư giảng kinh Hoa Nghiêm hỏi:

- Thiền sư tin vô t́nh là Phật chăng?

Sư đáp:

- Chẳng tin. Nếu vô t́nh là Phật th́ người sống chẳng bằng người chết, lừa chết chó chết lẽ ra hơn người sống. Kinh nói: “Phật thân tức là Pháp thân, từ giới định tuệ mà sanh, từ Tam minh Lục thông mà sanh, từ tất cả pháp lành mà sanh.” Nếu nói vô t́nh là Phật, Đại đức hiện giờ chợt chết liền thành Phật rồi.

*

Có Pháp sư hỏi:

- Tŕ kinh Bát-nhă công đức rất nhiều, Thầy có tin chăng?

Sư đáp:

- Chẳng tin.

- Nếu vậy sự linh nghiệm truyền lại hơn mười quyển đều không thể tin sao?

- Người sống giữ hiếu tự có cảm ứng, không phải xương trắng hay có cảm ứng. Kinh là chữ giấy mực, chữ giấy mực tánh nó không, th́ chỗ nào có linh nghiệm? Sự linh nghiệm tại người tŕ kinh dụng tâm nên thần thông cảm vật. Thử đem một quyển kinh để trên bàn không có người thọ tŕ, tự nó có linh nghiệm chăng?

*

Có vị Tăng hỏi:

- Chưa biết tất cả danh tướng và pháp tướng, nói cùng với nín, thế nào thông hội liền không có trước sau?

Sư đáp:

- Khi một niệm khởi xưa nay không tướng không danh, làm sao được nói có trước sau? Chẳng rơ danh tướng vốn tịnh, vọng chấp có trước sau. Cổng danh tướng khóa, chẳng phải ch́a khóa trí th́ không thể mở. Hễ nói Trung đạo th́ bệnh tại Trung đạo, nói hai bên th́ bệnh tại hai bên. Chẳng biết hiện dụng là Pháp thân Vô đẳng đẳng (Phật). Mê ngộ được mất là pháp của người thường, tự khởi sanh diệt, chôn vùi chánh trí. Hoặc đoạn phiền năo, hoặc cầu Bồ-đề đều là chối bỏ Bát-nhă.

*

Có người hỏi:

- Luật sư cớ sao chẳng tin thiền?

Sư đáp:

- V́ lư sâu kín khó hiển bày, danh tướng dễ giữ. Người không thấy tánh nên chẳng tin thiền. Nếu người thấy tánh gọi đó là Phật, người biết Phật mới hay tin vào, Phật chẳng xa người mà người xa Phật. Phật là tâm tạo, mà người mê căn cứ trong văn tự để t́m. Người ngộ nhằm nơi tâm mà giác, người mê tu nhân đợi quả. Người ngộ thấu rơ tâm không tướng, người mê chấp vật giữ cái ngă làm ḿnh. Người ngộ Bát-nhă ứng dụng hiện tiền, người ngu chấp không chấp có sanh kẹt. Người trí thấy tánh liễu tướng linh thông. Hàng càn tuệ (tuệ khô) biện luận mỏi miệng, bậc đại trí thấu suốt Bản thể tâm an vui. Bồ-tát chạm vật soi tỏ, Thanh văn sợ cảnh làm mờ tâm. Người ngộ hằng ngày được vô sanh, người mê hiện tiền cách xa Phật.

*

Có người hỏi:

- Thế nào được thần thông?

Sư đáp:

- Thần tánh linh thông khắp giáp thế giới như cát bụi núi sông đá vách qua lại không ngại, trong sát-na đi muôn dặm, qua lại không dấu vết, lửa không thể đốt, nước không thể ch́m. Người ngu tự không tâm trí muốn thân tứ đại này được bay trong hư không. Kinh nói: “Phàm phu chấp tướng tùy nghi v́ họ nói: Tâm không h́nh tướng tức là sắc thân vi diệu; không tướng tức là tướng thật, tướng thật th́ thể nó không, gọi là thân hư không vô biên, muôn hạnh trang nghiêm nên gọi là Pháp thân công đức.” Chính Pháp thân này là gốc của muôn hạnh, tùy công dụng đặt tên, nói thật chỉ có Pháp thân thanh tịnh.

*

Có người hỏi:

- Kẻ nhất tâm tu hành th́ nghiệp chướng đời quá khứ được tiêu diệt chăng?

Sư đáp:

- Người không thấy tánh chưa được tiêu diệt. Nếu người thấy tánh như mặt trời rọi sương tuyết. Lại người thấy tánh, ví như gom cỏ bằng ngọn núi Tu-di chỉ dùng một đóm lửa là cháy rụi. Nghiệp chướng như cỏ, trí tuệ như lửa.

- Thế nào biết được nghiệp chướng hết?

- Hiện tiền tâm thông th́ việc sanh trước sau đều thông. Ví như nh́n thấy Phật trước Phật sau, muôn pháp đồng thời. Kinh nói: “Một niệm biết tất cả pháp là đạo tràng v́ thành tựu Nhất thiết trí.”

*

Có vị cư sĩ hỏi:

- Thế nào được trụ chánh pháp?

Sư đáp:

- Cầu trụ chánh pháp là tà. V́ cớ sao? V́ pháp không có tà chánh.

- Làm sao được thành Phật?

- Chẳng cần bỏ tâm chúng sanh, cốt đừng ô nhiễm tánh ḿnh. Kinh nói: “Tâm, Phật và chúng sanh cả ba đều không sai biệt.”

- Nếu hiểu như thế được giải thoát chăng?

- Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải. Pháp vượt ngoài ngôn ngữ văn tự, chẳng dùng trong câu số mà cầu; pháp chẳng phải quá khứ hiện tại vị lai, không thể do trong nhân quả mà khế hội; pháp vượt tất cả, không thể so sánh; pháp thân không h́nh tượng, ứng vật hiện h́nh, chẳng rời thế gian mà cầu giải thoát.

*

Có vị Tăng hỏi:

- Cái ǵ là Bát-nhă?

Sư bảo:

- Ngươi nghi cái ǵ không phải Bát-nhă, thử nói xem?

- Thế nào được thấy tánh?

- Thấy tức là tánh, không tánh th́ không thể thấy.

- Thế nào là tu hành?

- Cốt đừng ô nhiễm Tự tánh tức là tu hành, chớ tự lừa dối là tu hành, đại dụng hiện tiền tức là Pháp thân Vô đẳng đẳng (Phật).

- Trong tánh có ác chăng?

- Trong đây thiện c̣n chẳng lập.

- Thiện ác đều chẳng lập, đem tâm dùng vào chỗ nào?

- Đem tâm dùng tâm là đại điên đảo.

- Làm thế nào mới phải?

- Không làm thế nào, cũng không phải.

*

Có người hỏi:

- Có người chèo thuyền, lườn thuyền cọ chết con ốc con hến, là người chịu tội hay thuyền chịu tội?

Sư đáp:

- Người thuyền cả hai đều không tâm, tội chính tại ông. Ví như cuồng phong thổi găy cây hại mạng, mà không có người làm, không có người chịu, nhưng trong thế giới đâu không phải là chỗ chúng sanh chịu khổ.

*

Có vị Tăng hỏi:

- Chưa biết “thế thác t́nh” (gởi t́nh), “thế chỉ cảnh”, “thế nói nín”, cho đến “thế nhướng mày chớp mắt” v.v…, làm sao được thông hội ở trong khoảng một niệm?

Sư đáp:

- Không có việc ngoài tánh. Người dụng diệu th́ động yên đều diệu. Người tâm chân th́ nói nín thảy chân. Người hội đạo th́ đi đứng ngồi nằm đều là đạo. V́ mê Tự tánh nên muôn lầm phát sanh.

- Thế nào là pháp có tông chỉ?

- Tùy chỗ kia lập liền có các nghĩa. Ngài Văn-thù nơi gốc vô trụ lập tất cả pháp.

- Chẳng đồng thái hư chăng?

- Ngươi sợ đồng thái hư chăng?

- Sợ.

- Cái biết sợ là chẳng đồng thái hư.

- Chỗ nói không thể đến, làm sao được hiểu?

- Nay chính khi ngươi nói, nghi chỗ nào chẳng đến.

*

Có hơn mười vị Túc đức đồng đến hỏi:

- Kinh nói: “phá diệt Phật pháp”, chưa biết Phật pháp có thể phá diệt chăng?

Sư đáp:

- Phàm phu ngoại đạo bảo Phật pháp có thể phá diệt, người Nhị thừa bảo Phật pháp không thể phá diệt, trong chánh pháp của tôi không có hai cái thấy này. Nếu luận về chánh pháp chẳng những phàm phu ngoại đạo, cho đến hàng Nhị thừa chưa đến vị Phật cũng là người ác.

- Pháp chân, pháp huyễn, pháp không, pháp chẳng không mỗi thứ có chủng tánh chăng?

- Pháp tuy không có chủng tánh, ứng vật đều hiện. Tâm huyễn nên tất cả pháp đều huyễn, nếu có một pháp chẳng huyễn th́ huyễn ắt có định. Tâm không, nên tất cả đều không, nếu có một pháp chẳng không th́ nghĩa không chẳng lập. Khi mê th́ người theo pháp, lúc ngộ th́ pháp do người. Như sum la vạn tượng đến không là tột, trăm sông các ḍng đến biển là tột. Tất cả Hiền Thánh đến Phật là tột. Mười hai phần kinh, năm bộ Tỳ-ni (luật), năm Vi-đà luận (luận) đến tâm là tột. Tâm là gốc diệu của tổng tŕ, là nguồn lớn của muôn pháp, cũng gọi là kho đại trí tuệ, vô trụ Niết-bàn, trăm ngàn muôn tên thảy là tên khác của tâm mà thôi.

- Thế nào là huyễn?

- Huyễn không có tướng nhất định, như ṿng lửa quay, như thành Càn-thát-bà, như người gỗ bằng máy, như sóng nắng, như hoa giữa hư không, đều không có pháp thật. 

- Sao gọi là thầy đại huyễn?

- Tâm gọi là thầy đại huyễn. Thân là thành đại huyễn. Danh tướng là đồ ăn mặc của đại huyễn. Thế giới nhiều như cát bụi không có việc ǵ ngoài huyễn. Phàm phu chẳng biết huyễn, nơi nơi mê nghiệp huyễn. Thanh văn sợ cảnh huyễn, mờ tâm vào tịch diệt. Bồ-tát biết pháp huyễn, đạt thể huyễn, chẳng câu nệ tất cả danh tướng. Phật là thầy đại huyễn, xoay bánh xe pháp đại huyễn, thành Niết-bàn đại huyễn, chuyển sanh diệt huyễn, được chẳng sanh chẳng diệt, chuyển cơi ô uế như cát bụi thành pháp giới thanh tịnh.

*

Có vị Tăng hỏi:

- Tại sao chẳng chịu tụng kinh, mà gọi là “khách ngữ” (kẻ học nói)?

Sư đáp:

- Như chim Anh vơ chỉ học tiếng người mà không hiểu ư người. Kinh là truyền ư Phật, chẳng nhận được ư Phật mà chỉ tụng, ấy là người học ngữ. Do đó nên chẳng chịu tụng kinh.

- Không thể ĺa văn tự ngôn ngữ mà riêng có ư?

- Ngươi nói như thế cũng là học ngữ.

- Đồng là ngôn ngữ sao Thầy chẳng nhận lời tôi?

- Ngươi hăy lắng nghe, trong kinh có đoạn văn rất rơ ràng: “Ta nói ra là nghĩa ngữ mà chẳng phải văn, chúng sanh nói ra là văn ngữ mà chẳng phải nghĩa, người được ư vượt ngoài lời, người ngộ lư vượt ngoài văn tự, pháp vượt ngôn ngữ văn tự, đâu thể nhằm trên câu văn mà cầu.” Thế nên, người phát Bồ-đề th́ được ư quên lời, ngộ lư mà lờ kinh, cũng như được cá quên nôm, được thỏ bỏ bẫy.

*

Có Pháp sư hỏi:

- Niệm Phật là “hữu tướng Đại thừa”, ư Thiền sư thế nào?

Sư đáp:

- Vô tướng vẫn chẳng phải Đại thừa, huống là hữu tướng. Kinh nói: “phàm phu chấp tướng” tùy nghi v́ họ nói.

- Nguyện sanh Tịnh độ, chưa biết thật có Tịnh độ chăng?

- Kinh nói: “Muốn được Tịnh độ phải tịnh tâm kia, tùy tâm kia tịnh tức Phật độ tịnh.” Nếu tâm thanh tịnh th́ chính chỗ ở hiện giờ là Tịnh độ. Ví như sanh trong nhà Quốc vương, nhất định nối nghiệp Quốc vương. Phát tâm hướng Phật đạo là sanh nơi cơi Phật tịnh. Tâm kia nếu chẳng tịnh th́ chính chỗ ở hiện giờ là uế độ. Tịnh và uế độ là tại tâm chẳng phải tại cơi nước.

- Mỗi ngày nghe nói đạo, chưa biết người nào hay thấy?

- Người có tuệ nhăn hay thấy.

- Rất thích Đại thừa làm sao học được?

- Ngộ là được, chẳng ngộ là chẳng được.

- Làm sao được ngộ?

- Phải quán kỹ.

- Giống vật ǵ?

- Giống không vật.

- Thế nào là rốt ráo Không?

- Không chẳng rốt ráo.

- Thế nào là Hữu?

- Hữu mà không tướng.

- Chẳng ngộ làm sao?

- Đại đức tự chẳng ngộ, chẳng phải tại người làm chướng ngại.

- Phật pháp ở nơi ba mé (trong ngoài giữa) chăng?

- Thấy tại vô tướng chẳng ở ngoài nơi ấy, ứng dụng không cùng, chẳng ở tại trong, chặng giữa không có chỗ trụ, ba mé không thể được.

- Câu đáp này rất hỗn tạp.

- Chính khi Thầy nói hai chữ “hỗn tạp” là ở trong ở ngoài chăng?

- Đệ tử xét nghiệm trong ngoài không dấu vết.

- Nếu không dấu vết th́ biết rơ lời nói từ trước đến giờ không có hỗn tạp.

- Thế nào được làm Phật?

- Tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật.

- Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh có vào chăng?

- Như hiện nay chính khi làm ác lại có lành chăng?

- Không.

- Chúng sanh vào địa ngục, Phật tánh cũng như thế.

- Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là thế nào?

- Tạo dụng Phật là tánh Phật, tạo dụng kẻ cướp là tánh cướp, tạo dụng chúng sanh là tánh chúng sanh. Tánh không h́nh tướng, tùy dụng đặt tên. Kinh nói: “Tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt.” (kinh Kim Cang)

*

Có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là Phật?

Sư đáp:

- Rời ngoài tâm th́ không có Phật.

- Thế nào là Pháp thân?

- Tâm là Pháp thân, nghĩa là hay sanh muôn pháp nên gọi là Pháp giới thân. Luận Khởi Tín nói: “Nói là pháp đó, nghĩa là tâm chúng sanh, tức y tâm này hiển bày nghĩa Đại thừa.”

- Thế nào là nói có quyển kinh lớn trong hạt bụi nhỏ?

- Trí tuệ là quyển kinh lớn. Kinh nói: “Có quyển kinh lớn lượng bằng thế giới tam thiên đại thiên, ở trong một hạt bụi nhỏ.” Một hạt bụi là một niệm tâm trần vậy. Cho nên nói “trong một niệm trần nói ra hà sa bài kệ, người đời tự chẳng biết”.

- Sao gọi là thành đại nghĩa? Sao gọi là Vua đại nghĩa?

- Thân là thành đại nghĩa. Tâm là Vua đại nghĩa. Kinh nói: “Người đa văn giỏi về nghĩa, mà chẳng giỏi về nói năng, nói năng là sanh diệt, nghĩa chẳng sanh diệt, nghĩa không h́nh tướng, ngoài lời nói năng. Tâm là quyển kinh lớn, tâm là Vua nghĩa lớn. Nếu người chẳng biết tâm rành rơ th́ không gọi là giỏi nghĩa, chỉ là người học ngữ.”

- Kinh Bát-nhă nói: “độ chín loài chúng sanh đều vào Vô dư Niết-bàn”, lại nói “thật không chúng sanh được diệt độ”, hai đoạn văn kinh này làm sao thông hội? Người xưa và người nay đều nói “thật độ chúng sanh mà không chấp tướng chúng sanh”. Tôi vẫn c̣n nghi, thỉnh Thầy v́ tôi giải nghi.

- Chín loài chúng sanh trong một thân đầy đủ, tùy tạo nghiệp tùy thành quả. Vô minh là noăn sanh (sanh bằng trứng), phiền năo bao bọc ở trong là thai sanh (sanh bằng bào thai), nước ái đượm nhuần là thấp sanh (sanh chỗ ẩm ướt), chợt khởi phiền năo là hóa sanh (từ loài này hóa sanh loài khác). Ngộ liền là Phật, mê gọi là chúng sanh. Bồ-tát chỉ dùng tâm niệm niệm làm chúng sanh. Nếu thấu rơ niệm niệm nơi tâm, thể nó đều không, gọi là độ chúng sanh. Người trí căn cứ trên bản tế (tâm) của ḿnh mà độ. Lúc chưa thành h́nh, chưa thành h́nh đă không, th́ biết thật không chúng sanh được diệt độ.

Có vị Tăng hỏi:

- Ngôn ngữ là tâm chăng?

Sư đáp:

- Ngôn ngữ là duyên chẳng phải tâm.

- Ĺa duyên cái ǵ là tâm?

- Ĺa ngôn ngữ không tâm.

- Ĺa ngôn ngữ đă không tâm, vậy cái ǵ là tâm?

- Tâm không h́nh tướng, chẳng ĺa ngôn ngữ, chẳng phải chẳng ĺa ngôn ngữ, tâm thường lặng lẽ, ứng dụng tự tại. Tổ sư nói: “Nếu thấu rơ tâm phi tâm, mới hiểu tâm tâm pháp.”

*

Có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là định tuệ đồng học?

Sư đáp:

- Định là thể, tuệ là dụng, từ định khởi tuệ, từ tuệ về định, như nước với sóng, một thể lại không có trước sau, gọi là định tuệ đồng học. Phàm kẻ xuất gia chớ t́m lời theo câu, đi đứng ngồi nằm đều là tánh dụng của ngươi, th́ có chỗ nào cùng đạo không tương ưng? Hăy tự nhất thời thôi dứt đi, nếu chẳng theo gió ngoại cảnh th́ nước tánh thường tự lặng lẽ.

Vô sự, trân trọng!


 

Tuyển giả: THIÊN CƠ

TRUYỀN GIA BẢO

THIỀN TÔNG TRỰC CHỈ


 

THIỀN TÔNG TRỰC CHỈ

A.- Mật truyền tham thiền yếu pháp

Hạ thủ công phu tu thiền, điều cốt yếu thứ nhất phải lập chí vững chắc. Bởi v́ chí là vị nguyên soái của khí lực. Nếu người lập chí vững chắc, như thống lănh trăm vạn quân, uy thế dậy trời, c̣n việc ǵ chẳng thành. Người hay sợ khó là tại lập chí không vững. Người chạy theo cảnh cũng tại lập chí không vững. Người nghe chê khen bèn dời đổi, giữa đường tự lùi, trước siêng sau lười, đều là chí không vững. Tôi thường tuyển đọc sách Tâm Pháp, mở đầu sách đă thấy nói: “Lập chí nếu vững đổi khó thành dễ.” Nay đối với công phu tu thiền cũng như thế.

Chí vững th́ sự ắt thành, tôi mượn việc đời để bàn điều này, ví như vua Việt phục thù vua Ngô, Trương Lương trả hận nước Hàn, Địch Nhân Kiệt tái hưng nhà Đường, thảy đều do chí quyết định mà việc được thành công đúng sở nguyện. Phật pháp cũng như thế.

Ngạn ngữ nói: “Người nam không chí như sắt lụt không cứng, người nữ không chí như cỏ thối không tươi.” Công phu tu thiền chí này rất là tối yếu.

Đại sư Trung Phong ca rằng:

Cũng không khó cũng không dễ,
Chỉ quí nam nhi có thật chí,
Thật chí sức đạo mới vững mạnh,
Sức mạnh tiến đạo như tṛ chơi.

Đây là phương pháp ứng nghiệm vậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ. Cần biết, phàm phu một niệm giác, tức một niệm là Phật. Phật một niệm chẳng giác, tức một niệm là phàm phu. Bởi v́ giác tức là Phật, Phật tức là giác. Phật với phàm phu chỉ tại giác cùng chẳng giác mà thôi.

Tâm người có giác tức là có Phật. Giác hay mở cửa lục độ, hay vượt qua kiếp hải ba a-tăng-kỳ, khắp làm lợi ích như cát bụi, khuếch trương phước tuệ, được sáu thứ thần thông, tṛn đầy quả Phật trong một đời. Cảnh khổ trong địa ngục, nào vạc dầu sôi, sông băng, nghe đến giác liền biến thành hương lâm (rừng hương); uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng, nghe đến giác thảy đều sanh Tịnh độ.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, tôi có một câu diệu quyết, chỉ bốn chữ Kiên Tŕ Chánh Giác. Cốt biết tín lực là Kiên, nghĩa là kiên cố không biến đổi. Niệm lực là Tŕ, nghĩa là nắm giữ lâu mấy cũng không chán. Chánh giác là tṛn sáng soi khắp, không lệch chẳng thiếu. Người hay phát Chánh giác th́ Bản tánh tự nhiên hiển lộ, tất cả vọng tâm chẳng đợi đuổi dẹp mà tự hàng phục. Ví như ánh sáng mặt trời vừa soi th́ tối tăm hết sạch. Đây tuy bốn chữ, kỳ thật chỉ một chữ Giác. Một chữ Giác này đều do Định Tuệ mà được.

Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Niệm khởi liền giác, giác nó liền không. Diệu pháp tu hành chỉ tại nơi đó. Ví như biết là giấc mộng th́ không c̣n mê.

Người biết được cái giác này, cần yếu chấn khởi tinh thần như vị tướng quân đang ở trong trận, như vị quan ṭa tại pháp đ́nh, không được dính một mảy hôn trầm.

*

Hạ thủ công phu tu thiền cần phải lập chí cho vững, lại cần “thường hằng”. Nếu không thường hằng phần nhiều đến giữa đường bỏ cuộc, hoặc được chút ít rồi tự dừng, đều là tự bỏ. Thật đáng tiếc!

*

Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ gián đoạn. Nếu siêng tu một tháng đă lên bậc Thượng thừa, chỉ có gián đoạn năm, mười ngày th́ bậc Thượng thừa kia chẳng biết ở đâu? Lại chẳng được vịn vào sự siêng năng của tháng trước mà sanh ỷ lại.

*

Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ hôn trầm tán loạn. Cái hôn trầm tán loạn này đều do chính ḿnh lập chí không vững, ḷng tin đạo không thiết tha mà đến như thế. Thật là đáng tiếc!

*

Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn tại “tự tham tự ngộ”. Dù cho thân thiết như cha con thầy bạn đều không thể thay thế được, cũng không phải như kỹ nghệ ở thế gian có thể truyền trao cho được. Ví như người khác ăn cơm th́ chỉ người ấy bụng được no, chớ bụng ḿnh vẫn đói. Đại sư Huệ Tư nói: “Nguồn đạo chẳng xa, tánh biển chẳng cách, chỉ chính ḿnh cầu, chớ từ nơi người mà t́m, t́m cũng chẳng được, dù được cũng chẳng chân.” Đây có thể gọi là cầu người chẳng bằng cầu nơi ḿnh vậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền ngày đêm hai mươi bốn giờ đều là giờ dụng công phu. Nếu canh năm ngủ thức dậy, hoặc gần sáng dậy sớm, áp dụng công phu, th́ công phu này kết quả gia bội. Cần biết, lúc trời rựng sáng là khí trời đất thanh sảng, cần phải nắm lấy, không nên thả trôi qua ngày.

*

Hạ thủ công phu tu thiền chẳng cần canh năm ngủ, canh ba dậy, chỉ sợ một ngày nóng mà mười ngày lạnh thôi.

*

Hạ thủ công phu tu thiền cần biết, ở trần thế có rất nhiều cảnh ác, như sanh già bệnh chết, lo buồn khốn khổ, dàm danh khóa lợi, gió sợ sóng hoảng, dù có chút ít vui vẻ cũng chỉ là hoa đốm giữa hư không chẳng thật, tạm thời không lâu. Cốt phải khán cho thấu triệt, mới biết Phật pháp là việc cứu ta ra khỏi biển khổ, mới là mừng rỡ vui vẻ.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, nếu được mừng rỡ vui vẻ th́ tự nhiên thay đổi dụng công, tự nhiên tinh tấn chẳng lười. Được mừng rỡ vui vẻ rồi, cần phải xem các việc khổ sở sanh già bệnh chết của người đời đều là cái gương ta chẳng dụng công, vậy tại sao dám lơ là?

*

Hạ thủ công phu tu thiền, rất sợ nói lời vô ích, chăm nom việc vô ích. Nói lời vô ích, chăm nom việc vô ích đều khiến tâm người tán loạn, tinh thần dao động, không có lợi lại có hại. Lại đem thời giờ quí báu thả trôi sông. Thật là đáng tiếc!

*

Hạ thủ công phu tu thiền, nếu khi dụng công nhiều th́ khó khỏi nhọc nhằn, cần phải đi bách bộ thong thả, đi thong thả để nuôi dưỡng tinh thần, đợi tinh thần thơ thới rồi lại khởi dụng công th́ tự nhiên sáng suốt giác ngộ. Nếu tinh tấn đến khổ nhọc lừ đừ, đă lừ đừ lại khổ nhọc dụng công, th́ không những tánh mờ tối chẳng lanh sáng, mà lại thân thể yếu đuối, bệnh tật phát sanh. Khi bệnh tật phát sanh th́ công phu hết, thế là muốn mau mà trở thành chậm.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, một ngày qua phải thấy là một ngày tinh tấn. Nếu là lơ thơ lững thững, dù trải qua trăm kiếp ngàn đời cũng không có ngày được thành công. Người xưa khi dụng công, đốt một cây hương, thấy cây hương tàn rồi, liền tự nhắc rằng: “Công phu như trước không có thêm bớt, một ngày bao nhiêu cây hương, một năm bao nhiêu cây hương? Năm tháng dễ qua, ngày giờ không đợi người, việc lớn chưa sáng, ngày nào mới xong?” Do đó, đau xót hối tiếc, lại thêm phần cố gắng. Nhà nho Châu Văn Công nói: “Chớ bảo ngày nay chẳng học c̣n có ngày mai, chớ bảo năm nay chẳng học c̣n có năm tới, ngày tháng trôi qua, năm chẳng đợi người. Than ôi! Già rồi, lỗi bởi tại ai?” Công phu tu tập Phật pháp cũng như Nho học này, chỉ hai chữ Thời Tập là thành tựu một đời, chỉ bốn chữ “Hăy đợi ngày mai” là sai lầm một đời.

*

Hạ thủ công phu tu thiền tuy không thể dừng chậm, mà cũng không thể quá gấp. Ví như người đi bộ giỏi, mỗi ngày có thể đi bộ được một trăm dặm, mà chỉ đi bộ bảy tám mươi dặm, th́ khí lực c̣n thừa, gân cốt không mỏi; nếu ỷ vào sức mạnh đi hơn trăm dặm tự nhiên phải gắng đi thật nhanh, ắt sanh mỏi mệt, th́ ngày mai không thể đi nổi. Người hạ thủ công phu thường thường sanh bệnh hoạn đều do như thế.

*

Hạ thủ công phu tu thiền nếu thân thể nhọc nhằn, cần phải dùng sức chuyển động hai vai đến trước lại sau, lên xuống vài chục lần th́ thân thể điều ḥa, huyết mạch lưu thông, tinh thần sảng khoái, chẳng sanh các bệnh. Đây là phương pháp Lộc Lô Song Quan của nhà tu dưỡng, nó cũng hay đuổi được khí lạnh.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, hoặc có người hỏi: “Chỉ lấy tham ngộ làm chủ, đâu cần bảo dưỡng thân thể?” Tôi sẽ đáp: Đây là mượn giả để tu thật. Ví như nấu trà, nếu không có ḷ lửa th́ trà đâu thể tự chín, vả lại ḷ hư lửa tắt th́ sức lạnh càng thêm. Việc nhỏ chẳng tốn bao nhiêu công, mà e việc lớn không nhất định thành, trái lại đến phí thời giờ, không kết quả. Người sáng tự hiểu đó.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, ban ngày tinh tấn không biếng trễ, chẳng cần phải nói, phàm mỗi tối dụng công chỉ hơn một canh, không cần quá lâu. Nếu người quá nửa đêm không ngủ th́ máu không trở về gan, hôm khác sanh bệnh là do tại đó. Lại có một hạng người hay mài luyện không nằm, đâu không biết công phu tu hành Phật pháp chẳng phải tại ngủ cùng không ngủ.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, đi đứng nằm ngồi đều có thể dụng công. Hoặc ngồi lâu rồi cần phải đi đứng, hoặc đi lâu rồi cần phải ngồi lại, chẳng chuyên ngồi. Có người học ngồi luôn không nằm, Lục Tổ dạy: “Sống đây ngồi chẳng nằm, chết đi nằm chẳng ngồi, chỉ một đầu xương thúi, sao lấy làm công khóa?”  Đây thật rơ ràng về lẽ ngồi nằm vậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền tối yếu phải phá tâm sanh tử cứng chắc, xem xét thế giới thân tâm đều là giả duyên không thật. Nếu không phát minh được đại sự sẵn đủ của ḿnh, th́ tâm sanh tử không thể phá. Tâm sanh tử đă không phá được, th́ con quỉ vô thường niệm niệm chẳng dừng làm sao đuổi được. Phải lấy một niệm này làm ḥn gạch gơ cửa. Ví như đang ngồi trong đống lửa lớn cố t́m lối thoát ra, chạy quanh một bước cũng không được, dừng lại một bước cũng không được, sanh một niệm khác cũng không được, trông người khác cứu cũng không được. Chính khi ấy, cần phải chẳng ngại lửa mạnh, chẳng kể thân mạng, chẳng trông người cứu, chẳng sanh niệm khác, chẳng chịu tạm dừng, nhắm trước chạy thẳng, chạy ra rồi mới là người giỏi.

*

Hạ thủ công phu tu thiền cần lấy một chữ Tử dán ở trên trán, xem thân thể máu thịt này như đă chết đi, chỉ cốt thấu rơ một niệm. Một niệm hiện tiền, như được cây Ỷ Thiên trường kiếm, nếu chạm mũi nhọn của nó không thể được, nếu cà nhám cọ lụt th́ kiếm ấy bỏ đi vậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ say mê cảnh tịnh, nó khiến người ch́m chỗ khô lặng mà không biết. Cốt hiểu rằng cảnh động nhiều người chán, cảnh tịnh đa số không sanh chán. Bởi v́ người đời một bề ở chỗ ồn náo, nên thích hợp với cảnh tịnh, như ăn kẹo ăn đường, như người mệt lâu thích ngủ, tự nhiên tham trước mà không tự biết, cần phải mau mau phá dẹp.

Ngoại đạo dạy người khiến thân tâm đoạn diệt hóa thành cây khô tro lạnh, cũng từ nơi tịnh cảnh mà vào. Nếu lâu năm chầy tháng, khô lại càng khô, lặng lại càng lặng, sa vào chỗ không biết, th́ cùng cây khô tro lạnh khác ǵ? Người hạ thủ công phu ở chỗ cảnh tịnh, cốt để phát minh một đoạn đại sự ở trong y áo của ḿnh mà lâu rồi không biết, nay nhờ ở cảnh tịnh mới được. Cái đại sự đó t́m nơi tướng tịnh trọn không thể được, thế mới là được vậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền, thiết yếu tại định tuệ. Cần biết, định với tuệ như đồng một vật bên trong và bên ngoài, là hai mà không phải hai, chia rời không được. Khi định sanh th́ hôn trầm cũng theo đó mà sanh, nếu hôn trầm sanh th́ định mất. Khi tuệ sanh th́ tán loạn cũng theo đó mà sanh, nếu tán loạn sanh th́ tuệ mất. Ta có diệu pháp điều trị, cần phải định lóng sáng th́ định với tuệ mới thành công. Cần phải tuệ an tường, th́ tuệ với định mới thành công. Hai cái này ĺa nó không được, hợp cũng không được, lẫn nhau thành một mới thật là diệu pháp. Khéo biết pháp này th́ thành đạo không khó.

Người cầu minh tâm kiến tánh, thành Phật thành Tổ, chỉ ở trên định tuệ dụng công. Biết được cái diệu của định tuệ th́ dễ như trở bàn tay, bằng không biết cái diệu của định tuệ th́ khó như lên trời. Khó hay dễ đều tại chính ḿnh đảm đang lấy.

Định là thể của tuệ, tuệ là dụng của định. Ví như ngọn đèn với ánh sáng, ngọn đèn là thể của ánh sáng, ánh sáng là dụng của ngọn đèn. Hai cái đều lẫn nhau hiển bày, không nên thiên trọng một cái.

Chính khi tuệ th́ định ở trong tuệ, chính khi định th́ tuệ ở trong định. Tên tuy có hai, thể vốn không khác. Chỉ có định mà không tuệ liền theo đó bị hôn trầm, chỉ có tuệ mà không định liền theo đó bị tán loạn. Cần phải gồm hai, không thể chia rời.

Ở đoạn trên, tôi nói phương pháp điều trị định tuệ đă xong, vẫn c̣n ngại có người chưa rơ. Giờ đây, tôi giải lại cho rơ. Tôi gọi hôn trầm tức người đời gọi là vô kư. Tôi gọi tán loạn tức người đời gọi là vọng tưởng. Cần biết định th́ phần nhiều hay sanh vô kư, tuệ th́ phần nhiều hay sanh vọng tưởng. Định tuy hay trị vọng tưởng mà trở lại sanh vô kư. Tuệ tuy hay trị vô kư mà trở lại sanh vọng tưởng. Ngày nay thực tập công phu, chỉ cần định có tuệ, cốt đừng nhập cái định hôn trầm vô kư; chỉ cần tuệ có định, cốt đừng nhập cái tuệ tán loạn vọng tưởng. Là hai mà chẳng hai, định tuệ dung ḥa, th́ công phu mới tăng trưởng.

Đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai truyền diệu pháp Chỉ Quán. Nghĩa là chỉ mà quán đó, tịnh mà minh đó, khiến động mà được tịnh, tịnh mà được sáng. Sáng th́ chiếu, chiếu th́ một vậy. Đây thật là chỉ đường giác cho quần sanh. Cốt nên biết, tôi nói pháp định tuệ là Đại sư nói pháp Chỉ Quán, đâu cần ǵ cầu Phật pháp khác.

Người khi rời bỏ cuộc đời, nếu có công phu định tuệ, ắt được lên thế giới Cực Lạc. Diệu pháp này lúc b́nh nhật cần phải tập cho thuần thục. Bậc minh triết nói: “Người đời trọn ngày hôn tán, khi sắp chết làm sao được định tuệ. Người học đạo trọn ngày định tuệ, khi sắp chết đâu thể hôn tán.” Nếu đợi khát nước mới đào giếng th́ đâu cứu được!

*

Hạ thủ công phu tu thiền rất khẩn yếu ở một chữ Thiết. Chữ Thiết rất có sức mạnh. Nếu chẳng Thiết th́ lười biếng sanh. Lười biếng sanh th́ buông lung phóng ư không chỗ nào chẳng đến. Nếu thật dụng tâm chân thiết th́ buông lung lười biếng do đâu được sanh. Nên biết, một chữ Thiết nếu hay dán dính trên thân th́ khỏi lo tâm sanh tử chẳng phá, khỏi lo chẳng đến địa vị Phật Tổ. Bỏ chữ Thiết này riêng cầu Phật pháp, đều là si cuồng ngoại đạo.

Một chữ Thiết là lời rất thân thiết, như dụng tâm thân thiết th́ không kẽ hở, do đó các thứ tà ma không thể xâm nhập. Như dụng tâm thân thiết tự nhiên không sanh suy tính, có niệm không gián cách th́ chẳng rơi vào ngoại đạo.

Một chữ Thiết đâu những ĺa lỗi, liền đó vượt khỏi ba tánh thiện, ác, vô kư. Một câu thoại đầu dụng tâm thậm thiết th́ không nghĩ thiện, dụng tâm thậm thiết th́ không nghĩ ác, dụng tâm thậm thiết th́ không rơi vào vô kư. Thoại đầu thiết th́ không trạo cử, thoại đầu thiết th́ không hôn trầm. Chỉ cốt chánh giác hiện tiền th́ các ma tự lui, chánh giác phi thiết chẳng sanh.

*

Hạ thủ công phu tu thiền chẳng sợ chết không được sống, chỉ sợ sống không được chết. Nếu thật nghi t́nh kết tụ ở một chỗ, cảnh động chẳng đợi đuổi mà tự đi, vọng tâm chẳng đợi tịnh mà tự tịnh, sáu căn ở ngoài cửa tự nhiên rỗng suốt hết, ra dấu liền đến, gọi lên liền đáp, lo ǵ chẳng sống?

*

Hạ thủ công phu tu thiền cốt phải ngay thẳng cao vót, chẳng gần nhân t́nh. Nếu đáp ứng theo t́nh cảm th́ thực hành công phu chẳng tiến. Không những chẳng tiến mà lâu ngày chầy tháng sẽ trôi theo thế tục, rất là đáng tiếc! Ví như chính ḿnh bận việc th́ đâu thể có công coi sóc việc người. Ngay thẳng cao vót chính là Chánh đẳng Chánh giác.

*

Hạ thủ công phu tu thiền điều thứ nhất là Chánh giác. Chánh giác là phút giây nào cũng chiếu soi lại cái linh minh của chính ḿnh, không thể buông nó chạy đi. Nếu cái linh minh đi rồi, th́ thân này chỉ là cái thây chết có hơi thở. Lại là hôn trầm không niệm, rơi vào ngoan không khô lặng. Tuy là vận dụng công phu khổ nhọc mà không có mảy may lợi ích.

*

Hạ thủ công phu tu thiền tu tập được tiến lên, như người gánh nặng ngàn cân, buông cũng chẳng rớt, giống như người t́m một vật quan trọng bị rơi mất, nếu t́m không được thề chẳng thôi nghỉ. Trong đó chỉ không nên sanh chấp trước tính toán. Nếu chấp th́ thành bệnh, trước th́ thành ma, tính toán th́ thành ngoại đạo. Thật được nhất tâm nhất ư, giống hệt người t́m vật đă mất th́ ba thứ (chấp, trước và tính toán) vỡ tan không c̣n dính mắc. Nên nói, sanh tâm động niệm đều trái với pháp thể.

*

Hạ thủ công phu tu thiền khi đề khởi thoại đầu cốt phải rơ ràng sáng sủa, giống in như con mèo ŕnh chụp chuột. Người xưa nói: “Chẳng chém được đứa mọi thề không thôi.” Nếu chẳng vậy,  là ngồi trong nhà quỉ, mờ mờ mịt mịt, qua rồi một đời, có chỗ nào lợi ích?

Mèo ŕnh chuột mở tṛn đôi mắt, bốn chân chực sẵn, chỉ cốt chụp chuột đến miệng mới được, dù có gà chó ở bên cạnh đều không để mắt ngó. Người tham thiền cũng như thế, chỉ là chăm chú cốt suốt lư này, dù có tám cảnh xen lẫn ở trước cũng không để mắt nh́n, vừa có niệm khác, chẳng những không bắt được chuột, mà mèo cũng chạy mất.

*

Hạ thủ công phu tu thiền không nên ở trên công án của tiền nhân mà suy nghĩ, thêm sự giải thích. Dù mỗi mỗi hiểu qua cùng với chính ḿnh cũng không dính dáng ǵ. Cần yếu biết mỗi câu mỗi lời của tiền nhân như đống lửa lớn, gần nó không được, xúc chạm cũng không được, huống là ngồi nằm trong ấy, lại ở trong đó phân lớn phân nhỏ, nói trên nói dưới, th́ có chỗ nào lợi ích?

Việc ấy không cùng giáo lư hợp, do đó những vị tu tập Đại thừa đă lâu, vẫn không hiểu không biết, huống là các hàng Tiểu thừa Thanh văn Duyên giác? Bậc Tam hiền Thập thánh đâu không thông giáo lư, mà nghe nói một việc này, Tam thừa c̣n tan mật, Thập thánh phải kinh hồn. Bậc Bồ-tát Đẳng giác thuyết pháp như mây như mưa, độ chúng sanh không thể nghĩ bàn vào vô sanh pháp nhẫn, vẫn gọi là sở tri ngu, cùng đạo c̣n trái, huống là những bậc khác? Bởi v́ việc này từ chỗ phàm phu chóng đồng Phật thể, người thật khó tin. Người tin được là hàng pháp khí, người không tin chẳng phải pháp khí. Những người tu hành muốn vào Tông thừa này ắt từ tin mà vào.

Một chữ Tin có cạn có sâu, có tà có chánh, không thể không biện biệt. Phàm vào pháp môn có ai mà nói chẳng tin. Nhưng, chỉ tin pháp môn mà không tin tâm ḿnh là tin cạn. Các hạng Bồ-tát Đại thừa c̣n chẳng đủ ḷng tin, như kinh Hoa Nghiêm sớ nói: “Thấy có người hay nói pháp, có chúng nghe pháp, c̣n chưa vào cửa tin.” Như nói tức tâm tức Phật th́ ai bảo là chẳng tin. Song, nếu có người hỏi “ông là Phật chăng” liền bị phá dẹp không thể thừa đương. Kinh Pháp Hoa nói: “Tột nghĩ chung suy xét, không thể lường trí Phật.” Sở dĩ có tâm tột nghĩ xét, là do ḷng tin chẳng đủ vậy. Có đủ ḷng tin này là tin sâu.

Tin tâm ḿnh tức là Phật, gọi là tin chánh. Ngoài tâm chấp pháp, gọi là tin tà. Tin tức tâm là Phật, cốt phải thấu rơ tâm ḿnh, bước đi trên đất thật ấy đến chỗ chẳng nghi, mới gọi là tin chánh. Mù mờ ngờ vực bướng nói tâm tức là Phật mà thật không biết Tự tâm, tức là tin tà.

Người xưa hái rau gánh củi vẫn định, cuốc đất cày ruộng vẫn định, khi làm công kia việc nọ vẫn định, đâu phải ngồi lâu kềm vững khiến tâm chẳng khởi, nhiên hậu mới là định. Nếu như thế, gọi là định tà, không phải chánh ư của Phật pháp.

Lục Tổ bảo: “Na-già thường tại định, không lúc nào chẳng định.” Phải thấy tột Bản thể mới tương ưng với định này. Đức Thích-ca từ Đâu-suất hạ sanh, giáng thần trong hoàng cung, vào núi Tuyết, thấy sao Mai mọc, mở đường dạy chúng, chưa từng ra khỏi định này. Nếu chẳng vậy, đă bị cảnh động lôi cuốn, đâu gọi là định. Trong cảnh động t́m chỗ khởi không có, trong cảnh tịnh t́m chỗ khởi cũng chẳng có. Cảnh động đă không chỗ khởi th́ lấy cái ǵ làm cảnh? Hội được ư này thảy đều là một thể định, đầy dẫy tràn trề, không dư không che đậy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền không nên dính mắc thế pháp. Trong Phật pháp c̣n không dính một điểm, huống là thế pháp. Nếu thoại đầu hiện tiền chân chánh th́ giẫm xuống nước chẳng thấy lạnh, chạm vào lửa chẳng biết nóng, trong rừng gai chông nằm ngang đi thẳng chẳng thấy chướng ngại. Được vậy, mới có thể ở trong thế pháp đi ngang chạy dọc. Bằng không, hoàn toàn bị cảnh duyên lôi cuốn, dù muốn được công phu thành một khối, trải nhiều năm cũng không thể được.

*

Hạ thủ công phu tu thiền không nên tầm văn trục cú ghi lời nhớ câu, không những vô ích mà c̣n làm chướng ngại công phu. Nắm công phu chân thật mà trở thành duyên lự.

*

Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ so sánh, đem tâm tính toán, cùng đạo trái xa, dù thực hành đến Phật Di-lặc ra đời vẫn không dính dáng. Nếu là người nguyện phát nghi t́nh, dù sự vật đầy bít hư không vẫn không biết có danh tự hư không, như ngồi trong núi bạc vách sắt, chỉ cầu được con đường sống. Nếu không được con đường sống, th́ làm sao được an ổn. Chỉ thực hành công phu như thế, thời tiết đến tự nhiên có thành.

Gần đây, có một số tà sư dạy người, không do cố gắng dụng công. Lại nói: “Cổ nhân chưa từng dụng công phu.” Lời nói này rất độc, làm mê lầm kẻ hậu học, sẽ vào địa ngục vậy.

Thiền sư Đại Nghĩa làm bài minh Tọa thiền nói:

Chớ tin rằng đạo chẳng cần tham,
Thánh trước chăm chăm làm chỉ nam.
Dù rằng gác cũ nhàn điền địa,
Một phen gầy dựng thật gian nan.

Nếu chẳng cần tham cứu mà bảo được lư, đây là Di-lặc trời sanh, Thích-ca tự nhiên. Bọn này thật là đáng thương xót vậy. Bởi v́ tự họ chẳng hiểu tham cứu, hoặc thấy người xưa một hỏi một đáp liền lănh ngộ, bèn đem cái hiểu biết của t́nh thức để giải thích, là dối gạt người. Hoặc bị cơn bệnh ngặt, liền kêu la om ṣm, những cái hiểu lúc đương thời đem dùng không được. Hoặc đến lúc sắp chết, như con cua bỏ vào chảo nước sôi, tay chân rối loạn, bấy giờ hối hận chẳng kịp.

Thiền sư Hoàng Bá nói:

Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

Lời này thật rất thân thiết. Nếu đem bài kệ này luôn luôn cảnh sách công phu th́ tự nhiên thực hành được tiến bộ. Như người đi con đường trăm dặm, đi một bước là gần một bước, không đi th́ đứng nguyên chỗ cũ. Dù người ấy nói được sự nghiệp ở quê hương rơ ràng rành rẽ, trọn không đến nhà, làm sao được việc lớn ấy.

*

Hạ thủ công phu tu thiền rấ